Công cuộc chuẩn bị lực lượng và khởi nghĩa giành chính quyền ở Phổ Yên Thái Nguyên - Pdf 26

đại học thái nguyên
TRNG đại học S phạm
----------------------------
Lê thị quỳnh liu
Công cuộc chuẩn bị lực LNG và khởi nghĩa giành
chính quyền ở phổ yên tỉnh thái nguyên
(từ 1939 đến 1945)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54
Luận Văn thạc sĩ khoa học lịch sử
NGI HNG dẫn khoa học: TS. Nguyễn Duy Tiến
Về quá trình chuẩn bị lực lượng, tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền ở
huyện Phổ Yên đã được một số cơ quan, nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Tuy nhiên còn có những nội dung cần được tiếp tục bổ sung, làm rõ hơn như:
vị trí, vai trò của Phổ Yên trong quá trình xây dựng An toàn khu của TW;

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
việc đảm bảo giao thông liên lạc giữa phong trào cách mạng các tỉnh miền
xuôi với chiến khu.
Lịch sử dân tộc bao gồm lịch sử các địa phương, muốn nghiên cứu lịch sử
của dân tộc một cách toàn diện thì không thể không tìm hiểu lịch sử của các địa
phương. Việc nghiên cứu lịch sử địa phương sẽ góp phần làm sáng rõ, bổ sung,
làm phong phú thêm lịch sử dân tộc và khẳng định vị trí không thể tách rời của
lịch sử các địa phương
Hiện nay, trước những yêu cầu cải tạo kinh tế, xã hội nhiều địa phương đã
đẩy mạnh quá trình nghiên cứu lịch sử địa phương, đúc kết những bài học kinh
nghiệm quý, phát huy những truyền thống tốt đẹp nhằm đẩy mạnh quá trình
phát triển kinh tế, xã hội địa phương, xây dựng chế độ mới, con người mới xã
hội chủ nghĩa. Qua đó, tìm ra những nhược điểm để khắc phục.
Lịch sử Phổ Yên là một bộ phận của lịch sử tỉnh Thái Nguyên, và là một
bộ phận của lịch sử dân tộc Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu về lịch sử Phổ Yên từ
năm 1939 đến năm 1945 sẽ góp phần làm sáng rõ lịch sử dân tộc giai đoạn này.
Nghiên cứu công cuộc vận động xây dựng lực lượng cách mạng tiến tới
tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám năm 1945 ở
huyện Phổ Yên sẽ giúp chúng ta bổ sung thêm nguồn tư liệu lịch sử, phục dựng
chân xác hoạt động chuẩn bị lực lượng cách mạng ở huyện Phổ Yên. Việc
nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử của địa phương sẽ góp phần khơi dậy giáo dục
truyền thống yêu quê hương, đất nước và nâng cao niềm tin vào Đảng, Nhà nước và
chế độ xã hội chủ nghĩa cho mọi thế hệ nhân dân Phổ Yên hôm nay và mai sau.

bước hình thành cơ sở cách mạng đầu tiên ở tổng Tiên Thù (xã Tiên Phong
ngày nay), đường dây hoạt động cách mạng từ Căng Bá Vân lan ra Xuân Lãng,
Phúc Thuận, Phi Đơn, Niệm Cuông, Mỏ Chè, Phố Cò…Phần thứ hai, các tác
giả phân tích tình hình thế giới, trong nước và quá trình chuyển hướng chỉ đạo
chiến lược, sách lược cách mạng của Đảng đã góp phần định hướng thúc đẩy
phong trào cách mạng ở huyện Phổ Yên. Cuốn sách đã dành nhiều trang để
phân tích, trình bày phong trào cách mạng ở tổng Tiên Thù và những hoạt động

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
du kích liên quan đến hoạt động của các chiến sĩ cách mạng ở “Căng Bá Vân”.
Về hoạt động chuẩn bị lực lượng trực tiếp cho tổng khởi nghĩa trong cao trào
kháng Nhật, các tác giả đã trình bày về quá trình chuẩn bị lực lượng chính trị, vũ
trang và chớp thời cơ giành chính quyền ở huyện lỵ Phổ Yên. Tuy cuốn sách đã
dành nhiều trang trình bày về hoạt động chuẩn bị lực lượng, nhưng chưa hệ
thống, chỉ tập trung chủ yếu vào hoạt động chuẩn bị lực lượng vũ trang, có nhiều
sự kiện lịch sử chưa chính xác. Cuốn sách chưa phân tích và trình bày được vai
trò, vị trí của công cuộc chuẩn bị lực lượng tiến đến khởi nghĩa giành chính
quyền của huyện Phổ Yên.
Từ năm 1990 đến năm 1995, trên cơ sở những ý kiến đóng góp của các cán
bộ lão thành cách mạng, của đông đảo cán bộ, đảng viên trong toàn huyện, Ban
thường vụ huyện uỷ Phổ Yên đã thẩm định và xác minh làm rõ nhiều vấn đề
lịch sử trong thời kỳ 1930 – 1954 và quyết định biên soạn lại cuốn sách “Lịch
sử Đảng bộ Phổ Yên”. Trên cơ sở phê phán các loại tư liệu lịch sử, cuốn sách
đã chỉnh lý bổ sung một số sự kiện lịch sử. Tuy nhiên, nội dung cuốn “Lịch sử
Đảng bộ Phổ Yên” xuất bản năm 1995 không có gì thay đổi lớn so với cuốn
“Lịch sử Đảng bộ Phổ Yên” xuất bản năm 1990.
Bài viết “Khởi nghĩa từng phần ở Bắc Thái” của tác giả Phạm Tất Quynh
in trong tạp chí Lịch sử Đảng số 4/1995, đã trình bày về quá trình khởi nghĩa

đã có phân tích vị trí, mối quan hệ, vai trò của ATK II với các địa phương khác
trong đó có hoạt động trước cách mạng tháng Tám ở huyện Phổ Yên.
Tóm lại, cho đến nay chưa có công trình nào trình bày đầy đủ và hệ
thống về công cuộc chuẩn bị lực lượng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền
ở Phổ Yên từ 1939 đến 1945. Tuy nhiên, những tài liệu nêu trên là nguồn tư
liệu lịch sử có giá trị khoa học, đó là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu, hoàn
thiện luận văn của mình.
3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
Đề tài nghiên cứu công cuộc chuẩn bị lực lượng và khởi nghĩa giành chính
quyền ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên từ 1939 đến 1945.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: chủ yếu huyện Phổ Yên (sau năm 1985 là huyện Phổ
Yên và thị xã Sông Công).
Phạm vi thời gian: từ 1939 đến cách mạng tháng Tám năm 1945.
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đi sâu vào nghiên cứu công cuộc chuẩn bị lực lượng (lực lượng
chính trị, lực lượng vũ trang và căn cứ địa) và khởi nghĩa giành chính quyền ở
huyện Phổ Yên.
Khôi phục chân xác công cuộc chuẩn bị lực lượng và diễn biến Cách mạng
tháng Tám năm 1945 tại huyện Phổ Yên. Từ đó, nêu rõ vai trò, vị trí và mối
quan hệ giữa công cuộc chuẩn bị lực lượng tiến tới khởi nghĩa ở Phổ Yên với
các địa phương khác.
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
Các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng trong thời

mạng tháng Tám ở huyện Phổ Yên.
- Luận văn làm rõ vai trò của Phổ Yên trong quá trình tham gia xây dựng
An toàn khu của TW và vai trò “cầu nối liên lạc” giữa phong trào cách mạng
các tỉnh miền xuôi với khu giải phóng.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài còn là nguồn tài liệu phục vụ cho quá trình
giảng dạy lịch sử địa phương, góp phần giáo dục truyền thống yêu quê hương,
đất nước và lòng tự hào dân tộc.
6. Bố cục nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn được
xây dựng thành 3 chương.
Chương 1. Vài nét về mảnh đất con người và truyền thống lịch sử

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
Chương 2. Công cuộc xây dựng lực lượng cách mạng (từ 1939 đến 3/1945)
Chương 3. Phổ Yên trong cao trào kháng Nhật cứu nước và khởi nghĩa giành
chính quyền (từ tháng 3 đến 8/1945) Chương 1
VÀI NÉT VỀ MẢNH ĐẤT CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ
1.1. Điều kiện địa lý tự nhiên
Phổ Yên (nay là huyện Phổ Yên và thị xã Sông Công) là một huyện trung
du, nằm phía nam tỉnh Thái Nguyên, phía đông giáp huyện Hiệp Hoà (Bắc
Giang) và huyện Phú Bình, phía nam giáp Sóc Sơn (Hà Nội), phía tây và tây
bắc tiếp giáp với dãy Tam Đảo (Phúc Yên) và huyện Đại Từ, phía bắc giáp thị

dân, thúc đẩy kinh tế, văn hoá địa phương phát triển.
Ngoài các tuyến đường bộ, sông Cầu và sông Công cùng với hệ thống
kênh máng, ao, hồ không chỉ thuận lợi cho việc tưới tiêu, là nguồn cung cấp
thuỷ sản cho nhân dân trong huyện mà còn là hệ thống giao thông đường thuỷ
hết sức quan trọng. Quan trọng nhất là sông Cầu và sông Công, từ thị xã Thái
Nguyên sông Cầu chảy xuống phía đông và đông nam của huyện Phổ Yên, tạo
thành danh giới tự nhiên với huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang). Sông Công chảy
theo hướng bắc xuống nam, chia Phổ Yên thành hai phần. Hai con sông hợp
lưu tại ngã ba Vát (thôn Phù Lôi, xã Thuận Thành). Với lưu lượng nước tương
đối lớn, hai con sông đã mang nhiều phù sa, nguồn lợi về cho huyện và góp
phần quan trọng thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển. Trong lịch sử sông Cầu
không chỉ là biên giới tự nhiên bảo vệ phía bắc kinh thành Thăng Long mà còn
là tuyến đường huyết mạch giao lưu kinh tế nối đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh
miền núi phía Bắc. Trên địa bàn huyện Phổ Yên, bến Đại Phùng xưa (nay là
chợ Chã) đã từng là trung tâm giao lưu buôn bán trên bến dưới thuyền lớn nhất
trong khu vực, từ đây hàng hoá ngược lên bến Thượng, Thái Nguyên và xuôi
đến tận Hải Phòng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
Do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, cho nên trong suốt quá trình lao
động, chống giặc ngoại xâm tộc người Kinh đã đoàn kết với các tộc người Tày,
Nùng, Sán Dìu,…cùng xây dựng, bảo vệ quê hương Phổ Yên. Sau khi giành
được quyền độc lập tự chủ, các triều đình phong kiến nước ta đã chọn Thái
Nguyên để xây dựng tuyến phòng ngự chống lại giặc phương Bắc. Với vị trí
nằm ở cực nam của tỉnh Thái Nguyên, cho nên Phổ Yên luôn là phên dậu quan
trọng bảo vệ phía Bắc kinh thành Thăng Long - Hà Nội qua các thời kỳ.
Nhìn chung, địa hình Phổ Yên là bán sơn địa, có nhiều đồi núi đất. Trước
cách mạng tháng Tám năm 1945 còn có nhiều rừng rậm rất thuận lợi cho hoạt

thành lập thị xã Sông Công, huyện Phổ Yên còn lại là 18 xã và 3 thị trấn [42].

Cư trú trên địa bàn huyện Phổ Yên là những cư dân thuộc 7 tộc người:
“Kinh, Sán Dìu, Tày, Nùng, Dao, Hoa, Mường; trong đó người Kinh (Việt) có
số đông (93,76%), Sán Dìu (5,09%), Tày (0,53%), Nùng (0,3%), Dao (0,26%),
Hoa và các dân tộc khác chiếm 0,06% và sống xen kẽ với nhau, riêng đồng
bào Dao cư trú chủ yếu ở các xã chân dãy Tam Đảo” [41,tr.39]. Trên một địa
bàn không rộng, có nhiều tộc người cùng cư trú, văn hoá - xã hội của Phổ Yên
mang những sắc thái riêng. Bên cạnh kết cấu, quan hệ bản làng tồn tại ở các
vùng dân tộc ít người là kết cấu quan hệ làng xóm với đình làng, luỹ tre xanh
của người kinh. Đặc điểm đó đã làm phong phú thêm đời sống văn hoá, tâm
linh của dân cư trên địa bàn. Trong quá trình phát triển của lịch sử, trải qua
các cuộc đấu tranh chống thiên tai, địch hoạ, quan hệ giao lưu giữa các vùng,
các dân tộc đã tạo nên một cộng đồng dân cư thống nhất bền chặt, đó là “cơ
sở” để các tộc người trên địa bàn Phổ Yên cùng xây dựng quê hương và chống
lại thù trong giặc ngoài.
Với những đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và những tư liệu
lịch sử chứng tỏ đất và người Phổ Yên đã luôn gắn với quá trình xây dựng đất
nước, chống giặc ngoại xâm, duy trì bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Quá trình

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
phát triển lịch sử lâu dài đã hình thành cho con người Phổ Yên truyền thống yêu
nước, bất khuất trước mọi thách thức, khó khăn.
1.3. Truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng
Xuất phát từ điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế và thường xuyên phải
cùng nhau trị thuỷ, chống lại giặc xâm lược từ phương Bắc, nhân dân các tộc
người Phổ Yên luôn đoàn kết, gắn bó keo sơn. Tuy đời sống của nhân dân Phổ
Yên còn nghèo khó về vật chất, nhưng họ đều rất dũng cảm, yêu lao động, căm

Sang thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam ngày càng khủng hoảng,
nền kinh tế bế tắc, đời sống nhân dân khốn cùng, bộ máy chính quyền ngày
càng quan liêu, tha hoá. Mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt, đã làm bùng lên
làn sóng đấu tranh quyết liệt của các tầng lớp trong xã hội chống lại nhà
Nguyễn. Trong nửa đầu thế kỷ XIX, đã có gần 400 cuộc khởi nghĩa nổ ra.
Năm 1806, Dương Đình Cúc phất cờ khởi nghĩa đã được đông đảo nhân
dân Phổ Yên tham gia.
Năm 1833, nhân dân Phổ Yên đã cùng đồng bào trong tỉnh hưởng ứng cuộc
khởi nghĩa do Nông Văn Vân lãnh đạo. Sau khi đánh chiếm Thái Nguyên, nghĩa
quân đã bắt quan lại, thích vào mặt dòng chữ “quan tỉnh ăn hối lộ”, rồi đuổi ra
khỏi thành. Sau đó nhân dân Phổ Yên lại tiếp tục tham gia cuộc khởi nghĩa do
Cai Vàng chỉ huy [77].
Do triều Nguyễn phải tập trung lực lượng đàn áp các cuộc khởi nghĩa của
nông dân, cho nên biên giới phía bắc nước ta gần như bỏ ngỏ. Vì thế, năm
1870 tàn quân của phong trào nông dân Thái Bình Thiên Quốc từ Vân Nam
(Trung Quốc) tràn vào tỉnh ta, đánh chiếm thành Thái Nguyên và phủ Phú
Bình. Nhân dân các dân tộc trong phủ Phú Bình cùng các vùng lân cận hưởng
ứng lời kêu gọi của tri phủ Đoàn Công Trịnh, đã tự vũ trang đánh trả kẻ thù,
bảo vệ quê hương.
Đầu năm 1884, quân Cờ Đen do Lý A Sinh cầm đầu đã đánh chiếm và
cướp bóc hầu hết các tổng trong phủ Phú Bình. Một lần nữa nhân dân trong
khu vực và quân triều đình do Tôn Thất Thuyết chỉ huy cùng đánh đuổi bọn
giặc cướp lên phía Bắc.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
Cùng với truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động và dũng cảm, đoàn
kết chống lại giặc ngoại xâm, nhân dân các dân tộc Phổ Yên còn có truyền
thống hiếu học, thờ cúng tổ tiên và các vị anh hùng…Tất cả những truyền thống

thất nặng nề và phải bỏ dở cuộc tấn công.
Sau khi củng cố lực lượng, ngày 19/3/1884, quân Pháp từ Bắc Ninh tiến
sang đánh chiếm thị xã Thái Nguyên. Do chênh lệch về lực lượng và sự nhu
nhược của bọn quan quân, từ tháng 5/1884 thực dân Pháp từng bước đặt ách
thống trị lên đầu nhân dân Thái Nguyên, trong đó có huyện Phổ Yên.
Sau khi hoàn thành việc xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã biến bộ máy
nhà nước của triều Nguyễn thành công cụ, tay sai đắc lực cho chúng. Chính
quyền thực dân đã sử dụng cả hệ thống bộ máy nhà nước từ triều đình cho đến
tận các làng xã. Với những thủ đoạn đó, thực dân Pháp chẳng những che đậy
được bộ mặt thực dân xâm lược mà còn tạo ra một đội ngũ tay sai trung thành
với chúng cả về kinh tế và chính trị. ở mỗi cấp chính quyền, thực dân Pháp duy
trì một lực lượng quân sự nhất định để làm công cụ đàn áp nhân dân ta. Đứng
đầu bộ máy cai trị bản xứ ở cấp tỉnh là viên Công sứ người Pháp. “Đến năm
1901, thực dân Pháp cơ bản thiết lập xong bộ máy cai trị tại tỉnh Thái
Nguyên” [41,tr.10].
Thực dân Pháp chia huyện Phổ Yên làm 6 tổng, 28 làng (1901). Để bảo
vệ chính sách thống trị của mình, thực dân Pháp thiết lập hệ thống đồn bốt dày
đặc, vững chắc nhằm kiểm soát các đầu mối giao thông quan trọng, các khu vực
quan trọng như đồn Sơn Cốt (1886), đồn Trinh Nữ, Phố Cò, Phúc Thuận,…đến
năm 1934 - 1935 chúng lập thêm đồn Chã, Hà Châu. Hệ thống đồn bốt này nằm
trong bộ máy cai trị thực dân trong phạm vi toàn tỉnh Thái Nguyên, nhằm trấn
giữ vị trí cửa ngõ nối liền đồng bằng Bắc bộ với miền thượng du phía bắc.
Dưới thời thực dân phong kiến, nhân dân ta phải sống trong cảnh nghèo
đói. Phần lớn ruộng đất đều bị địa chủ người Pháp hoặc địa chủ người Việt
chiếm đoạt, người nông dân bị bần cùng hoá không lối thoát.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
Năm 1887, trong khi chưa hoàn thành công cuộc bình định Thái Nguyên,

quản lý và dần tập trung vào tay chúng.
Số địa chủ người Việt tuy không có quyền lực, sức mạnh như địa chủ
người Pháp nhưng dựa vào chính quyền thực dân chúng ra sức áp bức, bóc lột
giai cấp nông dân, tước đoạt ruộng đất của nông dân ở những nơi mà bọn thực
dân chưa vươn tới.
Dưới chế độ thực dân phong kiến, giai cấp nông dân chiếm trên 90% dân
số trong huyện. Trong đó, 80% không có hoặc thiếu ruộng đất canh tác, phải
làm tá điền, cam chịu cuộc sống làm thuê cuốc mướn trong các đồn điền của địa
chủ. Hầu hết ruộng đất bị chủ đồn điền và địa chủ chiếm đoạt. Ngoài các chủ
đồn điền, số địa chủ không nhiều, chủ yếu là địa chủ vừa và nhỏ. Hình thức bóc
lột chính và phổ biến nhất là thu tô và cho vay nặng lãi. Thông thường mức tô
từ 50 đến 60% sản lượng, bất kể ruộng đất tốt hay xấu, được mùa hay mất mùa,
mức tô là 8 phương thóc (tương đương 160 kg) một mẫu. Những gia đình nông
dân nghèo không có trâu cày, phải thuê trâu của nhà giàu với giá từ 8 - 12
phương thóc một con. Ngoài tô chính còn nhiều khoản tô phụ như lễ lạt, biếu
xén trong các dịp giỗ, tết. Lãi suất cho vay rất cao, vay thóc thường được địa
chủ tính lãi theo mùa, với mức lãi từ 50 đến 60%. Do đó, lãi mẹ đẻ lãi con khiến
cho người vay không thể trả hết nợ, buộc phải gán ruộng đất cho địa chủ [65].
Trong các đồn điền của Pháp, chúng kết hợp hình thức bóc lột phong
kiến với hình thức bóc lột tư bản. Bên cạnh việc duy trì hình thức phát
canh thu tô đối với tá điền, chúng tìm cách bóc lột ngày công đối những
người làm khoán hay công nhật vào các dịp mùa vụ. “Quyền lực của bọn
địa chủ Pháp - Việt rất lớn. Mỗi đồn điền được tổ chức như một đơn vị
hành chính riêng, có chánh phó tổng, lý trưởng và lực lượng tuần đinh
phục vụ cho công việc quản lý đồn điền và ấp trại” [41,tr.12].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
Cùng với các chính sách bóc lột, vơ vét cướp đoạt ruộng đất bần cùng

đi học, hơn 95% dân số Phổ Yên mù chữ. Bên cạnh đó, nhà cầm quyền Pháp sử
dụng báo chí, văn hoá,…để phục vụ công cuộc khai thác và thống trị. Chúng ưu
tiên, khuyến khích xuất bản các loại sách báo theo chủ trương “Pháp - Việt đề
huề”, “Pháp - Việt hợp tác”. Hệ quả là các trào lưu tư tưởng mới, khoa học kỹ
thuật, văn hoá, nghệ thuật phương Tây có điều kiện tràn vào Việt Nam. Các yếu
tố, giá trị văn hoá truyền thống và văn hoá ngoại nhập, nền văn hoá mới, tiến bộ
từng bước được định hình. Trên địa bàn huyện Phổ Yên, do tác động của chính
sách văn hoá giáo dục của thực dân Pháp, đã hình thành nên số ít trí thức tân
học, đó là điều kiện thuận lợi cho quá trình tiếp thu lý luận cách mạng tiên tiến
và hoạt động cách mạng, tiêu biểu như đồng chí Đỗ Đình Tạo (Tú Tạo), đồng
chí Ngô Hải Long.
Lợi dụng trình độ văn hoá thấp kém của quần chúng, thực dân Pháp
khuyến khích việc mê tín dị đoan. Sức khoẻ, tính mạng của nhân dân lao động
bị coi thường. Cả huyện chỉ có một y tá chữa bệnh cho bọn quan lại và binh
lính. Người dân mỗi khi bị đau ốm, chỉ biết cầu trời, khấn Phật. Các tệ nạn xã
hội như cờ bạc, rượu chè, nghiện hút,…được khuyến khích phát triển. Những
chính sách của thực dân Pháp đã làm cho đời sống nhân dân Phổ Yên thêm cơ
cực. Với chính sách phản động trên, dưới chế độ thực dân, phong kiến, người
dân Phổ Yên vô cùng cực khổ lầm than, “tức nước vỡ bờ” nhân dân Phổ Yên
không cam chịu kiếp sống trâu ngựa, đã nhiều lần đứng lên đấu tranh để giành
lấy quyền sống, quyền làm người.
Ngay từ khi thực dân Pháp đánh chiếm Thái Nguyên, trước sự chống cự
yếu ớt rồi đi đến đầu hàng giặc của quan quân triều Nguyễn, nhân dân các dân
tộc Phổ Yên đã luôn đoàn kết cùng nhân dân các dân tộc Thái Nguyên nói
chung, sát cánh, quy tụ xung quanh các thủ lĩnh địa phương, tiến hành những
trận tập kích, phục kích các toán lính Pháp đang tiến hành lùng sục, bình định
các vùng phụ cận tỉnh lỵ, huyện lỵ, khiến cho tên Công sứ tỉnh Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



21
Được sự dung dưỡng của chính quyền thực dân, địa chủ người Pháp và
địa chủ người Việt tăng cường cướp đoạt ruộng đất, bóc lột nhân dân thông qua
địa tô, thuế và chế độ lao dịch cưỡng bức. Nhân dân Phổ Yên lúc bí mật, lúc
công khai tiến hành cuộc đấu tranh làm cho bọn địa chủ phải vất vả đối phó.
Trong những năm 1887 – 1888, nông dân đã tự động dấy lên phong trào chống
lệnh Công sứ cắt đất cho địa chủ người Tây lập đồn điền. Những người nông
dân bị mất đất ruộng làm thuê trong các đồn điền, thường tìm cách phá hoại
ngấm ngầm (phá hoại hệ thống thuỷ lợi, phá hỏng sản phẩm,…) khiến cho công
việc mở rộng sản xuất, phát triển của bọn địa chủ gặp nhiều khó khăn. Năm
1932, bọn địa chủ phải xin trả bớt đất đai cho chính phủ bảo hộ với lý do ở đây
“đất không đãi khách”, “khó làm ăn”, “khí hậu độc, nhân công khan hiếm”,…
Ngoài ra, những cuộc đấu tranh chống bắt phu làm đường quân sự, chống
sưu cao thuế nặng, vận động con em không hợp tác, làm tay sai cho
địch,…thường xuyên diễn ra. Hơn nữa, nhân dân còn tổ chức trừng trị những tên
tay sai gian ác có nợ máu với nhân dân. Năm 1918, một số lính trong đồn Chã đã
bị nhân dân địa phương trừng trị khi chúng vào làng cướp bóc của dân [41].
Những cuộc đấu tranh của nhân dân Phổ Yên cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ
XX lúc bí mật, lúc công khai đã thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham
gia, đặc biệt là giai cấp nông dân, nhưng tất cả đều thất bại. Đây không chỉ là
đặc điểm riêng của phong trào đấu tranh của nhân dân Phổ Yên mà là đặc điểm
chung của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam cuối thế kỉ XIX
đầu thế kỉ XX. Do khủng hoảng về đường lối và lãnh đạo cách mạng cho nên
các cuộc đấu tranh của nhân dân ta đều nổ ra mang tính tự phát, lẻ tẻ, chưa có
đường lối, tổ chức lãnh đạo rõ ràng. Vấn đề cấp thiết đặt ra cho cách mạng Việt
Nam lúc này là phải có một tổ chức lãnh đạo cách mạng tiên tiến để tổ chức
lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh phản đế, phản phong giành độc
lập tự do và ruộng đất cho dân cày.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

23
quan trọng đầu tiên cho những thắng lợi tiếp theo. Sự ra đời của Đảng Cộng sản
Việt Nam là bước ngoặt lịch sử quan trọng của cách mạng Việt Nam.
Với Cương lĩnh cách mạng đúng đắn của Đảng đã đáp ứng được yêu cầu
của lịch sử và nguyện vọng tha thiết của nhân dân ta. Ngay sau khi ra đời, Đảng
đã đưa dân tộc ta vào cuộc đấu tranh mới.
Dưới dự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng 1930 - 1931 với đỉnh
cao Xô viết Nghệ - Tĩnh tuy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn nhưng có ý
nghĩa hết sức to lớn. Phong trào cách mạng 1930 - 1931 cùng với sự ra đời của
chính quyền Xô viết Nghệ - Tĩnh là kết tinh sức mạnh to lớn của khối liên minh
công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo, đã chứng tỏ tinh thần oanh liệt và
năng lực cách mạng của nhân dân lao động Việt Nam, phong trào tuy thất bại,
nhưng nó góp phần rèn luyện lực lượng cách mạng và để lại nhiều bài học kinh
nghiệm quý cho giai đoạn tiếp theo.
Từ cuối năm 1931, trước sự khủng bố ác liệt của thực dân Pháp, phong
trào cách mạng Việt Nam tạm thời lắng xuống, hàng vạn người con Việt Nam
yêu nước bị bắt, tù đầy, bị tra tấn hành hạ đến chết. Trước sự tổn thất nặng nề
của Đảng cộng sản Đông Dương, Quốc tế Cộng sản đã có kế hoạch tổ chức lại
Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1932, theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản Lê
Hồng Phong và một số đồng chí khác về Hương Cảng lập ban lãnh đạo Trung
ương Đảng. Tháng 6/1932, “Chương trình hành động” của Đảng đã được soạn
thảo và thông qua. Dưới ánh sáng “Chương trình hành động”, quần chúng công
nông đã sáng tạo ra các tổ chức và hình thức đấu tranh thích hợp. Các tổ chức
biến tướng như Hội cày, Hội cấy, Hội hiếu,…được thành lập ra. Phong trào
cách mạng của quần chúng dần dần được nhen nhóm lại.
Đầu năm 1933, đồng chí Nguyễn Tạo (sau này là Tổng cục trưởng Tổng
cục Lâm Nghiệp) về hoạt động tại đồn điền Tú Tạo (Đa Phúc). Tại đồn điền

năm 1936 - 1939.

Trích đoạn Những thủ đoạn cai trị của phỏt xớt Nhật tại địa phương Bước phỏt triển mới của cụng cuộc xõy dựng lực lượng Thời cơ cỏch mạng và chủ trương của Đảng Khởi nghĩa giành chớnh quyền trong toàn huyện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status