Qui trình lao động của phóng viên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhờ khả năng tác động mạnh mẽ, rộng lớn và nhanh chóng đối với công
chúng, báo chí có vai trò quan trọng trong việc tạo dựng và định hướng dư luận
xã hội. Thêm vào đó, ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và
công nghệ, còn thúc đẩy báo chí tham gia vào việc quản lý quá trình phát
triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Chất lượng và hiệu quả hoạt động báo
chí góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc giải quyết các nhiệm
vụ xây dựng và phát triển đất nước trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
Với tư cách là chủ thể của hoạt động báo chí, mỗi nhà báo đều phải luôn
xác định vai trò của mình là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa – tư tưởng. Để
thực hiện được những công việc đó, đòi hỏi nhà báo không chỉ có kiến thức
sâu rộng, giỏi nghiệp vụ mà còn phải có cái tâm trong sáng. Bởi việc nhà báo
đưa một thông tin đúng hay sai sự thật không chỉ ảnh hưởng tới một cá nhân
mà lien quan tới hàng triệu triệu người.
Đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Xu thế phát
triển kinh tế thị trường đã có những tác động tích cực, làm thay đổi bộ mặt của
báo chí nước ta. Trong 10 năm qua, báo chí đã xác lập được một vai trò rất to lớn
trong đời sống tinh thần. Báo chí đã phát triển nhanh về số lượng, chất lượng và
loại hình. Đời sống báo chí ngày càng trở nên sống động, phong phú. Điều đó góp
phần làm cho mọi hoạt động của xã hội, của đất nước ngày càng cởi mở hơn.
Tuy nhiên, dù có sự định hướng của Nhà nước, song nền kinh tế thị trường
vẫn bộc lộ những khiếm khuyết, mặt trái của nó như: coi trọng sức mạnh của đồng
tiền; nảy sinh nhiều tiêu cực trong xã hội Những vấn nạn này đã gây tác hại
không nhỏ tới phẩm cách của con người, khiến đạo đức xã hội có chiều hướng
xuống cấp. Sự sa ngã của một số cán bộ cốt cán đã làm giảm uy tín của Đảng và
Nhà nước, gây mất lòng tin của nhân dân . Đặc biệt, sự tha hóa của một bộ phận
cán bộ báo chí - những người có nhiệm vụ tuyên truyền, định hướng dư luận xã
1
hội - có ảnh hưởng xấu và tác hại đến toàn xã hội. Đã có một số ít nhà báo
“đức không trong, tâm không sáng” lợi dụng nghề nghiệp của mình để

Một số cơ quan báo chí chưa tự giác chấp hành sự lãnh đạo của Đảng,
sự quản lý của Nhà nước, có biểu hiện coi nhẹ chức năng chính trị, tư tưởng
của báo chí cách mạng, xa rời tôn chỉ, mục đích; thiếu nhạy bén chính trị, bị
khuynh hướng "thương mại hoá" chi phối, chạy theo thị hiếu tầm thường,
nặng thông tin về những hiện tượng tiêu cực, yếu kém, mặt trái của xã hội,
thổi phồng, khoét sâu vào các thiếu sót, khuyết điểm, làm "nóng" lên một số
vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, của các ngành, địa phương một
cách thiếu ý thức và không đáng có; đăng cả những thông tin mật của Nhà
nước, những bí mật kinh tế liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, khai thác đời tư cá nhân, vi phạm Luật Báo chí; ít chú ý tới việc phát
hiện, cổ vũ, biểu dương những tấm gương người tốt, việc tốt, những nhân tố
mới, điển hình tiên tiến trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Một số tờ báo đăng những thông tin sai sự thật, suy diễn chủ quan, khi biết sai
không cải chính hoặc cải chính không nghiêm túc; khai thác và sử dụng thông
tin của báo chí bên ngoài thiếu chọn lọc, trái với quan điểm, đường lối của
Đảng và Nhà nước, truyền thống văn hoá của dân tộc
Trong Báo cáo tổng kết tám năm thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Báo chí (tháng 12/2007), Bộ TT&TT cũng chỉ ra
những hạn chế của báo chí:
Thông tin sai sự thật vẫn tiếp tục diễn ra nhưng chậm được khắc phục…;
thông tin xâm phạm bí mật đời tư công dân, thậm chí xúc phạm nghiêm trọng uy
tín, danh dự nhân phẩm của công dân, vi phạm các quy định của Luật Báo chí;
thông tin thiếu nhạy cảm về chính trị, không phù hợp với lợi ích của đất nước,
gây bất lợi cho hoạt động kinh tế, đối ngoại; thông tin dung tục, không phù hợp
với thuần phong, mỹ tục Việt Nam, làm suy giảm tính định hướng, tính giáo dục
và tính thẩm mỹ của báo chí. Một số cơ quan báo chí vi phạm điều 10 Luật Báo
3
chí về việc đưa lên mặt báo nhiều nội dung sai sự thật gây hậu quả xấu, nội
dung cấm thông tin như tiết lộ bí mật Nhà nước, kích dâm, kích động bạo lực…
Đặc biệt, đối với loại hình báo mạng điện tử - phương tiện truyền thông

trội song vẫn phải không ngừng nâng cao chất lượng thông tin, đảm bảo uy
tín trước hàng triệu triệu công chúng.
Những năm gần đây, về cơ bản các phóng viên báo mạng của ta đã thể
hiện những nỗ lực đáng kể trong quá trình lao động tác nghiệp. Tuy nhiên, xét
từ những tiêu chí hiện đại hoá nền báo chí nước nhà, năng lực, phẩm chất của
người phóng viên báo mạng cần được nâng cao hơn về mọi mặt. Vì vậy, việc
đi sâu tìm hiểu cụ thể, toàn diện qui trình lao động của phóng viên báo mạng
điện tử Việt Nam hiện nay, bước đầu nhằm góp phần xác định bản chất các
dạng lao động của phóng viên tác nghiệp loại hình báo chí này cùng những
yêu cầu đặt ra đối với mỗi phóng viên. Trên cơ sở những vấn đề của thực
trạng, việc đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng cho lao động của phóng viên báo mạng điện tử Việt Nam là hết sức cần
thiết, nhất là đối với các cơ sở đào tạo báo chí hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề lao động nhà báo đã được đề cập trong một số công trình
nghiên cứu về lý luận báo chí như: Cơ sở lý luận báo chí, Tạ Ngọc Tấn (Chủ
biên), NXb Lý luận Chính trị, H. 2005. Đây là cuốn sách nhằm mục đích hệ
thống hóa những vấn đề mang tính đại cương về báo chí nên lao động nhà báo
chỉ được giới thiệu từ góc độ khái quát.
Trong cuốn Lao động nhà báo, lý thuyết và những kỹ năng cơ bản ( Nguyễn
Thị Nhã, NXB Chính trị - Hành chính, 2010), tác giả đã đi sâu tìm hiểu tương
đối toàn diện những khía cạnh cơ bản liên quan tới qui trình tác nghiệp của
5
phóng viên. Tuy nhiên, theo hướng tìm hiểu mang tính tổng quan về lao động
nhà báo, những đặc thù trong lao động của phóng viên báo mạng chưa được
đặt ra trong mục đích nghiên cứu của cuốn sách này.
Riêng đối với bBáo mạng điện tử , ở Việt Nam, mặc dù loại hình báo
này đã có chặng đường phát triển hơn 10 năm nhưng so với các loại hình báo
chí truyền thống, báo mạng vẫn còn hết sức non trẻ. Vì vậy, các công trình
nghiên cứu về loại hình báo chí này cũng chưa nhiều. Những năm gần đây, có

Truyền thông đại chúng, Phân viện báo chí và Tuyên truyền, H.2003); Quản
lý báo mạng điện tử ở Việt nam thực trạng và giải pháp (Vũ Thị Huệ: Luận
văn Thạc sĩ Truyền thông đại chúng, Học viện báo chí và Tuyên truyền,
H.2004); Hoạt động tương tác trên báo mạng điện tử (Trần Quang Huy, Luận
văn Thạc sĩ Truyền thông đại chúng, Học viện báo chí và Tuyên truyền,
H.2006); Tính đa phương tiện trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay (Vũ
Anh Tú, Khóa luận tốt nghiệp, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, H. 2007;
Khả năng lưu trữ và tìm kiếm thông tin trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện
nay ((Đỗ Thị Thanh Hương: Khóa luận tốt nghiệp, Học viện báo chí và Tuyên
truyền, H.2008); Box thông tin và link trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện
nay, Vương Thanh Tâm, Khóa luận tốt nghiệp, Học viện báo chí và Tuyên
truyền, H.2011)… Với những phạm vi nhỏ, các bài viết cũng như các công
trình nghiên cứu ở cấp thạc sỹ này chưa thể đem lại một bức tranh toàn cảnh
về lao động của phóng viên báo mạng điện tử Việt nam.
Có thể thấy cho đến nay, hướng nghiên cứu chuyên biệt về lao động
của phóng viên báo mạng điện tử Việt Nam, hầu như chưa có công trình
nghiên cứu nào đề cập tới một cách hệ thống. Tuy nhiên, nhu cầu bức thiết
của thực tiễn cùng những gợi mở từ các tài liệu trên đã thôi thúc tôi thực hiện
và hoàn thiện luận văn này
7
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của luận văn đích tìm hiểu thực tiễn lao động của phóng viên
báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay để từ đó tìm ra những giải pháp nâng
cao chất lượng lao động của phóng viên tác nghiệp ở loại hình báo chí này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
+ Hệ thống một số vấn đề lý luận và thực tiễn về lao động của phóng viên
báo mạng điện tử Việt Nam: khái niệm, vị trí, vai trò của lao động phóng viên
báo mạng điện tử Việt Nam; những nội dung và yêu cầu của lao động phóng

5.2.1. Các phương pháp chính:
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi áp dụng các
phương pháp cụ thể như sau:
+ Phương pháp phân tích tài liệu: Dùng để xem xét, phân tích các thông tin
có sẵn trong các tài liệu, từ đó rút ra những thông tin cần thiết phục vụ cho mục
đích nghiên cứu của đề tài. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích tài liệu, tác giả kế
thừa những kết quả nghiên cứu đã có, sử dụng nó để so sánh, minh hoạ cho các
kết quả khảo sát của mình, từ đó khẳng định những đóng góp mới của mình.
+ Phương pháp thống kê: Dùng để thống kê tài liệu, con số, sự kiện, dữ
liệu có được trong quá trình khảo sát.
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được dùng để phân tích, đánh giá
và tổng hợp những kết quả nghiên cứu nhằm đưa ra những luận cứ, luận điểm
khái quát…
+ Phương pháp điều tra xã hội học (Phỏng vấn sâu, Bảng hỏi): Được sử
dụng dùng nhằm thu thập ý kiến đánh giá của cá nhân về thực trạng của lao
động phóng viên báo mạng điện tử Việt Nam cũng như nhận thức của họ về
vấn đề này.
5.2.2. Công cụ khảo sát
Để tiến hành thu thập số liệu, tác giả đã tiến hành xây dựng bộ phiếu
khảo sát để thu thập ý kiến phản hồi của phóng viên và tiến hành phỏng vấn
sâu phóng viên báo mạng điện tử và cán bộ lãnh đạo quản lý.
Phiếu khảo sát ý kiến và phỏng vấn sâu được thiết kế gồm các câu hỏi
dưới dạng câu hỏi đóng và câu hỏi mở ( Phụ lục).
9
5.2.3. Chọn mẫu
Mẫu được chọn để phân tích là 250 phóng viên được lựa chọn ngẫu
nhiên từ danh sách phóng viên làm việc cho các trang báo mạng điện tử. Tác
giả đã lựa chọn 07 phóng viên và 02 lãnh đạo quản lý để phỏng vấn sâu.
Ngoài ra, tác giả còn lựa chọn 03 trang báo mạng gồm Dân trí, Vnexpress,
VietNamnet để theo dõi thông tin về số lượng bài đăng tải theo từng chuyên

lý luận báo chí Việt Nam nói chung, vấn đề lao động của phóng viên báo
mạng nói riêng.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn:
Về mặt thực tiễn, những kết quả nghiên cứu của luận văn là cơ sở để
những người trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực báo chí, đặc biệt là những
phóng viên báo mạng điện tử tham khảo để có hướng tác nghiệp trong quá trình
sáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử của mình; làm cơ sở khoa học phục vụ cho
việc học tập, nghiên cứu của sinh viên chuyên ngành báo mạng điện tử và
những ai quan tâm đến đề tài; gợi mở hướng nghiên cứu để những người tâm
huyết tiếp tục đi sâu tìm hiểu. Đồng thời, nó giúp cho các nhà báo, phóng viên
có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về ý nghĩa và vai trò của công việc mình
đang làm để ngày càng có ý thức học tập, tu dưỡng nhằm nâng cao chất lượng
trrong tác phẩm của mình.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình của tác giả, Danh
mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận án được phân bố
trí thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về lao động của phóng
viên báo mạng điện tử
Chương 2: Thực trạng lao động của phóng viên báo mạng điện tử ở Việt
Nam hiện nay
Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng lao
động của phóng viên báo mạng điện tử Việt Nam
11
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LAO ĐỘNG CỦA
PHÓNG VIÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Lao động nhà báo
Lao động là hoạt động của con người nhằm tạo ra sản phẩm vật chất và

liệu, khi nói đến lao động báo chí người ta thường chú trọng đến hoạt động của
cá nhân nhà báo trong sáng tạo tác phẩm mà ít đề cập đến các hoạt động khác.
Lao động báo chí ngày nay là quá trình hoạt động có tổ chức chặt chẽ
và tính tập thể cao. Để sản xuất ra một tờ báo có nhiều công đoạn, do vậy lao
động của nhà báo cũng bao gồm nhiều hoạt động khác nhau. Mỗi cá nhân
trong dây chuyền sản xuất ra sản phẩm báo chí hoàn chỉnh được phân công,
chuyên trách các nhiệm vụ riêng. Báo chí càng phát triển mạnh mẽ thì sự
phân công và chuyên môn hóa đó càng sâu sắc hơn. Mặc dù, có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau nhưng việc phân cấp rõ ràng các loại hình lao động trong
mỗi tòa soạn báo chí là việc quan trọng, cần thiết để đảm bảo cho mỗi công
việc có chất lượng, hiệu quả cao chống sự chồng chéo, thiếu chuyên nghiệp.
Theo Grabennhicoops, lao động của những người làm báo chí nổi lên
hai mắt xích cơ bản: “Mắt xích thứ nhất quản lý việc ra tờ báo, mắt xích thứ
hai thực hiện việc thu thập, xử lý thông tin, sản xuất ra văn bản tờ báo”
1
. Tùy
theo vai trò, nhiệm vụ, tần số, dung lượng, số bản phát hành của tờ báo và
những yêu cầu thực tiễn khác mà các mắt xích đó có thể phát triển hơn và
ngược lại. [30; tr.14]
1.1.2 Phóng viên
Phóng viên là “người chuyên đi lấy tin để viết bài công bố trên đài, báo”
1
Xét theo chức năng, nhiệm vụ lao động nghề nghiệp, phóng viên là “bộ
phận tri thức chuyên nghiệp làm nhiệm vụ phản ánh đời sống thực tiễn một
cách đa dạng, sinh động, kịp thời và thường xuyên đổi mới; từ đó thu nhận,
lựa chọn và đại chúng hóa một cách thích hợp những thông tin về đời sốn
13
thực tiễn; nhằm phục vụ các yêu cầu, mục tiêu tuyên truyền dã định trước;
bảo đảm thực hiện kế hoạch chung, thống nhất của toàn bộ hệ thống công tác
tư tưởng – văn hóa của Đảng, Nhà nước ta”

Đương nhiên, những đề tài, tin, bài được lựa chọn phải đáp ứng được những
yêu cầu của tờ báo đưa ra. Mỗi tờ báo căn cứ vào tôn chỉ, mục đích của mình
đều đề ra các tiêu chí riêng.
1.2. Vai trò của phóng viên trong tòa soạn báo mạng điện tử
Phóng viên là lực lượng trung tâm của tòa soạn báo chí. Họ thường
chiếm số đông trong tòa soạn.
Phóng viên là chủ thể sáng tạo tích cực, chuyên sản xuất ra những sản
phẩm dầu tiên trong guồng máy báo chí. Hoạt động nghiệp vụ của họ là cơ sở
đầu tiên thúc đẩy mọi hoạt động của tòa soạn. Những tin, bài bắt đầu từ sự
sáng tạo của phóng viên, chính là “nguyên liệu” cho một số bộ phận khác hoạt
động. Có tin, bài thì bộ phận biên tập, thư ký, in ấn mới hoạt động theo.
“Trong toàn bộ hoạt động báo chí, mọi cái đều bắt đầu từ công việc của
phóng viên. Một biên tập viên giỏi đến mấy mà không có tin bài của phóng
viên gửi về thì cũng chỉ còn nước ngồi uống nước trà mà đợi”
1
.
Phóng viên là mũi nhọn, là chủ công của tờ báo. Họ là người đi đến
ngọn nguồn tin tức. Họ làm cho tờ báo xứng đáng với danh hiệu “nhà quan
sát” hay “người đưa tin ban đầu”.
Phóng viên là những người chủ yếu làm lên sức mạnh, đem lại sinh khí,
sức sống cho tờ báo. Người ta thường ví phóng viên trong tòa soạn giống như
như những con ong nhanh nhẹn, cần mẫn bay đi mọi nơi hút mật ngọt về làm
tổ. Hoặc họ được ví như đội quân tiếp phẩm khéo léo, đảm đang lùng mua
được thật nhiều những nguyên vật liệu tươi ngon, sốt dẻo từ khắp mọi nẻo
đường, ngã phố .Đội quân chuyên dụng này sẽ làm cho tờ báo luôn đầy ắp
thông tin nóng hổi, đem đén cho độc giả những món ăn tinh thần không thể
thiếu trong cuộc sống thường nhật. Do vậy, tờ báo sẽ phát triển mạnh với một
đội ngũ phóng viên giỏi giang, năng động, ngược lại, nếu đội ngũ náy yếu
kém thì tờ báo sẽ có nguy cơ “phá sản”. Trên thực tế, tên tuổi của một tờ báo
thường được gắn liền với một số cây bút chủ lực. Chính những cây bút này đã

cứu tại liệu, phỏng vấn, lựa chọn thể loại, ngôn ngữ Tác phẩm báo chí phải
được sáng tạo dựa trên sự kiện, tình huống, hoàn cảnh, con người có thật để
luôn đảm bảo tính chính xác, độ tin cậy của thông tin.
Đối với những người làm báo mạng điện tử thì áp lực về “thời gian
mạng” và nhu cầu tin tức của “cư dân mạng trên khắp thế giới ” thật sự là một
thách thức . Bởi người đọc lúc nào cũng có mặt trên internet, nơi này là đêm
thì nơi khác lại là ngày. Hơn nữa bạn đọc còn đòi hỏi thông tin ngày càng
phải nhanh, mới và nóng bỏng. Vì vậy, tính thời sự là một trong những tiêu
chí mà bất kỳ một tờ báo nào cũng đều mong đạt tới. Để đáp ứng được những
điều đó, thì những phóng viên báo điện tử phải luôn nhanh nhạy, chủ động
và phải có khả năng đối mặt với nhiều áp lực, sức ép về thời gian cập nhật tin
bài. Gần như không có khái niệm về thời gian, chỉ khi nào làm hết việc mới
kết thúc. “Thông thường, phóng viên phải có bài viết tường thuật ngay hoặc
sau khi xảy ra sự kiện trong khoảng thời gian ngắn nhất có thể. Ví dụ như vụ
bắt cóc con tin tại trường trung học ở thành phố Beslan (Nga) ngày 01.9.2004.
Gần như ngay lập tức, đài truyền hình CNN đã cắt toàn bộ các chương trình
được chuẩn bị từ trước và cho truyền hình trực tiếp diễn biến sự việc. Để làm
được như vậy, CNN phải có một mạng lưới phóng viên trên khắp thế giới và
họ được trang bị tất cả những điều kiện cần thiết để có thể đưa tin nhanh nhất,
thậm chí là được trang bị cả máy bay trực thăng”. [10; tr. 71]
Phóng viên báo điện tử hầu như phải thực hiện hầu hết các công đoạn:
viết bài, chụp ảnh, chỉnh sửa ảnh… Nói chung, phóng viên phải hoàn tất một
bài viết rồi mới chuyển lên biên tập, tòa soạn. Những bài viết do nhu cầu
“nóng”, phóng viên có thể từ lúc hoàn tất bài viết đến lúc xuất hiện lên mạng
chỉ trong vòng 15 phút.
Theo nhà báo Bình Minh - Trưởng ban CNTT, báo điện tử TS – một tờ
báo điện tử thuộc tổng công ty truyền thông đa phương tiện VTC ( truyền
17
hình cáp việt Nam) : "Rất ít, nếu không muốn nói là không có phóng viên nào
dám nhận mình có đầy đủ các kỹ năng của một nhà báo điện tử. Nó đòi hỏi rất

Tờ báo mạng điện tử là một sản phẩm báo chí mang tính tập thể. Để
một tờ báo mạng hoàn thiện đến với công chúng phải trải qua nhiều công
đoạn trong công trình sản xuất. Mỗi công đoạn có sự tham gia của từng thành
viên trong tòa soạn với những phần việc cụ thể:
1.3.2.1. Phát hiện đề tài:
Trong lĩnh vực báo chí, đề tài là phạm vi cuộc sống thực hiện được
phản ánh vào các tác phẩm báo chí. Đề tài có thể hiểu theo nghĩa rộng và hẹp.
Với nghĩa rộng: đề tài tương ứng với các lĩnh vực hoạt động trong đời sống
hiện thực như: đề tài quốc tế, kinh tế, văn hóa-xã hội, an ninh, quốc phòng,
khoa học, kỹ thuật
Với nghĩa hẹp, có thể hiểu “về cơ bản, đề tài cũng chính là sự kiện hay
vấn đề mà nhà báo hướng tới, nhận thức và phản ảnh vào tác phẩm”
1
.
Chủ đề tác phẩm báo chí là nội dung chủ yếu người viết dặt ra trong tác
phẩm. Nói cách khác, chủ đề là điều tác giả muốn nói lên trên cơ sở đề tài đã
được xác định. Chủ đề bài viết thường thể hiện rõ góc độ xử lý thông tin của
người viết. Chủ đề là linh hồn xuyên suốt tác phẩm báo chí.
Xác định đề tài tác phẩm báo chí có thể xảy ra ở thời điểm trước hoặc
sau khi phóng viên đi thực tế tìm tư liệu. Thông thường phóng viên xác định
trước. Nhưng cũng có khi chủ đề đã xác định sẵn nhưng khi đi thực tế thu
thập tư liệu thì lại không phù hợp nữa. Lúc đó phóng viên nên điều chỉnh cho
phù hợp. Nếu không linh hoạt, phóng viên dễ bị gò bó vào thời hạnh vạch sẵn.
Sự tập chung thái quá vào chủ đề có thể làm giảm khả năng phát hiện những
sự việc, vấn đề mới khác nảy sinh trong thực tế. [30; từ tr.135-136]
19
1.3.2.2. Thu thập, xử lý thông tin tư liệu:
Hoạt động thu thập thông tin của phóng viên là công việc tìm kiếm,
khai thác, lựa chọn thông tin, chi tiết để phục vụ cho hoạt động sáng tạo tác
phẩm báo chí.

tổng kết, biên bản, hợp đồng, thông báo, giáy mời của các đơn vị, cơ quan
nhà nước: các loại văn bản đời thường - loại tư liệu có tính chất cá nhân, riêng
tư. Chẳng hạn: Nhật ký, thư từ, gGiấy viết tay, sổ sách, ghi chép các nhân
Đối với phóng viên, phương pháp nghiên cứu văn bản là việc thu thập,
phân tích, xem xét các thông tin trong văn bản để rút ra những thông tin, tư
liệu cần thiết cho hoạt động sáng tạo tác phẩm. Phương pháp nghiên cứu văn
bản không đơn thuần là việc sao chép, trích dẫn mà là một thao tác trí tuệ đòi
hỏi những kỹ năng nghiệp vụ báo chí.
* Những chú ý khi khai thác tư liệu văn bản
Trước hết, phóng viên cần xác định giá trị pháp lý của văn bản (văn bản
thuộc loại nào: luật, báo cáo, tổng kết, thư cá nhân ); Xác định nguồn gốc,
tác giả văn bản (của ai, tổ chức nào, ở đâu ); Xác định xem văn bản đó có
phải là bản gốc (bản chính) hay bản sao. Phóng viên cần phải xem xét văn
bản với thói quen của nhà điều tra. Nếu văn bản dùng làm căn cứ, chứng cứ
trong những sự việc quan trọng thì nhất thiết phải có hoặc cần phải đối chiếu
với văn bản gốc để đảm bảo tính chính xác cao.
Ngoài ra, phóng viên cũng cần chú ý thời gian ra đời của văn bản;
Kiểm tra tính xác thực của một số tư liệu văn bản; Đặc biệt cần lưu ý: Phân
biệt sự kiện và ý kiến; tìm hiểu ý đồ của người soạn thảo văn bản; xem xét bối
cảnh tác động đến sự ra đời của văn bản
Khi nghiên cứu một số vấn đề của văn bản, cần phát hiện ra các con số,
các chi tiết quan trọng, nổi bật, có yếu tố tin tức. Đó là những con số, chi tiết
“biết nói”. Nếu có thái độ nghi ngờ trong khai thác tư liệu văn bản. Phóng viên
21
không nên coi các bản thông cáo như là thứ thông tin vô hại có sẵn để sử dụng
viết tin, bài. Chuyện một số cơ quan, đơn vị “làm thì láo, báo cáo thì hay” cũng
không phải là hiếm. Thực tế đã có nhà báo bị “lừa” vì không chịu thẩm định
thông tin trong thực tế mà chỉ dựa vào báo cáo của cơ sở. Nên xem các văn bản
báo cáo, tổng kết là một phần tư liệu làm căn cứ, tham khảo, còn phóng viên
phải kết hợp kiểm chứng, so sánh tư liệu văn bản với các nguồn tin khác.

tĩnh, hình ảnh động (sliteshow, video và video clip); Tư liệu bằng âm thanh
(Audio), ngoài sự am tường về kỹ thuật, người phóng viên báo mạng điên tử
cần có những bí quyết nghề nghiệp và đặc biệt nhạy cảm về trực giác. Có như
vậy tác phẩm báo chí mới tạo được ấn tượng riêng đối với công chúng.
Hình ảnh (cắt cúp) là thành phần quan trọng đóng góp rất lớn vào thành
công của tác phẩm cũng như sản phẩm báo chí. Một bức ảnh có giá trị đôi khi
bằng nghìn lời nói. Đối với độc giả, việc tiếp nhận thông tin qua ảnh sẽ nhanh
chóng, dễ dàng và hấp dẫn hơn qua chữ viết. Chỉ cần nhìn thoáng qua bức ảnh
kèm theo tin hoặc bài là người đọc có thể phần nào hình dung ra nội dung bài
viết cũng như việc quyết định có nên đọc bài báo đó hay không.
Hình ảnh trên báo mạng điện tử không chỉ là yếu tố làm tăng tính
xác thực của các thông tin trong tác phẩm báo chí mà còn là một “công
cụ” giúp mắt người đọc được nghỉ ngơi, thoải mái hơn khi đọc những bài
viết dài. Việc bố chí những bức ảnh xen kẽ một cách hợp lý giữa các khối
chữ, các đoạn văn sẽ làm người đọc không cảm thấy nhàm chán, đơn điệu
khi tiếp nhận thông tin.
Số lương, kích cỡ và sắp xếp vị trí của ảnh cần tùy thuộc vào từng bài
báo, từng tờ báo. Thường thì một bức ảnh lớn kèm theo một bài viết quan
trọng là tâm điểm của số báo sẽ được bố trí tren trang chủ của tờ báo mạng
23
điện tử. Ngoài ra, các ảnh còn lại sẽ có kích cỡ nhỏ hơn. Ở các trang nội dung,
số lượng ảnh và vị trí ảnh được sắp xếp tùy theo nội dung, bài viết và quy
định của tờ báo.
Số lượng và kích cỡ ảnh sẽ ảnh hưởng đến độ nặng của trang báo. Nó
sẽ làm tốn thời gian truy cập và giảm tốc độ tải về máy tính cá nhân. Ảnh
càng lớn thì thời gian chờ đợi càng nhiều, vì vậy không nên sử dụng quá
nhiều ảnh, đặc biệt là hình ảnh cỡ lớn trong một bài báo, trang báo, tờ báo.
Nếu không có bức ảnh đó mà bài báo vẫn đẹp và đầy đủ ý nghĩa thì bức ảnh
thì bức ảnh đó không cần thiết. Người biên tập cần loại bỏ những bức ảnh
không mang giá trị thông tin. Ngoài ra, trước khi phát hành bức ảnh, biên tạp

qua mạng Internet, là loại hình truyền thông đa phương tiện trong đó hình ảnh
động và âm thanh là hai phương tiện được sử dụng nhiều nhất. Truyền hình
trên mạng Internet có các chương trình, chuyên mục tương tự như truyền hình
truyền thống.
Một trong những ưu thế nổi bật nhất của truyền thông trên mạng nói
chung và truyền hình trên mạng nói riêng đó là nó tồn tại thường trực, lâu
bền, ở bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào.
Truyền hình truyền thống sắp xếp các chương trình theo thứ tự nhất
định và phát sóng lần lượt hết chương trình này tới chương trình khác. Nếu
khán giả không xem vào đúng thời điểm phát sóng của chương trình thì họ ít
có khả năng được xem lại. Tín hiệu hình ảnh động và âm thanh theo tuyến
tính của truyền hình làm cho công chúng bị động hoàn toàn về tốc độ, trình tự
tiếp nhận thông tin. Cái gì đã qua sẽ không lặp lại. Trong nhiều trường hợp
các chi tiết mất đi tính liên tục, phi logic, làm thông tin không đầy đủ và bị
hiểu sai lệch. Mạng Internet làm thay đổi điều này. Người truy cập có thể “gọi
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status