Nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng tại Chi Nhánh Ngân Hàng Công Thương Ba Đình - Pdf 77

LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, với việc thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc đổi
mới kinh tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn với tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao, trên 8%/năm. Trong quá trình hội nhập mạnh mẽ với nền kinh tế thế
giới, nền kinh tế trong nước đang có những chuyển biến tích cực phù hợp với xu
thế phát triển chung. Đặc biệt, kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO
thì dấu ấn của sự hội nhập càng trở nên rõ nét hơn trong nền kinh tế nước ta.
Trong hoàn cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống người dân
ngày càng tăng cao, nhu cầu vay tiêu dùng của người dân cũng ngày một lớn.
Những năm trở lại đây, hoạt động cho vay tiêu dùng mang một vai trò quan
trọng trong dịch vụ ngân hàng, cho vay tiêu dùng đóng góp một phần lợi nhuận
không nhỏ trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Người tiêu dùng với mức thu
nhập ngày càng ổn định và được cải thiện, cùng với trình độ dân trí và mức sống
cao, hứa hẹn sẽ thúc đẩy hoạt động cho vay tiêu dùng ngày càng phát triển.
Tuy vậy, hoạt động cho vay tiêu dùng tại Việt Nam vẫn có những hạn
chế nhất định như định mức cho vay tiêu dùng tối đa còn thấp, thời hạn cho vay
tiêu dùng ngắn, chính sách và thủ tục cho vay tiêu dùng còn phức tạp và hạn chế,
chưa hấp dẫn được lượng đông đảo KH tương xứng với vị thế và tiềm năng của
các ngân hàng tại Việt Nam.
Ngân hàng Công Thương Việt Nam là Ngân hàng thương mại Quốc
doanh , cũng là một trong những ngân hàng hàng đầu về quy mô và chất lượng
đang hoạt động tại Việt Nam. Chi nhánh Ngân Hàng Công Thương Ba Đình là
đơn vị thành viên của hệ thống Ngân Hàng Công Thương trên cả nước, có nhiệm
vụ thay mặt Ngân Hàng Công Thương trực tiếp kinh doanh trên địa bàn Quận Ba
Đình. Trên thực tế, tiềm năng phát triển của kinh tế Quận Ba Đình và nhu cầu
vay tiêu dùng tại đây còn rất lớn. Sự phát triển của nền kinh tế cũng như nhu cầu
tiêu dùng của người dân nhất thiết phải có sự hỗ trợ của các ngân hàng. Bởi vậy,
cho vay tiêu dùng là một thị trường tiềm năng đối với các NHTM nói chung và
Chi Nhánh Ngân Hàng Công Thương Ba Đình nói riêng trong thời gian tới.
Trước bối cảnh đó, Chi Nhánh Ngân Hàng Công Thương Ba Đình cũng
đã nhận thức được tầm quan trọng của việc thiết lập quan hệ với khu vực KH

hình chiếm tỷ trọng lớn nhất về số lượng, thị phần và quy mô tài sản. Dựa trên
những loại hình dịch vụ mà NH cung cấp thì có thể định nghĩa NH là “tổ chức
tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt
là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài
chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Các
dịch vụ tài chính mà NHTM cung cấp là đa dạng nhất. Do đó, NHTM có vai trò
rất quan trọng trong nền kinh tế.
Ðiều 20 Luật các tổ chức tín dụng (luật số 02/1997/QH 10): Ngân hàng
thương mại là loại ngân hàng trực tiếp giao dịch với các công ty, xí nghiệp, tổ
chức kinh tế, cơ quan đoàn thể và các cá nhân bằng việc nhận tiền gửi, tiền tiết
kiệm… cho vay và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên.
Ðạo luật ngân hàng của Pháp (1941): Ngân hàng thương mại là những xí
nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng
dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó
cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính.
Như vậy ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan
trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế này
mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to
lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế.
Hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam:
• Ngân hàng thương mại Quốc doanh: Là ngân hàng thương mại
được thành lập bằng 100% vốn ngân sách nhà nước. Thuộc loại này bao gồm:
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Bank for
Agriculture and Rural Development - AGRIBANK), hiện nay 100% vốn của
Nhà nước và đến 2008 sẽ cổ phần hóa.
Ngân hàng công thương Việt nam (Vietnam Industrial and commercial
Bank – VietIncombank) hiện nay 100% vốn của Nhà nước và dự định cổ phần
hóa vào năm 2008.
Ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam (Bank for Investement and
Development of Viet nam – BIDV), hiện nay 100% vốn của Nhà nước, dự định

đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.
NHTM là tổ chức thu hút tiền gửi tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi
nền kinh tế. Tất cả các chủ thể trong nền kinh tế, từ cá nhân, hộ gia đình đến các
doanh nghiệp và các tổ chức xã hội đều có tiền gửi tại NH. Do đó, các nguồn
tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội được tập trung lại, được sử dụng để đáp
ứng nhu cầu vốn kinh doanh, vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu cầu vốn
tiêu dùng của xã hội.
Tín dụng NHTM là nguồn tài chính quan trọng đối với các công ty, các
cá nhân, hộ gia đình và cả Chính phủ. Các khoản tín dụng mà NH cung cấp được
sử dụng để mua hàng hóa dịch vụ, đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây
dựng cơ sở hạ tầng…
Ngày nay, NHTM là thủ quỹ và trung gian thanh toán lớn nhất ở mỗi
quốc gia. NHTM đứng ra làm trung gian thanh toán giữa các KH. Nhiều hình
thức thanh toán hiện đại đã góp phần làm giảm lượng tiền mặt lưu hành, giảm
chi phí in ấn, bảo quản tiền, tiết kiệm chi phí về giao dịch thanh toán. Chính vì
thế, NHTM có đóng góp lớn trong việc đẩy nhanh tốc độ luân chuyển tiền –
hàng, thúc đẩy sự phát triển của quan hệ thương mại, tài chính quốc tế.
Bên cạnh đó, NHTM thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính
sách tiền tệ. Vì vậy, NHTM là kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của
Chính phủ.
Tóm lại, sự có mặt của NHTM trong hầu hết các hoạt động kinh tế xã hội
đã khẳng định rằng: NHTM là định chế tài chính không thể thiếu được trong nền
kinh tế. Hoạt động của NHTM có vai trò lớn đối với sự hoàn thiện của hệ thống
tài chính, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.
1.1.1.2 Hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
* Hoạt động huy động vốn
Nghiệp vụ huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với
bản thân NH cũng như đối với xã hội. Trong nghiệp vụ này, NHTM được phép
sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy
động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay

Ðây là nguồn vốn chủ yếu của các NHTM, thực chất là tài sản bằng tiền
của các sở hữu chủ mà NH tạm thời quản lý và sử dụng nhưng phải có nghĩa vụ
hoàn trả kịp thời, đầy đủ khi KH yêu cầu. Nguồn vốn huy động là nguồn tài
nguyên to lớn nhất, bao gồm:
- Tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức, cá nhân
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
- Tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu
- Các khoản tiền gửi khác
Ðối với tiền gửi của cá nhân và đơn vị, ngoài lãi suất, thì nhu cầu giao
dịch với những tiện lợi nhanh chóng và an toàn là yếu tố cơ bản để thu hút nguồn
tiền này. Ðối với tiền gửi tiết kiệm, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu thì lãi suất
là yếu tố quyết định và người gửi tiết kiệm hay mua kỳ phiếu đều nhằm mục
đích kiếm lời
Tiền gửi của KH là nguồn tài nguyên quan trọng nhất, thường chiếm tỷ
trọng hơn 50% tổng nguồn vốn của NH. Nghiệp vụ đầu tiên của NH khi đi vào
hoạt động là mở tài khoản TG để giữ hộ và thanh toán hộ cho KH. Chính nhờ
nghiệp vụ này mà NH huy động được lượng tiền nằm rải rác trong xã hội.
NHTM nhận TG từ các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác.
Đặc điểm chung của TG là phải được thanh toán khi có yêu cầu của KH,
ngay cả khi đó là TG có kỳ hạn chưa đến hạn. Quy mô và cơ cấu TG cũng phụ
thuộc nhiều vào những biến động về lãi suất, tỷ lệ lạm phát và thu nhập của KH.
Vì thế, đây là nguồn kém ổn định, đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ của NH. Đặc biệt,
sự cạnh tranh trong lĩnh vực huy động vốn ngày càng gay gắt, các NH phải
không ngừng đa dạng hoá các loại hình TG, đưa ra chế độ lãi suất hấp dẫn để gia
tăng số lượng và nâng cao chất lượng các khoản TG từ KH.
• Vốn đi vay:
Nguồn vốn đi vay có vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của ngân hàng
thương mại. Thuộc loại này bao gồm:
- Vốn vay trong nước:

này có thời gian sử dụng đôi khi rất ngắn nhưng NH không phải tốn chi phí huy
động, lại có điều kiện tốt để phát triển các nghiệp vụ và dịch vụ khác, phục vụ tốt
nhất nhu cầu của KH.
Như vậy nghiệp vụ huy động vốn là hoạt động tạo ra nguồn chủ yếu của
các NHTM. Bởi vậy, hoạt động huy động và quản lý vốn luôn là vấn đề mà các
NHTM đặt lên hàng đầu. Chất lượng và số lượng của nguồn vốn huy động được
chính là nhân tố tác động lớn nhất tới hoạt động sử dụng vốn của NHTM.
* Hoạt động sử dụng vốn
Trên cơ sở lượng vốn huy động được, NHTM tiến hành sử dụng vốn để
tạo ra lợi nhuận. Nghiệp vụ cho vay và đầu tư là nghiệp vụ sử dụng vốn quan
trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của ngân hàng thương
mại. Các hoạt động sử dụng vốn của NHTM bao gồm:
- Dự trữ
- Cấp tín dụng
- Ðầu tư
- Các hoạt động sử dụng vốn khác
• Dự trữ:
Hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm mục đích kiếm lời, song cần
phải bảo đảm an toàn để giữ vững được lòng tin của KH. Muốn có được sự tin
cậy về phía KH, trước hết phải bảo đảm khả năng thanh toán: đáp ứng được nhu
cầu rút tiền của KH. Muốn vậy các ngân hàng phải để dành một phần nguồn vốn
không sử dụng nó để sẵng sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán. Phần vốn để dành
này gọi là dự trữ. NHTW được phép ấn định một tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo từng
thời kỳ nhất định, việc trả lãi cho tiền gởi dự trữ bắt buộc do chính phủ qui định.
Dự trữ bao gồm:
- Dự trữ sơ cấp: bao gồm tiền mặt, tiền gửi tại ngân hàng TƯ, tại các
ngân hàng khác
- Dự trữ thứ cấp: dự trữ không tồn tại bằng tiền mà bằng chứng khoán,
nghĩa là các chứng khoán ngắn hạn có thể bán để chuyển thành tiền một cách
thuận lợi. Thuộc loại này gồm: tín phiếu kho bạc, hối phiếu đã chấp nhận, các

Hoạt động đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau hoạt động cho vay, nó
mang lại khoản thu nhập lớn và đáng kể cho NHTM. Trong nghiệp vụ này, NH
dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác để đầu tư dưới các hình
thức như: - Hùn vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các Công ty; hùn vốn mua cổ
phần chỉ được phép thực hiện bằng vốn của ngân hàng
- Mua trái phiếu chính phủ, chính quyền địa phương, trái phiếu công ty…
Tất cả hoạt động đầu tư chứng khoán đều nhằm mục đích mang lại thu
nhập, mặt khác nhờ hoạt động đầu tư mà các rủi ro trong hoạt động ngân hàng sẽ
được phân tán, mặt khác đầu tư vào trái phiếu chính phủ thì mức độ rủi ro sẽ rất
thấp. Khi cần thiết, NH có thể bán chúng đi để gia tăng ngân quỹ. Các NHTM
cũng thường nắm giữ chứng khoán công ty để có quyền tham dự, kiểm soát hoạt
động của các công ty đó.
• Các hoạt động sử dụng vốn khác
Các hoạt động sử dụng vốn còn lại mà NHTM được phép thực hiện là:
liên doanh với tổ chức tín dụng nước ngoài, tham gia thị trường tiền tệ, kinh
doanh vàng, ngoại hối, thành lập công ty trực thuộc, xây dựng hoặc mua thêm
nhà cửa để làm trụ sở văn phòng, trang thiết bị, máy móc, phương tiện vận
chuyển, xây dựng hệ thống kho quỹ…….Tuy nhiên, ngành NH là lĩnh vực nhạy
cảm, có tác động đến mọi mặt của nền kinh tế nên các hoạt động kinh doanh của
NH đều chịu sự quản lý rất chặt chẽ của pháp luật.
* Hoạt động dịch vụ
Các dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển vừa cho phép hỗ trợ đáng kể
cho nghiệp vụ khai thác nguồn vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tư, vừa tạo ra thu
nhập cho ngân hàng bàng các khoản tiền hoa hồng, lệ phí… có vị trí xứng đáng
trong giai đoạn phát triển hiện nay của ngân hàng thương mại. Các hoạt động
này bao gồm:
- Các dịch vụ thanh toán thu chi hộ cho KH (chuyển tiền, thu hộ séc, dịch
vụ cung cấp thẻ tín dụng, thẻ thanh toán..)
- Nhận bảo quản các tài sản quí giá, các giấy tờ chứng thư quan trọng của
công chúng

• Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn đến 12 tháng.
• Cho vay trung hạn: là các khoản vay có thời hạn từ trên 12 đến 60 tháng.
• Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn trên 60 tháng trở lên.
Theo hình thức bảo đảm
• Cho vay có bảo đảm bằng tài sản
• Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản
Theo cách thức cho vay
• Cho vay trực tiếp
• Cho vay gián tiếp
Theo phương thức cho vay
• Cho vay thấu chi
• Cho vay trực tiếp từng lần
• Cho vay theo hạn mức
• Cho vay luân chuyển
• Cho vay trả góp
Hoạt động cho vay của NHTM có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế. Nó có
tác dụng khuyến khích tiêu dùng, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tạo động lực cho
sự tăng trưởng kinh tế. Nguồn vốn vay từ các NH rất quan trọng đối với sự phát
triển của các doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức kinh tế, đặc biệt nguồn vốn
vay từ NH thúc đẩy tiêu dùng và góp phần quan trọng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
của người dân. Vậy tiêu dùng và nhu cầu tiêu dùng của người dân có vai trò như
thế nào trong nền kinh tế? Vì sao hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM lại có
tầm quan trọng đặc biệt? Điều này sẽ được trình bày ở phần tiếp theo.
Hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
Cho vay tiêu dùng(CVTD) là việc Ngân Hàng Cho Vay giao cho KH một
khoản tiền theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi trong một
thời gian nhất định để sử dụng cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt và các nhu cầu
phục vụ đời sống(1). Nhìn chung, CVTD được coi là khoản tiền vay cấp cho các
cá nhân, hộ gia đình để chi dùng cho các mục đích không kinh doanh.

họ đã nằm trong tài khoản đầu tư.
• Qui mô và số lượng các khoản vay tiêu dùng Các khoản CVTD thường có
qui mô tương đối nhỏ so với các khoản cho vay kinh doanh. Cho vay bất động
sản có thể có giá trị lớn hơn, nhưng giá trị so sánh vẫn nhỏ hơn các món vay
khác tại Ngân hàng. Nguyên nhân chủ yếu do KH chỉ vay tiêu dùng khi đã có
một lượng vốn tương đối, chỉ vay ngân hàng để bổ sung số tiền còn thiếu. Tuy
nhiên số lượng các khoản CVTD lại rất lớn do đối tượng của loại hình cho vay
này là mọi cá nhân trong xã hội với nhu cầu tiêu dùng đa dạng. Khi nền kinh tế
phát triển, nhu cầu tiêu dùng tăng cao, số lượng các khoản vay tiêu dùng sẽ càng
nhiều thêm.
• Thời hạn vay Các khoản CVTD thường là ngắn và trung hạn do món vay
có giá trị nhỏ và độ rủi ro cao.
• Nguồn trả nợ Nguồn trả nợ chủ yếu của khoản vay tiêu dùng chính là thu
nhập của người đi vay, NH thường xem xét mức thu nhập thường xuyên của KH
để ra quyết định cho vay.
• Lãi suất cho vay tiêu dùng
Các khoản cho vay tiêu dùng có lãi suất cao hơn lãi suất cho vay trong
các lĩnh vực khác. Nguyên nhân là do quy mô của hợp đồng cho vay nhỏ lại khó
quản lý hơn vì vậy chi phí cho vay của ngân hàng cao. Để bù đắp chi phí này, tất
nhiên, lãi suất cho vay sẽ cao. Bên cạnh đó, không như hầu hết các khoản cho
vay kinh doanh hiện nay với lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường, lãi suất
cho vay tiêu dùng thường được cố định ở một mức nhất định.
• Rủi ro cho vay tiêu dùng
Hình thức cho vay tiêu dùng chứa đựng độ rủi ro cao hơn so với việc tài
trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Rủi ro khách quan: Nguồn trả nợ chủ yếu của khoản vay tiêu dùng là từ
thu nhập ổn định tại thời điểm hiện tại của người vay, khả năng trả nợ của KH sẽ
bị ảnh hưởng khi nền kinh tế gặp khó khăn, hoặc xảy ra những biến động tiêu
cực chung như thiên tai, mất mùa, thất nghiệp. Khả năng trả nợ vay tiêu dùng
còn phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của KH, đặc biệt khi người vay chết thì

cho KH. Dựa vào nhu cầu vay của KH, mức độ tín nhiệm của NH đối với KH,
hai bên thoả thuận để lựa chọn một phương thức cho vay trong số các phương
thức sau:
Đối với cho vay tiêu dùng trực tiếp
Cho vay trả theo định kỳ: là phương thức trong đó KH vay vốn và trả trực
tiếp cho NH với mức trả và thời gian trả mỗi lần được quy định khi cho vay.
Thấu chi: là nghiệp vụ cho phép một cá nhân rút tiền từ tài khoản vãng lai
của mình vượt quá số dư có tới một hạn mức được thoả thuận.
Thẻ tín dụng: là nghiệp vụ trong đó NH phát hành thẻ cho những người
có tài khoản ở NH đủ điều kiện cấp thẻ, ấn định mức giới hạn tín dụng tối đa mà
người có thẻ được phép sử dụng.
Đối với cho vay tiêu dùng gián tiếp
Tài trợ truy đòi toàn bộ: là hình thức khi bán cho Ngân hàng các khoản
nợ mà người tiêu dùng đã mua chịu, công ty bán lẻ sẽ cam kết thanh toán cho
Ngân hàng toàn bộ nếu đến khi hết hạn người tiêu dùng không thanh toán cho
Ngân hàng.
Tài trợ truy đòi hạn chế: là phương thức trong đó công ty bán lẻ sau khi
bán các khoản nợ do người tiêu dùng đã mua chịu cho Ngân hàng sẽ cam kết
thanh toán cho Ngân hàng một phần khoản nợ nếu khi đến hạn người tiêu dùng
không thanh toán cho Ngân hàng.
Tài trợ miễn truy đòi: là hình thức tài trợ mà sau khi bán các khoản nợ
cho Ngân hàng, công ty bán lẻ không chịu trách nhiệm cho việc chúng có được
hoàn trả hay không. Phương thức này chứa đựng rủi ro rất cao nên khoản nợ
được lựa chọn rất kỹ và chỉ có các công ty bán lẻ đáng tin cậy mới áp dụng
phương pháp này.
Tài trợ có mua lại: Khi thực hiện theo phương pháp này, nếu xảy ra rủi ro
người tiêu dùng không trả nợ thì Ngân hàng sẽ bán trở lại cho công ty bán lẻ
phần nợ mình chưa được thanh toán kèm với tài sản đã được tiêu thụ trong một
thời gian nhất định.
Vai trò của hoạt động cho vay tiêu dùng

lẻ đẩy nhanh quá trình lưu chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng lớn trong dân cư
để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống người dân, hạn chế dùng tiền mặt và tiết
kiệm chi phí thời gian, tiền bạc cho xã hội
1.2.2 Quy trình cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
Quy trình cho vay là tổng hợp các công việc cụ thể mà cán bộ tín dụng và
các phòng ban có liên quan trong NH phải thực hiện khi cấp vốn cho KH. Để
chuẩn hoá quá trình tiếp xúc, phân tích, cho vay và thu nợ, mỗi NHTM thường
xây dựng cho mình một quy trình cho vay. Giữa các NH, quy trình ấy có thể có
sự khác biệt, tuỳ thuộc vào đặc điểm và khả năng tổ chức quản lý của NH, tuy
nhiên nhìn chung đều bao gồm 6 bước sau:
Bước 1 Nhận hồ sơ tín dụng: KH có nhu cầu vay vốn đến NH làm thủ tục xin
vay. Tại đây cán bộ tín dụng hướng dẫn cho KH cách lập hồ sơ đầy đủ và đúng
quy định, hồ sơ tín dụng thường bao gồm: hồ sơ pháp lý, hồ sơ kinh tế và hồ sơ
vay.

Trích đoạn Định hướng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng của chi nhánh trong Tăng cường công tác huy động vốn Tăng cường hoạt động marketing để nâng cao chất lượng cho vay tiêu Đa dạng hoá các loại hình sản phẩm cho vay tiêu dùng Xây dựng chính sách khách hàng theo hướng cởi mở hơn đối với khách
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status