Giải pháp đẩy mạnh cho vay tiêu dùng tại chi nhánh Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm – TP. Hà Nội. - Pdf 26

Đại học Kinh tế Quốc dân 1 Chuyên đề tốt nghiệp
Lời mở đầu
Đất nước ta đã mở cửa đón những luồng gió mới để tìm ra các cơ hội và sẵn
sàng đương đầu với những thách thức. Chúng ta đã có những thành công bước đầu,
tuy nhiên để hội nhập sâu và rộng thì cả đất nước nói chung và từng bộ phận nói
riêng cần tìm ra chiến lược phù hợp trong từng thời điểm để tồn tại và phát triển.
Với tư cách là trung gian tài chính quan trọng bậc nhất có vai trò quan trọng
trong việc lưu chuyển vốn giữa các thành phần trong nền kinh tế, Ngân hàng
thương mại luôn được xem là trụ cột, là huyết quản của nền kinh tế. Các ngân hàng
hiện nay đang đứng trước một thực tế là có cung trong tay nhưng cầu có khả năng
thanh toán thì hạn chế và cùng với đó là cường độ cạnh tranh trong ngành Ngân
hàng ngày càng gay gắt, vì thế đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng trên cơ sở chuyên
môn hóa là một bước đi đúng của các ngân hàng thương mại trong thời gian tới.
"Cho vay tiêu dùng" cách đây khoảng 20 mươi năm về trước còn là khái
niệm "khá mới" đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam,
nhưng chỉ một vài năm trở lại đây, hoạt động cho vay tiêu dùng đã trở thành mục
tiêu của nhiều TCTD, nhất là các TCTD ngoài nhà nước. Cùng với sự phát triển
mạnh mẽ của nền kinh tế, đời sống của nhân dân đã được cải thiện đáng kể, nhu
cầu chi tiêu phục vụ đời sống ngày càng cao, đó là điều kiện thuận lợi cho hoạt
động ngân hàng nói chung, lĩnh vực cho vay tiêu dùng nói riêng phát triển. Nếu
như ở các nước phát triển, tỷ trọng cho vay tiêu dùng thường chiếm khoảng từ 40%
đến 50% trên tổng dư nợ, thì tỷ lệ này của các TCTD Việt Nam hiện chỉ chiếm tỷ
trọng < 10% trên tổng dự nợ tín dụng. Qua đó cho thấy, với tốc độ phát triển kinh
tế mạnh mẽ như hiện nay và với số dân trên 82 triệu người đang mở ra thị trường
cho vay tiêu dùng vô cùng rộng lớn và đầy tiềm năng.
Với kiến thức đã học tại nhà trường cùng với một thời gian thực tập tại chi
nhánh Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm và thấy được tiềm năng trong việc nên
phát triển mạnh dịch vụ cho vay tiêu dùng, em mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
Giải pháp đẩy mạnh cho vay tiêu dùng tại chi nhánh Ngân hàng
Công thương Hoàn Kiếm – TP. Hà Nội.
Nội dung đề tài gồm 3 phần:

• Cùng với sự phát triển khởi sắc của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ
đổi mới, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng công thưong Việt Nam đã có
những bước phát triển khả quan, đã thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu kế
hoạch tín dụng, huy động vốn, lợi nhuận, trích lập dự phòng rủi ro.
• 19 năm xây dựng và trưởng thành, NHCT VN đã vượt qua nhiều khó
khăn, thử thách, đi tiên phong trong cơ chế thị trường, phục vụ và góp phần
tích cực thực hiện đường lối, chính sách mới của Đảng và Nhà nước; không
ngừng phấn đấu vươn lên, khẳng định là một trong những NHTM hàng đầu ở
Việt Nam; có bước phát triển và tăng trưởng nhanh, đạt được nhiều thành tựu
to lớn trên mọi mặt hoạt động kinh doanh - dịch vụ ngân hàng...
• Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, phát triển đất nước đến
năm 2010, chủ trương tiếp tục đổi mới hoàn thiện hệ thống tài chính – ngân
hàng và đề án cơ cấu lại NHCT VN giai đoạn 2001-2010, mục tiêu phát triển
của NHCT VN đến năm 2010 là : Xây dựng NHCT VN thành một NHTM chủ
lực và hiện đại của Nhà nước, hoạt động kinh doanh có hiệu quả, tài chính
lành mạnh, có kỹ thuật công nghệ cao, kinh doanh đa năng, chiếm thị phần
lớn ở Việt Nam.
2. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng công thương
Hoàn Kiếm
• Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm (NHCT HK) là chi nhánh của NHCT
VN,có trụ sở đặt tại 37 Hàng Bồ, Quận Hoàn Kiếm – Tp Hà Nội.
• Do NHCT HK là 1 chi nhánh của NHCT VN nên bên việc thực hiện đầy đủ
các chức năng của 1 chi nhánh thì ngoài ra NHCT HK còn thực hiện các hoạt
động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ như một Ngân hàng thương mại.
• NHCT HK là 1 đơn vị hạch toán phụ thuộc vào NHCT VN, nhưng có quyền
tự chủ kinh doanh, có con dấu riêng và được mở tài khoản giao dịch tại
NHNN cũng như các tổ chức tín dụng khác trong cả nước, kể từ khi thành lập
đến nay, NHCT HK đã và đang hoạt động kinh doanh trên cơ sở tự kinh
doanh, tự bù đắp và có lãi.
• Trải qua quá trình hoạt động trong những năm qua, NHCT HK đã hòa nhập

 Phòng kế toán tài chính
 Phòng tổng hợp
 Phòng quản lý rủi ro
 Phòng khách hàng doanh nghiệp
lớn
 Phòng khách hàng số
2(DNV&N)
 Phòng khách hàng cá nhân
 Phòng thanh toán xuất nhập
khẩu.
 Phòng kế toán giao dịch
 Tổ quản lý nợ có vấn đề.
1.3.2 Các dịch vụ ngân hàng tài chính tại NHCT HK:
 Mở tài khoản tiền gửi doanh nghiệp và cá nhân.
 Nhận tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ.
 Tín dụng.
 Tài trợ thương mại.
 Thanh toán trong nước và quốc tế.
 Chuyển kiều hối.
 Dịch vụ thẻ.
 Mua bán ngoại tệ.
 Dịch vụ chuyển tiền nhanh.
 Dịch vụ chi trả tiền lương.
 Dịch vụ ngân quỹ.
 Dịch vụ bảo hiểm.
 Dịch vụ tư vấn tài chính.
1.3.3 Mạng lưới giao dịch tại NHCTHK - Hà Nội
−Điểm giao dịch Khách hàng cá nhân 49 Hàng Bồ - Hoàn Kiếm.
−Phòng Giao dịch Đồng Xuân 19 – 21 Cầu Đông.
−Điểm giao dịch số 5: 36 Hàng Mắm – Hoàn Kiếm.

thống, lập thêm quĩ tiết kiệm tại các khu vực tiềm năng nên nguồn vốn huy động
của Chi nhánh không ngừng được tăng lên, cơ cấu vốn được cải thiện theo hướng
tích cực, thông qua bảng :
Bảng 1.1: Cơ cấu nguồn vốn huy động
Đơn vị: triệu đồng
STT Chỉ tiêu Năm 2002 Năm2003 Năm 2004 Năm2005 Năm2006
Nguồn vốn 2,218,750 2,485,000 2,733,500 2,761,000 4,546,800
1
Tiền gửi
doanh nghiệp
1,647,200 1,690,000 1,922,600 1,826,000 2,259,000
2 Tiền gửi dân cư 571,550 795,000 810,900 935,000 953,700
3
Tiền gửi không
kỳ hạn
510,313 521,850 820,050 423,000 836,700
4
Tiền gửi có
kỳ hạn
1,708,438 1,963,150 1,913,450 2,338,000 2,276,800
( Nguồn : Phòng tổng hợp )
Bảng trên cho thấy tình hình huy động vốn của NHCT HK qua các năm gần
đây :
- Tổng nguồn vốn huy động tăng dần qua các năm và đặc biệt là năm 2006
vừa qua tốc độ huy động vốn tăng 64,679 % so với năm 2005.
- Cơ cấu vốn cũng thể hiện hình thức huy động vốn từ Ngân hàng đối với các
doanh nghiệp và hình thức tiền gửi có kỳ hạn vẫn thu hút được nhiều nguồn
vốn đối với hoạt động huy động vốn của NHCT HK.
Đại học Kinh tế Quốc dân 9 Chuyên đề tốt nghiệp
1.4.2 Hoạt động tín dụng

Dư nợ trung dài hạn 30,000 38,000 15,000
( Nguồn : Phòng tổng hợp)
Theo số liệu trong bảng 1.2, ta thấy:
- Dư nợ cho vay liên tục tăng qua các năm vừa qua, trong đó cơ cấu dư nợ
chuyển dịch theo chiều hướng trung và dài hạn.
- Xét về cơ cấu dư nợ cho vay đối với loại hình doanh nghiệp thì cho vay đối
với doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng chiếm tỷ trọng đáng kể và ngày càng
được ngân hàng trú trọng.
- Tỷ trọng của hình thức cho vay bằng ngoại tệ/hình thức cho vay bằng VND
của năm 2006 so với năm 2005 có xu hướng tăng cho thấy NHCT HK đã và đang
chú trọng hơn về hình thức cho vay bằng ngoại tệ để đảm bảo hiệu quả trong cơ
cấu hình thức cho vay.
- Xu hướng cho vay tín dụng đối với DNV&N trong các năm gần đây đã được
ngân hàng chú trọng.
1.4. 3 Hoạt động dịch vụ
Mở cửa và hội nhập đang tạo ra cơ hội và thách thức mới cho các tổ chức
kinh tế. Chính vì thế hoạt động dịch vụ sẽ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong thu
nhập của các ngân hàng. Kinh nghiệm cho thấy phát triển dịch vụ vừa mang lại thu
nhập an toàn, vừa là biện pháp hữu hiệu để hỗ trợ cho các sản phẩm chính, quảng
bá cho ngân hàng, thu hút khách hàng. Nhận thức được điều đó, trong thời gian
qua chi nhánh đã luôn chú trọng mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ và đã đạt
được những kết quả:
Bảng 1.3 : Kết quả hoạt động dịch vụ
Chỉ tiêu Đơn vị 2002 2003 2004 2005 2006
1 DS TT XNK Tr USD 80 66 70 50 70
2 DS mua bán ngoại tệ Tr USD 75 80 108 100 195
3 DS dịch vụ ngoại hối Tr USD 1 1.6 2.7 6.0 5.0
4 DS TT trong nước Tỷ VND 19,132 24,283 27,360 32,600 31,500
5 Thu dịch vụ 2,910 3,200 3,000 3,000 3,043
( Nguồn: Phòng tổng hợp)

dạn ứng dụng công nghệ thông tin vào các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, góp phần
quan trọng nâng cao chất lượng dịch vụ, rút ngắn thời gian giao dịch và thời gian
xử lý chứng từ.
1.4.6 Các hoạt động khác.
Công tác kiểm tra nội bộ được thực hiện thường xuyên, liên tục theo định kì hoặc
đôtj xuất nhằm phát hiện, chấn chỉnh kịp thời những thiếu sót trong tất cả các
nghiệp vụ. Cán bộ phòng kiểm tra đã cố gắng làm việc tích cực bằng khả năng của
mình để hoàn thành nhiệm vụ. Đặc biệt trong năm vừa qua, phòng kiểm tra đã tiến
hành kiểm tra 100% hồ sơ khách hàng vay vốn, kiểm tra nghiệp vụ kế toán, tiết
kiệm và kiểm tra tình hình chi tiêu nội bộ.Công tác kiểm tra góp phần đưa các hoạt
động thực hiện đúng chế độ, an toàn.
Công tác tổ chức nhân sự, tiền lương đã đi trước một bước trong bố trí sắp
xếp cán bộ hợp lý, phân nhiệm vụ theo đúng qui định của ngành, phân chia công
bằng lợi ích…tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động kinh doanh phát triển có hiệu
quả. Trong năm, chi nhánh đã thực hiện tốt việc cơ cấu lại bộ máy tổ chức hoạt
động kinh doanh theo mô hình mới, các phòng ban được chia tách đã nhanh chóng
ồn định và đi vào hoạt động bình thường.Công tác bổ nhiệm cán bộ thực hiện theo
đúng qui định, tạo được niềm tin vớiCBCNV.
Công tác hạch toán thu chi nội bộ được thực hiện kịp thời, chính xác, đúng
qui chế tài chính. Qua các đợt kiểm tra của NHNN, NHCTVN, Chi cục thuế Hà
Nội, chi nhánh luôn được đánh giá là đơn vị chấp hành tốt chế độ hạch toán kế
toán của Nhà nước.
Đại học Kinh tế Quốc dân 13 Chuyên đề tốt nghiệp
Thực hiện chương trình hiện đại hóa: Là một trong số ít những chi nhánh
được NHCT VN lựa chọn hình thức thực hiện thí điểm dự án hiện đại hóa,
CBCNV chi nhánh không quản ngày đêm, vượt qua gian khổ, khó khăn để hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ, vừa đảm bảo tiến độ của dự án mà không làm ảnh hưởng
đến khách hàng, đảm bảo an toàn cao trong quá trình chuyển đổi hệ thống.
Tổ chức nghiên cứu khoa học: Trong năm chi nhánh đã tổ chức nghiên cứu
ba đề tài cấp sở, bước đầu đã mang lại hiệu quả thiết thực và tạo điều kiện để mở

( Nguồn : Ngân hàng nhà nước)
Vậy tại sao lại vậy? Đó có phải thể hiện xu hướng trong cấu trúc ngành ngân
hàng trong thời gian tới? Để trả lời ta đi vào phân tích:
 Thứ nhất, hiện nay các NHTMNN là nhóm ngân hàng chiếm thị phần
huy động vốn và cho vay lớn nhất trong hệ thống NHVN là do yếu tố lịch sử và
vừa qua nhóm ngân hàng này đã có được sự cải thiện về năng lực tài chính ( tăng
vốn điều lệ, nâng cao chất lượng tài sản có), hiện đại hóa công nghệ và mở rộng
mạng lưới kênh phân phối. Nhìn chung, các NHTMNN có những lợi thế cạnh tranh
Đại học Kinh tế Quốc dân 15 Chuyên đề tốt nghiệp
quan trọng như khả năng cung cấp dịch vụ với mức chênh lệch lãi suất thấp, có
mạng lưới phát triển rộng khắp, chưa phải tuân thủ các qui định về an toàn vốn và
được Chính phủ bảo đảm hoàn toàn về khả năng thanh toán.Vì vậy, mặc dù giữ vai
trò chi phối trong hệ thống ngân hàng nhưng chính những yếu kém về quản trị điều
hành, chất lượng tài sản, hiệu quả kinh doanh, quản lý chi phí và mức độ an toàn
đã khiến các ngân hàng thương mại trở thành nhóm đối tượng dễ bị tổn thương
nhất và có khả năng gây ảnh hưởng lớn đến an toàn hệ thống ngân hàng trong bối
cảnh thực hiện các cam kết WTO.
 Thứ hai, nhóm các NHTMCP đang nổi lên nhanh chóng thông qua
tăng vốn điều lệ ( mức tối thiểu 1000 tỷ đồng đến năm 2008 và 3000 tỷ đồng
( tương đương với NHTMNN) đến năm 2010), tăng cường mở rộng chi nhánh để
chiếm lĩnh thị trường và khách hàng trước khi các TCTD nước ngoài ồ ạt thâm
nhập theo thỏa thuân WTO. Đây là nhóm ngân hàng rất năng động trong phát triển
sản phẩm, khả năng thích ứng nhanh và điều chỉnh chiến lược kinh doanh linh hoạt
theo thay đổi thị trường.
 Thứ ba, nhóm chi nhánh của các TCTD nước ngoài thâm nhập vào thị
trường Việt Nam với những ưu thế về vốn, công nghệ, sản phẩm và dịch vụ vì thế
có thể thâm nhập sâu vào thị trường. Tuy nhiên trong thời gian một vài năm tới thì
vẫn còn một số hạn chế làm khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng của các TCTD
nước ngoài là:
o Hạn chế về huy động vốn VND

cách toàn diện các
NHTMNN
Kịch bản 3: Tư nhân hóa
nhanh chóng và toàn diện
các NHTMNN
NHTMNN 59% 35% 0%
NHTMCP 27% 45% 50%
NH nước ngoài 14% 20% 50%
Đại học Kinh tế Quốc dân 17 Chuyên đề tốt nghiệp
100% 100% 100%
(Nguồn: Tạp chí ngân hàng số 1 – tháng 1- năm 2007 ( trang 23))
Cũng theo kết quả điều tra của nhóm tư vấn trên đến năm 2010 thì thị phần của các
NHTMNN dự kiến 40-50%, NHTMCP khoảng 30% và phần còn lại thuộc về các
ngân hàng nước ngoài và liên doanh. (Nguồn: Tạp chí ngân hàng số 1 – tháng 1-
năm 2007 ( trang 23)).
Như vậy, cường độ cạnh tranh trong ngành Ngân hàng thời gian tới sẽ ngày
càng gay gắt và cho vay tiêu dùng cũng sẽ là tâm điểm của sự cạnh tranh này.
2.1.2. Xu hướng cho vay tiêu dùng tại Việt Nam
Đẩy mạnh tín dụng tiêu dùng là xu hướng tất yếu, là điều kiện khách quan
trong điều kiện nền kinh tế thị trường, song đồng thời đó cũng là chiến lược, là
mục tiêu và là thị trường đầy tiềm năng của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Có thể nói trong hơn 10 năm trở lại đây Việt Nam là nước có nền kinh tế đang phát
triển với tốc độ rất cao, cao nhất khu vực Đông Nam á. Trong 5 năm (2001 – 2005)
GDP đạt bình quân 7,5%, thu nhập bình quân đầu người hàng năm tăng dần, từ 415
USD năm 2001 lên 638 USD năm 2005 vì thế đời sống nhân dân ngày càng được
cải thiện mạnh mẽ. Sự thay đổi mạnh mẽ của môi trường kinh tế vĩ mô ( bảng 2.2)
đã tạo ra nhiều biến chuyển về chất lượng tiêu dùng và khả năng tích luỹ của dân
chúng.
Bảng 2.2: Tình hình kinh tế vĩ mô
2002 2003 2004 2005

công việc trọng đại trong đời người. Do vậy, để chuẩn bị làm các việc trên họ cần
một khoảng thời gian nhất định có thể hàng chục năm để tích luỹ nguồn tài chính
và các điều kiện khác, trường hợp nếu họ còn thiếu nguồn tài chính thì chủ yếu là
vay của người thân hoặc bạn bè rất ít vay tiền từ ngân hàng. Vần đề này xuất phát
từ thói quen ngại vay mượn của người Việt Nam, song cũng một phần do thị
trường tài chính chưa phát triển đã làm hạn chế mục đích vay tiền của nhân dân.
Trong 5 năm trở lại đây, các dịch vụ tiện ích của ngân hàng đã phát triển với tốc độ
khá cao, đã tạo điều kiện cho người dân rễ ràng hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn
từ ngân hàng để hoạt động sản suất kinh doanh cũng như nhu cầu cải thiện cuộc
sống. Các ngân hàng đang hướng tới cung cấp dịch bán lẻ để đáp ứng nhu cầu của
cá nhân và các hộ gia đình. Trong đó việc cho vay với mục đích mua, xây dựng
hoặc sửa chữa lớn nhà ở đã có rất nhiều ngân hàng triển khai thực hiện như ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (AgriBank), ngân hàng phát
triển nhà đồng bằng sông Cửu Long (MHB), ngân hàng thương mại cổ phần á
Châu (ACB), ngân hàng Nhà Hà Nội (HabuBank), ngân hàng Nhà TP HCM
(HHB), ngân hàng Sài Gòn Thương tín (SacomBank), ngân hàng kỹ thương
(TechcomBank)…và một số ngân hàng thương mại lớn đang chuẩn bị bước vào
lĩnh vực này như ngân hàng ngoại thương Việt Nam (VietcomBank), ngân hàng
công thương Việt Nam (IncomBank)… Tuy nhiên, các khoản cho vay để mua, xây
dựng hoặc sửa chữa lớn về nhà ở trong thời gian vừa qua chủ yếu là triển khai thực
hiện chính sách của nhà nước chiếm tỷ trọng lớn, riêng AgriBank đã chiếm khoảng
86% các khoản vay liên quan đến nhà ở. Vì vậy, thị trường cho vay có liên quan
đến nhà ở còn rất lớn, trong đó nhu cầu về nhà ở khu vực đô thị là rất cấp bách.
Theo quy hoạch tổng thể định hướng cho phát triển đô thị đến năm 2020 thì dân số
đô thị sẽ chiếm khoảng 45% dân số cả nước, như vậy sức ép về nhà ở càng lớn,
nhất là 2 thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, để mở rộng
cho vay lĩnh vực này, các ngân hàng thương mại cần tổ chức các cuộc điều tra xã
hội rộng rãi để nắm bắt nhu cầu thực sự của người dân, từ đó xây dựng chiến lược
khách hàng và đề ra các giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay về lĩnh vực nhà ở.
Hai là, cho vay qua thẻ: Thị trường thẻ ở Việt Nam đang phát triển với tốc độ có

trường hợp được vay với thời hạn từ 5 năm trở lên không nhiều. Thực tế trong
những năm qua cho thấy, khi các ngân hàng thương mại tiến hành triển khai cho
vay tiêu dùng, số lượng khách hàng có nhu cầu đến ngân hàng để liên hệ vay đã
vượt mức dự đoán của các ngân hàng, hầu hết các ngân hàng đều quá tải. Song số
lượng khách hàng đó mới chủ yếu là cán bộ, công nhân viên chức nhà nước, các
đối tượng khách hàng khác hầu như chưa tiếp cận được với vốn ngân hàng, nhưng
đã vượt khả năng đáp ứng của ngân hàng. Qua đó cho thấy, tiềm năng để phát triển
loại hình tín dụng này là cực kỳ lớn, đang cần các ngân hàng có chiến lược và
chính sách cụ thể để đáp ứng với nhu cầu của nhân dân.
Như vậy, cạnh tranh mở rộng cho vay tiêu dùng là một vũ khí để các ngân hàng
thương mại trong thời gian tới nên sử dụng để chiếm lĩnh thị trường trước sự thâm
nhập ồ ạt của các TCTD theo lộ trình cam kết thực hiện khi vào WTO đồng thời để
phân tán rủi ro trong kinh doanh. Vì thế cho vay tiêu dùng là một xu hướng mà rất
nhiều NHTM sẽ theo đuổi trong thời gian tới.
2.2. Những quy định về cho vay tiêu dùng:
2.2.1. Điều kiện vay vốn:
a) Cho vay có bảo đảm:
- Những quy định chung:
 Có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, chịu trách nhiệm trước
pháp luật về việc sử dụng vốn vay, không quá 60 tuổi ở thời điểm kết thúc thời
hạn cho vay.
 Có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú dài hạn.
 Có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
 Có vốn tự có tham gia vào phương án, mức vốn tự có tối thiểu bằng 30%
tổng nhu cầu vốn trừ trường hợp áp dụng biện pháp bảo đảm là có cầm cố giấy
tờ có giá.
 Có nguồn thu và phương án vay - trả nợ đảm bảo khả năng trả nợ gốc, lãi
và phí trong thời gian vay cam kết.
 Thực hiện biện pháp bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ,
NHNN VN và hướng dẫn của NHCTVN.

cầu của NHCV.
2.2.2. Thể loại cho vay
− Cho vay ngắn hạn: khoản cho vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng.
− Cho vay trung hạn: khoản cho vay có thời hạn cho vay từ 12 tháng đến
60 tháng.
− Cho vay dài hạn: khoản cho vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng.
2.2.3. Thời hạn cho vay
Căn cứ xác định thời hạn cho vay:
- Nhu cầu vay vốn
- Khả năng trả nợ
- Thời hạn sử dụng còn lại của tài sản đảm bảo
 Thời hạn cho vay có bảo đảm bằng tài sản tối đa
- Thời hạn cho vay mua nhà ở, đất ở; xây dựng, sửa chữa nhà ở.
 Thời hạn cho vay mua đất và xây dựng nhà ở: 20 năm.
 Thời hạn cho vay mua nhà ở: 20 năm.
 Thời hạn cho vay mua đất ở :10 năm.
 Thời hạn cho vay xây dựng, sửa chữa nhà ở :05 năm.
- Thời hạn cho vay mua ô tô và động sản khác.
 Thời hạn cho vay mua ô tô mới : 5 năm
 Thời hạn cho vay mua ô tô đã qua sử dụng : 4 năm nhưng
không vượt quá niên hạn sử dụng còn lại của xe theo quy định của
Chính phủ.
 Thời hạn cho vay mua động sản khác : 3 năm.
- Thời hạn vay vốn hỗ trợ du học:
 Thời hạn cho vay hỗ trợ học phí và sinh hoạt phí bằng thời gian học
cộng 3 năm
 Thời hạn cho vay chứng minh tài chính: phụ thuộc vào nhu cầu chứng
minh tài chính của khách hàng nhưng không vượt quá thời hạn thẻ tiết
kiệm, chứng chỉ tiền gửi, giấy tờ có giá khác hoặc thời hạn phong toả số
dư trên tài khoản.

 Kỳ hạn trả nợ gốc và kỳ hạn trả lãi phải trùng nhau. Số tiền phải trả (cả gốc
và lãi) được chia thành nhiều khoản đều nhau và hoàn trả theo định kỳ là 1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status