Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................
Thị trường kinh doanh ngày nay đang ngày một mở rộng hơn, một mặt
mang lại những lợi ích dài hạn để doanh nghiệp phát triển thông qua mở rộng
thị trường và đổi mới cơ chế quản lý và kinh doanh theo yêu cầu cạnh tranh,
mặt khác sẽ là những thách thức không nhỏ đối với khả năng của doanh
nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải cơ cấu lại sản xuất kinh doanh, chuyển
dịch đầu tư và điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh. Quá trình đối
phó với các thách thức cạnh tranh đặt ra cho các doanh nghiệp cần thiết có sự
hỗ trợ từ nhiều phía nhằm tạo điều kiện để các nguồn vốn tài chính được
nhanh chóng chuyển sang sử dụng ở các lĩnh vực kinh doanh khác hiệu quả
hơn. Và trong quá trình này, vấn đề quản lý tài chính doanh nghiệp là một vấn
đề lớn mà các doanh nghiệp rất cần phải quan tâm và chú trọng.
Quản lý tài chính là việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tình
hình tài chính của doanh nghiệp để phân tích điểm mạnh, điểm yếu của doanh
nghiệp và lập các kế hoạch kinh doanh, kế hoạch sử dụng nguồn tài chính, tài
sản cố định và nhu cầu nhân công trong tương lai nhằm tăng lợi nhuận cho
doanh nghiệp. Quản lý tài chính doanh nghiệp là quá trình bao quát tổng thể
và có liên quan mật thiết với mọi hoạt động của doanh nghiệp, vì thế nếu hoạt
động quản lý tài chính đạt hiệu quả không chi giúp nâng cao năng lực tài
chính của doanh nghiệp mà còn thúc đầy mọi hoạt động khác cùng phát triển.
Là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh,
Công ty cổ phần bao bì Tiền Phong cũng không nằm ngoài sự vận động đó.
Trong những năm gần đây, hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty không
đạt hiệu quả như mong muốn và một trong những nguyên nhân cơ bản là công
tác quản lý tài chính của Công ty chưa được quan tâm và chưa thực sự đạt
được hiệu quả. Do đó, trong tương lai Công ty muốn khắc phục được những
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của doanh nghiệp cũng đồng thời là quá trình hình thành, phân phối và sử
dụng các quỹ tiền tệ. Trong quá trình đó đã phát sinh các luồng tiền tệ gắn
liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh, các hoạt động đầu tư cũng như
mọi hoạt động khác của doanh nghiệp. Các luồng tiền bao gồm các luồng tiền
tệ đến và ra khỏi doanh nghiệp tạo thành sự vận động của các luồng tài chính
trong doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống những mối quan hệ kinh tế diễn ra
dưới hình thức giá trị giữa doanh nghiệp và môi trường xung quanh, nó phát
sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp.
Hoạt động tài chính doanh nghiệp là một trong những hoạt động cơ bản
nhất đối với mỗi doanh nghiệp. Hoạt động tài chính doanh nghiệp nếu được
duy trì và phát triển một cách ổn định thì sẽ tạo tiền đề và nền tảng vững chắc
cho mọi hoạt động khác của doanh nghiệp vận động và phát triển. Hoạt động
tài chính doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu như huy
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
động, khai thác vốn, đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn cũng như phân bổ và sử
dụng các nguồn vốn một cách hợp lý và hiệu quả.
1.1.2. Chức năng của tài chính doanh nghiệp
1.1.2.1. Chức năng phân phối
Đối với mỗi doanh nghiệp thì vấn đề tài chính là vô cùng quan trọng.
Để quá trình sản xuất kinh doanh có thể diễn ra thì vốn của doanh nghiệp phải
được phân phối cho các mục đích khác nhau và các mục đích này đều hướng
tới một mục tiêu chung của doanh nghiệp. Quá trình phân phối vốn cho các
mục đích đó được thể hiện theo các tiêu chuẩn và định mức được xây dựng
dựa trên các mối quan hệ kinh tế của doanh nghiệp với môi trường kinh
doanh. Tiêu chuẩn và định mức phân phối đó không phải cố định trong suốt
quá trình phát triển của doanh nghiệp mà nó thường xuyên được điều chỉnh
cho phù hợp với tình hình từng giai đoạn hoạt động của doanh nghiệp.
1.1.2.2. Chức năng giám đốc bằng tiền
có thể nhận được những khoản trợ cấp của Nhà nước, sự hỗ trợ về cơ sở vật
chất, cơ sở hạ tầng, nguồn vốn thông qua các khoản cho vay ưu đãi và doanh
nghiệp cũng có thể nhận được sự bảo trợ của Nhà nước trên thị trường trong
nước và quốc tế… Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng phải đảm bảo thực hiện
các nghĩa vụ đối với Nhà nước mà biểu hiện cụ thể nhất là các khoản thuế
phải nộp Nhà nước. Doanh nghiệp cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trên thị trường. Bên cạnh đó,
Nhà nước cũng phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo hướng
ngày càng hỗ trợ và khuyến khích cho các doanh nghiệp phát triển cũng như
bảo hộ cho quyền lợi cho các doanh nghiệp khi gia nhập thị trường quốc tế.
Trong điều kiện kinh tế hội nhập hiện nay thì Nhà nước còn có một vai trò vô
cùng quan trọng là phát hiện ra và có những điều chỉnh kịp thời các văn bản
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
pháp luật cho phù hợp với tình hình và nhu cầu mới của thị trường và doanh
nghiệp để tạo ra một môi trường ngày càng thông thoáng để doanh nghiệp có
thể gia nhập thị trường cũng như tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh một
cách hiệu quả nhất.
1.1.3.2. Các mối quan hệ của doanh nghiệp với thị trường
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn diễn ra trên thị
trường thông qua việc trao đổi, mua bán các loại sản phẩm. Trong quá trình
này doanh nghiệp luôn tiếp xúc với các loại thị trường để thoả mãn các nhu
cầu của mình bao gồm thị trường tài chính, thị trường hàng hoá, thị trường
lao động…
- Mối quan hệ với thị trường tài chính: Thị trường tài chính đóng một vai trò
quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Vì vốn là điều kiện tiên quyềt đối với
mỗi doanh nghiệp khi xuất hiện trên thị trường, nó quyết định đến quá trình
thành lập, quy mô và tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp. Và thị trường tài
chính là một kênh cung cấp tài chính cho nhu cầu của các doanh nghiệp. Các
doanh nghiệp có thể tạo được nguồn vốn thích hợp bằng cách phát hành các
Duy trì và phát triển được các mối quan hệ với các thị trường này sẽ
giúp cho doanh nghiệp chủ động hơn trong mọi hoạt động của mình trên thị
trường.
1.1.3.3. Các mối quan hệ phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp
Trong nội bộ doanh nghiệp cũng phát sinh rất nhiều mối quan hệ như
mối quan hệ giữa các bộ phận sản xuất- kinh doanh trong doanh nghiệp, quan
hệ giữa các phòng ban, quan hệ giữa người lao động với người lao động trong
quá trình làm việc, quan hệ giữa doanh nghiệp với người lao động, quan hệ
giữa doanh nghiệp với người quản lý doanh nghiệp, quan hệ giữa quyền sở
hữu vốn và quyền sử dụng vốn…
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Các mối quan hệ này đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp và
doanh nghiệp có thể kiểm soát được. Nếu doanh nghiệp giải quyết tốt các mối
quan hệ này thì sẽ tạo được động lực rất lớn đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, khi đó hoạt động của doanh nghiệp sẽ diễn ra trôi
chảy, các thành viên đều có trách nhiệm đối với hoạt động của doanh nghiệp
và thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra hiệu quả hơn. Chính vì
vậy, các nhà quản lý cần phải nắm vững tầm quan trọng của các mối quan hệ
này để có thể có những biện pháp hữu hiệu và phù hợp với tình hình của
doanh nghiệp mình để có thể duy trì và củng cố được các mối quan hệ này và
tạo ra một môi trường làm việc tích cực cho mọi thành viên trong doanh
nghiệp, tạo cơ hội và khuyến khích sự đòng góp của mọi thành viên trong quá
trình phát triển doanh nghiệp.
1.2. QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP
1.2.1. Khái niệm quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Khái niệm quản lý tài chính hiểu một cách đơn giản là công tác quản lý
các vấn đề trong doanh nghiệp có liên quan đến việc tổ chức thực hiện các
biện pháp đảm bảo sự cân đối, hài hoà các mối quan hệ tài chính của doanh
nghiệp nhằm đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt
và các chính sách tài chính của doanh nghiệp. Về mặt chiến thuật phải xác
định những công việc trong thời hạn ngắn, cụ thể để phục vụ cho kế hoạch
chiến lược của doanh nghiệp. Các quyết định về mặt chiến lược và chiến thuật
của doanh nghiệp được lựa chọn chủ yếu trên cơ sở của sự phân tích, cân
nhắc về mặt tài chính.
Quản lý tài chính doanh nghiệp là một bộ phận của quản lý doanh
nghiệp, thực hiện các nội dụng cơ bản của quản lý tài chính đối với các quan
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hệ phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện các mục
tiêu doanh nghiệp đã đề ra.
Quản lý tài chinh doanh nghiệp được hình thành để nghiên cứu, phân
tích và xử lý mối quan hệ tài chính trong doanh nghiệp, hình thành những
công cụ tài chính giúp các nhà quản lý đưa ra được những quyết định tài
chính đúng đắn và mang lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp.
1.2.3. Nội dung cơ bản về quản lý tài chính trong doanh nghiệp
1.2.3.1. Hoạch định tài chính
Hoạch định tài chính là khâu đầu tiên và có ý nghĩa quyết định đến toàn
bộ các khâu khác trong quá trình quản lý tài chính. Khâu này sẽ là cơ sở cho
việc lựa chọn các phương án hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong
tương lai và cũng đồng thời là căn cứ để tiến hành kiểm tra, kiểm soát các bộ
phận trong tổ chức.
Quy trình hoạch định tài chính của doanh nghiệp được thực hiện theo 5
bước như sau:
Bước 1: Nghiên cứu và dự báo môi trường
Để xây dựng kế hoạch tài chính, doanh nghiệp cần tiến hành nghiên
cứu các nhân tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển của hoạt động
tài chính của doanh nghiệp. Các nhà quản lý phải nghiên cứu môi trường bên
ngoài để có thể xác định được các cơ hội, thách thức hiện có và tiềm ẩn ảnh
hưởng đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp; nghiên cứu môi trường bên
trên căn cứ là các mục tiêu chiến lược đã đề ra và trên cơ sở đó phát hiện ra
những sai sót và có những sửa chữa kịp thời. Do đó, kiểm tra là một hoạt
động có ý nghĩa vô cùng quan trọng và không thể thiếu trong mọi lĩnh vực
hoạt động của mọi tổ chức. Tài chính là một vấn đề phức tạp có ý nghĩa quan
trọng quyết định đến mọi hoạt động của tổ nên hoạt động kiểm tra tài chính
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lại càng trở nên quan trọng và cần được tổ chức đúng quy trình và nghiêm túc.
Kiểm tra tài chính giúp cho cơ quan quản lý theo dõi thực hiện các quyết định
tài chính được ban hành và giúp ngăn chặn, sửa chữa kịp thời những sai sót
trong việc thực hiện quyết định của cấp trên.
Nội dung của kiểm tra tài chính gồm 3 giai đoạn:
- Kiểm tra trước khi thực hiện kế hoạch tài chính
- Kiểm tra thường xuyên quá trình thực hiện kế hoạch đã được phê duyệt
- Kiểm tra sau khi thực hiện kế hoạch tài chính
1.2.3.3. Quản lý vốn luân chuyển
Quản lý vốn luân chuyển bao gồm 3 nội dung quan trọng là: Quản lý
vốn cố định, Quản lý vốn lưu động và Quản lý vốn đầu tư tài chính.
- Quản lý vốn cố định
Vốn cố định là tổng lượng tiền khi tiến hành định giá tài sản cố định.
Tài sản cố định là những tư liệu lao động có giá trị sử dụng trong thời gian
dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, hình thái vật chất không
thay đổi từ khi đưa vào sản xuất cho đến khi thanh lý. Để quản lý vốn cố định
một cách có hiệu quả, tổ chức cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
+ Doanh nghiệp phải tiến hành đánh giá và đánh giá lại tài sản cố định theo
chu kỳ và phải đảm bảo chính xác.
+ Dựa vào đặc điểm của tài sản cố định và căn cứ theo khung quy định về tài
sản của Bộ Tài chính để lựa chọn phương án tính khấu hao phù hợp, đảm bảo
thu hồi vốn nhanh, khấu hao vào giá cả sản phẩm hợp lý.
+ Thường xuyên đổi mới, nâng cấp để không ngừng nâng cao hiệu suất sản
về nhằm bù đắp lại phần vốn đã chi ra.
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Tự cấp phát vốn và bảo toàn vốn: Doanh nghiệp tự mình tính toán nhu cầu
vốn để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và tổ chức thực hiện bằng các
nguồn vốn được huy động. Nguyên tắc này đề cao tinh thần trách nhiệm của
doanh nghiệp trong quá trình tái sản xuất trong khuôn khổ các nhiệm vụ đã đề
ra của mục tiêu kế hoạch. Doanh nghiệp phải tổ chức những nguồn vốn mình
cần đến trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó những kết quả
hoạt động của bản thân doanh nghiệp là tiền đề để tiến hành tái sản xuất mở
rộng theo kế hoạch. Chính vì thế khả năng phát triển trong tương lai của mỗi
doanh nghiệp phụ thuộc vào chỗ hoạt động trong năm nay kết quả như thế
nào. Tuy nhiên không thể xuất phát một chiều hoàn toàn từ những khả năng
tài chính hiện có để kế hoạch hoá mở rộng sản xuất. Điểm xuất phát của kế
hoạch hoá tái sản xuất mở rộng là việc tiến hành những dự đoán: Sự phát triển
nhu cầu, những thay đổi trong quy trình công nghệ của sản xuất để nâng cao
khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài nước, những sự hoàn
thiện nhằm mục đích tăng khối lượng sản xuất sản phẩm đang có ưu thế trên
thị trường và tổng lợi nhuận. Quán triệt quan điểm này, doanh nghiệp phải
một mặt chủ động khai thác và sử dụng các nguồn vốn tự có, mặt khác huy
động các nguồn vốn khác bằng các hình thức linh hoạt và sử dụng vốn vay
một cách thận trọng và hợp lý.
- Quản lý vốn đầu tư tài chính
Các doanh nghiệp có thể đầu tư vào các tài sản tài chính như mua cổ
phiếu, trái phiếu hoặc tham gia vào góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp
khác để góp phần đảm bảo cho nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp cũng
như tăng thu nhập cho doanh nghiệp. Trong xu thế phát triển của nền kinh tế
hiện đại thì đầu tư tài chính ngày càng phát triển và mang lại lợi ích ngày
càng lớn cho các doanh nghiệp. Chính vì thế hoạt động quản lý vốn đầu tư tài
chính ngày càng có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp.
1
Khoa Ngân hàng- Tài chính, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, PGS.TS Lưu Thị Hương-
TS Vũ Duy Hào, Nxb Lao động, Hà Nội, 2003, tr 66-67
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Phương pháp so sánh: Khi sử dụng phương pháp này cần đảm bảo các
điều kiện có thể so sánh được như phải thống nhất về không gian, thời gian,
nội dung, tính chất, đơn vị tính… của các chỉ tiêu tài chính. Đồng thời căn cứ
theo mục đích nghiên cứu mà xác định gốc so sánh. Gốc so sánh được chọn là
gốc về mặt không gian hoặc thời gian, kỳ phân tích được chọn là kỳ báo cáo
hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh được sử dụng có thể là số tuyệt đối, số tương
đối hoặc số bình quân.
Phương pháp phân tích tỷ lệ: Phương pháp này yêu cầu các tỷ lệ so
sánh chủ yếu theo các tiêu chí cơ bản, xác định được các ngưỡng, các định
mực để nhận xét và đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp.
b) Tài liệu phân tích
Phân tích tình hình tài chính là phương pháp để đánh giá tình hình tài
chính nói riêng và tình hình hoạt động chung của doanh nghiệp nên các tài
liệu sử dụng trong quá trình phân tích rất đa dạng và cần được kết hợp một
cách hợp lý. Trong tất cả các tài liệu được sử dụng thì Báo cáo tài chính là tài
liệu quan trọng và được sử dụng chủ yếu để phân tích tài chính. Báo cáo tài
chính thể hiện toàn bộ tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp và là nơi để cung cấp nguồn thông tin chính xác và thiết thực cho các
chủ thể cả trong doanh nghiệp lẫn ngoài doanh nghiệp. Báo cáo tài chính là
một tài liệu được xây dựng qua quá trình tính toán tỉ mỉ và chi tiết, có sự kết
hợp của tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp nên các thông tin trong đó rất
cụ thể, chính xác và phản ánh đúng tình hình của doanh nghiệp. Báo cáo tài
chính có 3 loại là: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
c) Nội dung phân tích tài chính
Tổng số nợ
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thu). Số nợ gồm các khoản phải trả( người bán, lương, BHXH…), các khoản
vay nợ( nợ ngân hàng, nợ mua trái phiếu…), các khoản thuế phải nộp mà
chưa nộp và các phải nộp và phải trả khác.
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời là thước đo khả năng có thể trả nợ
của doanh nghiệp, nó chỉ ra phạm vị, quy mô mà các yêu sách của những chủ
nợ được trang trải bằng những tài sản lưu dộng có thể chuyển đổi thành tiền
trong thời kỳ phù hợp với hạn nợ phải trả.
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời càng lớn thì khả năng thanh toán
hiện thời của doanh nghiệp càng cao.
Hệ số thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán nhanh là thước đo về khả năng trả nợ ngay, nợ đến
hạn không dựa vào việc bán vật tư hàng hoá( kể cả sản phẩm dở dang).
Hệ số thanh toán nhanh lớn hơn 1 thì doanh nghiệp có khả năng thanh
toán nhanh và hệ số này càng cao càng tốt. Nếu cao hơn hệ số thanh toán
trung bình của ngành thì khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp khả
quan hơn mức trung bình của ngành. Nếu doanh nghiệp thu các khoản phải
thu thì đã đủ trả các khoản nợ trong kỳ hạn mà không cần phải bán đi vật tư
hàng hoá.
- Chỉ tiêu đặc trưng về kết cấu tài chính
Hệ số góp vốn là chỉ tiêu đặc trung về kết cấu tài chính của doanh
nghiệp. Hệ số góp vốn đo lường sự góp vốn của những chủ sở hữu doanh
nghiệp so với sự tài trợ của những người cho vay( Ngân hàng, người mua trái
phiếu doanh nghiệp…). Nếu vốn tự có( góp cổ phần, ngân sách cấp, tự bổ
sung bằng lợi nhuận) chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong sự tài trợ vốn cho doanh
Vốn bằng tiền + Các khoản phải thu
Tổng số nợ trong hạn
Hệ số thanh toán nhanh =
vật tư- hàng hoá
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Số dư bình quân vốn vật tư- hàng hoá
trong kỳ
=
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thể bị ứ đọng vật tư hàng hoá vì không cần dùng hoặc dự trữ quá mức, hoặc
sản phẩm bị tiêu thụ chậm vì sản xuất chưa sát nhu cầu thị trường. Do đó đối
với doanh nghiệp, hệ số vòng quay vốn vật tư- hàng hoá càng lớn càng tốt.
Kỳ thu tiền trung bình
Kỳ thu tiền trung bình đo lường khả năng thu hồi vốn nhanh trong
thanh toán.
Số vòng quay vốn lưu động
Số vòng quay vốn lưu động cho biết một đồng tài sản lưu động tạo ra
bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ phân tích. Đối với các doanh nghiệp thì
chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định
Hiệu suất sử dụng vốn cố định cho biết đầu tư một đồng vào tài sản cố
định thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ phân tích. Chỉ tiêu
này càng cao thì càng hiệu quả đối với doanh nghiệp.
Kỳ thu tiền trung bình =
Số dư bình quân các khoản phải thu
Doanh thu trung bình ngày
Số vòng quay
vốn lưu động
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
(đã trừ thuế)
Số dư bình quân vốn lưu động của
doanh nghiệp trong kỳ
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm
Doanh lợi vốn =
Lợi nhuận ròng
Số dư bình quân tổng số vốn
Doanh lợi vốn tự có =
Lợi nhuận ròng
Số dư bình quân vốn tự có
21
Số dư bình quân tổng số vốn các loại
của doanh nghiệp
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nghiệp. Do đó mục tiêu tăng doanh lợi vốn tự có là mục tiêu quan trọng hàng
đầu trong hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp.
Thu nhập cổ phần
Chỉ tiêu thu nhập cổ phần phản ánh 1 cổ phiếu tạo ra bao nhiêu lợi
nhuận, chỉ tiêu này càng lớn càng có hiệu quả.
1.2.3.5. Các quyết định đầu tư tài chính
Để tìm kiếm lợi nhuận, các doanh nghiệp tiến hành việc đầu tư tài
chính ra bên ngoài. Tuy nhiên, trong điều kiện thị trường luôn biến động như
ngày nay thì những quyết định này càng trở nên khó khăn và mức độ rủi ro
cũng tăng. Do đó các nhà quản lý tài chính cần phải nghiên cứu một cách kỹ
lưỡng trước khi đưa ra các quyết định đầu tư, đảm bảo duy trì và phát triển
nguồn tài chính của doanh nghiệp. Nhà quản lý đưa ra các quyết định đầu tư
dựa trên cơ sở lựa chọn các phương án căn cứ vào các chỉ tiêu cụ thể bao gồm
cả đầu tư vào doanh nghiệp lẫn đầu tư ra ngoài doanh nghiệp để các quyết
định đầu tư thực sự đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp.
1.2.4. Các nguyên tắc trong quản lý tài chính
Một doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh một
cách hiệu quả thì phải tuân thủ theo các nguyên tắc nhất định. Tuân thủ các
nguyên tắc trong quản lý tài chính sẽ góp phần đảm bảo cho doanh nghiệp có
cùng quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn phát triển lâu
dài và ổn định thì phải thiết lập và duy trì được mối quan hệ bền vững với các
chủ thể khác trong nền kinh tế.Do đó, doanh nghiệp phải luôn tạo dựng và
củng cố niềm tin của các đối tác như Nhà nước, bạn hàng, nhà cung ứng,
khách hàng… Để đảm bảo giữ được chữ “tín” trong hoạt động tài chính thì
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trước tiên doanh nghiệp phải đảm bảo thực hiện tốt và đầy đủ các nghĩa vụ
đối với Nhà nước, luôn tôn trọng và đảm bảo các điều kiện hợp đồng, cam kết
kinh doanh và hạn chế xảy ra “bội tín” đối với các đối tác và luôn đảm bảo
giữ vững uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.
Bốn là, đảm bảo nguyên tắc an toàn và hiệu quả
Trong hoạt động quản lý cũng như hoạt động quản lý tài chính, các nhà
quản lý luôn đứng trước những phương án lựa chọn. Các phương án này có
thể đưa lại những hiệu quả khác nhau với mức độ rủi ro khác nhau, một
phương án đem lại hiệu quả cao có khi lại phải đối mặt với rủi ro lớn. Do đó
các nhà quản lý tài chính phải luôn cân nhắc trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng
trước khi đưa ra các quyết định của mình và luôn đảm bảo nguyên tắc đảm
bảo cho doanh nghiệp đạt mức lợi nhuận cao nhất và ổn định.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn phải tuân thủ các nguyên tắc khác như:
Nguyên tắc chi trả, nguyên tắc thị trường có hiệu quả, nguyên tắc giá trị thời
gian của tiền…
24