Trờng đại học s phạm hà nội
Khoa giáo dục mầm non
Bài tập nghiệp vụ cuối khoá
Giáo dục hành vi giao tiếp cho trẻ mẫu giáo
trờng mầm non Tân lập - Lạc sơn - Hoà bình
Ngời hớng dẫn : T.s Đinh Hồng Thái
Ngời thực hiện : Bùi Thị Tm
Lớp ĐHTC hoà bình - Khoa GDMN
hà nội - 2004
Lời nói đầu
Lần đầu tiên làm quen với bài tập tốt nghiệp cuối khoá đối với em thật
mới mẻ và bỡ ngỡ.
Đợc sự giúp đỡ của các thầy cô giáo Khoa giáo dục mầm non - trờng
Đại học s phạm I Hà Nội. Đặc biệt là sự giúp đỡ của thầy Đinh Hồng Thái -
ngời hớng dẫn em hoàn thành bài tập này.
1
Đề tài của em đã đợc hoàn thành, để có đợc cơ sở thực tiễn của việc
giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ phải kể đến sự giúp đỡ tạo điều
kiện của Ban giám hiệu trờng Tân Lập và 2 cô giáo chủ nhiệm lớp 5 tuổi của
trờng.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trờng Đại học s phạm -
khoa giáo dục mầm non. Đặc biệt là thầy giáo Đinh Hồng Thái. Đồng thời xin
cảm ơn Ban giám hiệu và 2 cô giáo trờng mầm non Tân Lập - Huyện Lạc Sơn
- tỉnh Hoà Bình đã tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt bài tập nghiệp vụ cuối
khoá này.
Mục lục
Phần I: mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
triển những năng khiếu về văn hoá nghệ thuật của mỗi con ngời. Từ thực tế
cũng nh nhiều công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học, giáo dục học đã
cho chúng ta thấy rằng trong những năm đầu của cuộc đời đứa trẻ, hệ thần
kinh mềm mại hơn, non yếu hơn. Trong quãng thời gian đó rất dễ hình thành
những nét cơ bản của cá tính và những thói quen nhất định. Sau đó những
phẩm chất tâm lý, nhân cách của con ngời dần dần đợc định hình.
Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo thì việc tiếp nhận vốn tri thức, những phẩm chất
nhân cách con ngời cũng nh văn hoá, nghệ thuật thẩm mỹ thông qua sự vật,
hiện tợng xung quanh gần gũi với trẻ. Cũng vì thế, khi chúng ta lo lắng nhiều
tới việc nâng cao trình độ văn hoá nghệ thuật của ngời lớn (ngời mẹ, ngời cô
đó chính là nhằm tạo điều kiện tốt cho sự phát triển của thế hệ trẻ thông qua
3
những ngời gần gũi nhất đối với trẻ thơ) và việc giáo dục trẻ đòi hỏi chúng ta
phải uốn nắn từ đầu nh nhân dân ta đã đúc kết thành những kinh nghiệm sâu
sắc lu truyền cho đời sau:
Uốn cây từ thở còn non
Dạy con từ thở hãy còn thơ ngây.
Bé không vin, cả gãy cành.
Qua thời gian học tập tôi đã đợc các thầy cô giáo giảng dạy, hớng dẫn,
bản thân tôi thấy rõ việc giáo dục thế hệ trẻ cụ thể là lứa tuổi mầm non cần đ-
ợc chăm sóc giáo dục để tạo nên những con ngời mới xã hội chủ nghĩa có
phẩm chất đạo đức, có tài năng và có thể lực cờng tráng để phù hợp với thời
đại công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc.
Vì vậy, tôi đã chọn việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ
mẫu giáo làm đề tài cho bài tập tốt nghiệp khoá học. Giáo dục hành vi giao
tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo là dạy trẻ những hành vi phù hợp với chuẩn
mực xã hội : Biết quý trọng ông bà cha mẹ; biết quan tâm đến ngời già cả, cô
đơn; biết nhờng nhịn em bé Nghĩa là phải tiến hành daỵ trẻ toàn diện 4
mặt : Đức, trí, thể, mỹ đúng với ý nguyện của ngời lớn chúng ta là :
Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai.
Văn hoá là một hiện tợng xã hội tiêu biểu cho trình độ mà xã hội đã đạt đợc
trong từng giai đoạn lịch sử nhất định nh : Tiến bộ về kinh tế, kinh nghiệm sản
xuất lao động, học vấn giáo dục, khoa học, văn học nghệ thuật và những tổ
chức thích ứng với cái đó.
Theo nghĩa rộng văn hoá bao gồm cả văn hoá vật chất và văn hoá tinh
thần, còn theo nghĩa hẹp thì văn hoá chỉ liên quan đến đời sống của con ngời.
Văn hoá chính là sản phẩm của con ngời và do con ngời tạo ra nó. Vì vậy, văn
hoá chỉ là cái gì dành riêng cho con ngời và chỉ có thể có ở nơi con ngời sinh
sống mà thôi. ở đâu có con ngời sống thành tập thể, thành xã hội thì ở đó có
văn hoá, văn hoá bao giờ cũng gắn liền với xã hội, với dân tộc, với thời kỳ lịch
sử. Có văn hoá thời cổ đại, văn hoá thời Phục hng, văn hoá thời Trung
đại, văn hoá Việt Nam,văn hoá Trung Quốc Văn hoá là do con ngời sáng tạo
ra, có thể nói rằng con ngời sinh ra và trởng thành trong xã hội nào thì chịu
ảnh hởng sâu sắc bởi nền văn hoá của xã hội đó. Thậm chí cho dù có một thời
gian dài sống tách khỏi xã hội thì con ngời vẫn t duy và hành động theo những
5
khuôn mẫu, tác phong, nề nếp quen thuộc. Nhân cách của mỗi thành viên
trong một cộng đồng bao giờ cũng mang dấu vết bản sắc văn hoá dân tộc.
* Phân biệt văn hoá và văn minh :
Văn minh là một khái niệm dùng để chỉ trình độ đạt tới mức độ nào đó
của xã hội loài ngời, có nền văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần mang những
nét đặc trng nhất định. Theo các nhà xã hội học và dân tộc học thì dân tộc nào
cũng có nền văn hoá riêng của mình. Dân tộc này văn minh hơn dân tộc khác
chỉ là nói đến sự khác nhau về mức độ phát triển mà thôi. Theo ý nghĩa đó thì
trong xã hội ngày nay có những nền văn hoá ở trình độ văn minh thấp hơn.
Văn minh liên quan chủ yếu tới kỹ thuật làm chủ tự nhiên, sự tiến bộ
của văn minh trớc hết là sự tiến bộ về khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Sau đó
là sự tiến bộ về đạo đức xã hội. Vì thế, ngời ta thờng lấy sự tiến bộ về khoa
học, kỹ thuật và công nghệ làm tiêu chuẩn đo trình độ văn minh của các nền
văn hoá.
nền văn hoá là rất thuận lợi. Trong quá trình giao lu này nếu cá nhân nào, tập
thể nào biết lựa chọn và tiếp thu những tinh hoa của nền văn hoá khác một
cách nhanh chóng, thông minh, tinh tế và khéo léo thì nền văn hoá đó sẽ đợc
hoàn thiện và tốt đẹp hơn.
Ngợc lại với một nền văn hoá cô lập, tự bó hẹp thì nó sẽ bị nghèo nàn và
mai một dần.
Bởi vậy, để có nền văn hoá phát triển cần tăng cờng giao lu kinh tế, tăng
cờng tiếp xúc, trao đổi với những nền văn hoá của các dân tộc khác nhau; biết
lựa chọn và tiếp thu những tinh hoa của họ nhng phải phù hợp với nền văn hoá
của nớc mình và không làm mất đi bản sắc riêng của dân tộc mình.
2. Hành vi :
Theo các nhà tâm lý học, hành vi con ngời đợc phân loại theo nhiều
cách khác nhau: Nh hành vi có nguồn gốc bên ngoài và hành vi có nguồn gốc
bên trong; cũng có nhà tâm lý học đã phân biệt hành vi thành 3 loại khác nhau
theo bản chất tâm lý học: Đó là hành vi bản năng, hành vi kỹ xảo và hành vi lý
trí.
Trong giáo dục học ngời ta thờng quan tâm đến hành vi đạo đức. Đó là
những hành động đợc thúc đẩy bằng các động cơ đạo đức đem lại những kết
quả có ý nghĩa đạo đức và đợc đánh giá bằng những phạm trù đạo đức. Hành
vi đạo đức gồm 2 thành phần : Hành động đem lại những kết quả có ý nghĩa
đạo đức với t cách là mặt biểu hiện bên ngoài; thái độ (mục đích, ý định, động
cơ) thấm nhuần ý thức đạo đức với t cách là mặt kích thích bên trong. Nh vậy,
khi đánh giá con ngời có hành vi đạo đức hay không thì không những ta phải
7
xem xét ngời đó hoạt động nh thế nào, có phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã
hội hay không mà còn phải xem xét ngời đó hoạt động với động cơ đúng hay
sai, tích cực hay tiêu cực? Cũng nh khi giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ điều
quan trọng là không ngừng tạo ra những hoạt động phù hợp với các chuẩn
mực đạo đức xã hội và xây dựng động cơ hoạt động có đạo đức cao.
3. Văn hoá hành vi
luỹ đợc trong quá trình phát triển của mình.
Giữa văn hoá hành vi và kỷ luật có mối quan hệ chặt chẽ do đợc quy
định bởi đạo đức xã hội. Do mối quan hệ chặt chẽ giữa kỷ luật và văn hoá
hành vi mà việc giáo dục kỷ luật tự giác phải đợc gắn liền với văn hoá hành vi.
Khi giải thích cho trẻ các yêu cầu kỷ luật đồng thời phải chỉ ra cách thực hiện
chúng.
Tóm lại: Văn hoá hành vi là một phần của đạo đức cộng sản. Giáo dục
văn hoá hành vi là một trong những mặt giáo dục đạo đức thẩm mỹ cho trẻ
mẫu giáo.
4. Giao tiếp
Giao tiếp là một phạm trù rất quan trọng của tâm lý học. Trong lịch sử
phát triển tâm lý học có rất nhiều quan điểm khác nhau về giao tiếp. Nhng nổi
lên là cuộc tranh luận gay gắt giữa hai trờng phái tâm lý Xô viết sau :
* Trờng phái A. A Leonchep quan niệm giao tiếp là hệ thống những quá
trình có mục đích và có động cơ đảm bảo sự tơng tác giữa ngời này với ngời
khác. Trong hoạt động thực tiễn các quan hệ xã hội nhân cách và các quan hệ
tâm lý sử dụng các phơng pháp đặc thù mà trớc hết là ngôn ngữ . Ông cho
rằng giao tiếp có cấu trúc chung của hoạt động, giao tiếp nào cũng có động cơ
quy định sự hình thành và phát triển của nó và cũng đều đợc tạo ra bởi các
hành động và thao tác. Họ cho rằng giao tiếp nào cũng mang đặc tính của hoạt
động tức là cũng có cụ thể nhằm vào một đối tợng nào đó để tạo ra một sản
phẩm. Nội dung của nó là sự nhận thức qua lại và trao đổi thông tin nhằm mục
đích và xây dựng mối quan hệ qua lại có lơị đối với quá trình hoạt động
chung. Ông đã chia quá trình giao tiếp ra làm 4 thời điểm : Một là tiếp xúc và
liên hệ; hai là tác động lẫn nhau; ba là nhận thức lẫn nhau; bốn là mối quan hệ
lẫn nhau.
Còn BDPARUGHIN cho mối quan hệ giao tiếp là quá trình hai mặt của
sự thông báo và tác động qua lại. Trong đó sự thông báo là nội dung và tác
động qua lại là hình thức của giao tiếp.
Phái B.E Lomop cho rằng giao tiếp không phải là một dạng hoạt động
GDĐT và sở Giáo dục đào tạo Tỉnh Hoà Bình theo tinh thần công văn số
914/GDMN về việc triển khai Chuyên đề giáo dục lễ giáo ngày 16/2/1996.
10
Để đội ngũ giáo viên nắm đợc mục đích, yêu cầu nội dung chuyên đề ta
cần phải :
1. Quan tâm đến công tác bồi dỡng. Các nhà trờng đã tổ chức cho 100%
cán bộ giáo viên và công nhân viên tham dự các lớp bồi dỡng do sở, phòng, tr-
ờng tổ chức. Sau mỗi đợt bồi dỡng thì tổ chức cho tất cả chị em trao đổi, thảo
luận, viết thu hoạch và đề xuất những kiến nghị. Ngoài bồi dỡng theo lớp, các
trờng chỉ đạo bồi dỡng qua thực tế ở các lớp điểm. Các trờng thực hiện theo kế
hoạch chỉ đạo trong 3 năm thực hiện chuyên đề sau đó là thực hiện sau chuyên
đề.
2. Tạo môi trờng giáo dục xung quanh trẻ :
Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo có đặc điểm hay bắt chớc. Vì vậy, phải tạo môi
trờng mẫu mực xung quanh trẻ: Phải có môi trờng s phạm, môi trờng xanh-
sạch - đẹp (có sân vờn, khu thiên nhiên, chuồng nuôi các con vật, đồ chơi
đẹp) chúng tôi còn yêu cầu giáo viên phải gơng mẫu đối với trẻ đó là ăn
mặc, cử chỉ, lời nói, tác phong phải nhẹ nhàng đúng mực để hình thành thói
quen gơng mẫu trớc trẻ.
Các trờng đã phát động các đợt thi đua nh : Nói lời hay, làm việc tốt;
Kỷ cơng, tình thơng, trách nhiệm Nhờ những đợt vận động nh trên, dần
dần những hành vi cha gơng mẫu của giáo viên, công nhân viên đã chấm dứt.
3. Giáo dục lễ giáo mọi lúc, mọi nơi.
Đặc điểm tâm lý trẻ mầm non là mau nhớ nhng cũng chóng quên nên
việc giáo dục lễ giáo đối với trẻ phải đợc làm thờng xuyên, liên tục và giáo
dục ở mọi lúc, mọi nơi thông qua các hoạt động là biện pháp tốt nhất. Giáo
dục lễ giáo thực hiện qua các hoạt động hàng ngày nh đón trả trẻ, hoạt động
vui chơi, lao động vệ sinh đều là những dịp để trẻ bộc lộ cá tính, cách ứng
xử lời ăn tiếng nói của mình. Yêu cầu giáo viên phải gần gũi để kịp thời phát
hiện và uốn nắn những sai sót của trẻ trong hành vi, lời nói theo những
thực hiện. Thông báo trong các kỳ họp, đại hội phụ nữ xã, thôn xóm bởi phần
đa phụ huynh trẻ đều tham gia sinh hoạt phụ nữ, để có biện pháp kết hợp giữa
gia đình và nhà trờng, giáo dục lễ giáo thông qua công tác tổ chức hội thi :
Gia đình và ngời công dân tý hon ở các cấp.
Với những phơng pháp, biện pháp giáo viên đề cập với các bậc phụ
huynh từ đó việc chăm sóc, giáo dục trẻ nâng lên rõ rệt nh vệ sinh cá nhân trẻ,
lời ăn tiếng nói, tác phong, cử chỉ của các bậc cha mẹ và đội ngũ giáo viên Sự
mẫu mực, văn minh là tấm gơng tốt cho trẻ noi theo.
12
Chơng II :
Mô tả quá trình nghiên cứu
I. Khảo sát nhận thức hành vi giao tiếp của trẻ
1. Đối tợng khảo sát :
Để nắm vững thực trạng sự nhận thức hành vi giao tiếp có văn hoá cho
trẻ mẫu giáo chúng tôi đã tiến hành khảo sát 25 cháu mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi
của trơng mầm non Tân Lập - Lạc Sơn - Hoà Bình
2. Nội dung khảo sát :
- Khảo sát nhận thức của trẻ dựa trên các tiêu chí nhận thức hành vi giao
tiếp có văn hoá bằng phơng pháp quan sát trò chuyện.
Tiêu chí 1 : Biết chào hỏi.
Tiêu chí 2 : Biết tha gửi.
Tiêu chí 3 : Cảm ơn xin lỗi
Tiêu chí 4 : Biết giữ gìn vệ sinh thân thể
Tiêu chí 5 : Thích chơi với bạn
Tiêu chí 6 : Không tranh giành đồ chơi với bạn
Tiêu chí 7 : Biết yêu thơng những ngời gần gũi.
Tiêu chí 8 : Giao tiếp mạnh dạn, tự tin, lễ độ.
Tiêu chí 9 : Biết yêu quý cây trồng
Tiêu chí 10 : Biết giữ gìn vệ sinh môi trờng
Tiêu chí 11 : Biết giúp đỡ bạn
8
Bùi văn trung
25/5/1998
9
Bùi minh phơng
5/5/1998
10
Bùi thu huyền
30/8/1998
11
Bùi văn hùng
13/7/1998
12
Bùi việt chính
2/4/1998
13
Bùi hữu chính
27/1/1998
14
Bùi thị hà
1/10/1998
15
Bùi thị thảo
12/7/1998
16
Quách thị trang
22/6/1998
17
Bùi thị hảo
6/2/1998
đánh giá phân loại theo 4 mức độ: tốt, khá, trung bình, yếu tơng ứng với số
điểm của từng tiêu chí, cụ thể nh sau :
Tốt : 4 điểm Trung bình : 2 điểm
14
Khá : 3 điểm Yếu : 1 điểm
Loại tốt : Trẻ có thói quen giao tiếp thờng xuyên
Loại khá : Trẻ đã có ý thức nhng cha có thói quen thờng xuyên, đôi khi
phải có sự nhắc nhở của ngời lớn.
Loai trung bình : Khi thực hiện phải có sự nhắc nhở của ngời lớn trẻ mới
làm nhng cha đạt yêu cầu.
Loại Yếu : Trẻ cha có ý thức thực hiện việc giao tiếp trong khi chơi và
khi học.
Sau thời gian khảo sát, nghiên cứu từng tiêu chí đến từng trẻ tôi đã ghi
lại cụ thể nh sau
8
Giao tiếp mạnh dạn,
tự tin lễ độ
0 0 0 0% 10 40% 15 60%
9
Biết yêu quý cây
trồng
0 0 2 8% 16 64% 7 28%
10
Biết giữ gìn vệ sinh
môi trờng
0 0 5 20% 18 72% 2 8%
11
Biết giúp đỡ bạn
0 0 6 24% 14 56% 4 16%
12
Biết tha gửi.
0 0 2 8% 19 76% 4 26%
3
Cảm ơn xin lỗi
0 0 3 12% 20 80% 2 8%
4
Biết giữ gìn VSTT
0 0 5 20% 18 72% 3 12%
5
Thích chơi với bạn
0 0 7 28% 16 64% 2 8%
6
Không tranh giành
đồ chơi của bạn
0 0 4 16% 15 60% 6 24%
7
Biết yêu thơng
những ngời gần gũi
0 0 10 40% 10 40% 5 20%
15
14
Hứng thú chơi và
học
0 0 10 40% 13 52% 2 8%
15
Hứng thú tham gia
các hoạt động tập thể
2 8% 10 40% 12 48% 1 4%
Trong quá trình khảo sát nghiên cứu, phơng pháp chính của tôi là theo
dõi, ghi chép, trò chuyện. Vì vậy, trẻ giao tiếp hoàn toàn tự tin thoải mái nên
tôi khảo sát là địa bàn miền núi chủ yếu là ngời dân tộc làm nghề nông
nghiệp, trình độ học vấn thấp, việc giao lu ít nên họ cha quan tâm mấy đến
việc học hành của con cái mà chủ yếu vẫn lo kinh tế gia đình, có những cháu
5 tuổi mới đợc đi học mẫu giáo; có cháu nhà ở độc lập ít có bạn bè chơi cùng
trong thời gian cha đợc đến trờng mầm non. Chính những yếu tố trên đã ảnh
hởng không nhỏ đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Sự giao tiếp, tiếp xúc với
bạn bè, với ngời lớn giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và ngôn ngữ là yếu tố quan
trọng đối với mỗi ngời mẹ vì thông qua ngôn ngữ nói ngời mẹ có thể hiểu biết
đánh giá sự phát triển ngôn ngữ của con về phơng diện ngữ pháp, diễn đạt ý.
3. Phân tích kết quả khảo sát.
Nh chúng ta đã biết nhu cầu giao tiếp của trẻ trớc hết là nhu cầu phát
triển của chính bản thân trẻ. Song sự giao tiếp của trẻ với mọi ngời càng mang
lại kết quả bao nhiêu thì lại kích thích trẻ tích cực chủ động học tập tiếng mẹ
đẻ bấy nhiêu.
Tích cực của trẻ trong việc nắm bắt và sử dụng ngôn ngữ là rất quan
trọng. Vai trò của những ngời xung quanh nh ngời lớn, cô giáo đặc biệt có ý
nghĩa. Nó là một trong những nguồn động lực đối với sự hình thành và phát
triển khả năng ngôn ngữ, hành vi giao tiếp có văn hoá của trẻ.
VD : Cháu Bùi Khánh Thơng có bố mẹ cùng làm nghề giáo viên, gia
đình có điều kiện về kinh tế cũng nh thời gian quan tâm chăm sóc cháu từ
nhỏ, lên 1 tuổi cháu đi học nhà trẻ đến nay cháu đang theo học lớp mẫu giáo
lớn, ngoài giờ đến lớp về nhà cháu đợc bố mẹ chú ý uốn nắn, rèn luyện cho
cháu biết lễ phép, nói đủ câu, không nói tục chửi bậy, biết xin khi đợc nhận
quà, cảm ơn khi đợc giúp đỡ.
Bên cạnh đó gần nh đối lập với các cháu mà tôi nêu ở trên là những
cháu gia đình còn gặp nhiều khó khăn, sự chăm sóc quan tâm đến các cháu
còn hạn chế dẫn đến nhận thức thiếu đầy đủ, khả năng giao tiếp kém.
17
VD : Cháu Bùi Anh Tuấn có bố mẹ sống bằng nghề nông nghiệp nhng
ruộng ít con đông không có nguồn thu nhập thêm, thóc chỉ đủ ăn trong thời
cách của trẻ. Ngôn ngữ cùng những ấn tợng mà trẻ nhận đợc trong những năm
tháng đầu trở nên sâu sắc, phần lớn nó sẽ đợc gữi lại trong tình cảm và ý thức
của trẻ suốt đời.
18
Trẻ 5 - 6 tuổi thì mối quan hệ của trẻ đợc mở rộng và gắn bó với nhau
hơn. Hành động xuất hiện định hớng đợc thể hiện rõ nh giúp đỡ ngời khác,
quan tâm yêu mến bạn bè Điều này chứng tỏ sự nảy nở tình cảm đoàn kết
giữa trẻ nhỏ với nhau, sự giúp đỡ lẫn nhau, quan tâm đến bạn và hoạt động có
tổ chức.
Để giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá ở trẻ mẫu giáo, trớc hết phải
tạo cho các em có đợc những xúc cảm, tình cảm đạo đức và các chuẩn mực
hành vi giao tiếp có văn hoá; cần tổ chức những hoạt động đa dạng phong phú
để hình thành những cảm xúc, tình cảm đạo đức văn hoá và chuẩn mực hành
vi cho trẻ qua các hoạt động, đặc biệt là trong tiết học kể chuyện, những ý t-
ởng trong sáng của nội dung truyện sẽ định hớng phát triển nhân cách trẻ. Trẻ
noi gơng làm việc thiện và thích có tính cách cao đẹp nh những nhân vật trong
truyện. Cần sử dụng các biện pháp thi đua, khen thởng trong quá trình tổ chức
chế độ sinh hoạt một ngày nhằm kích thích tính hứng thú của trẻ và ý thức tích
cực sử dụng các chuẩn mực hành vi tham gia vào các hoạt động.
Trong điều kiện tổ chức giáo dục trên tiết học ở trờng mầm non và trong
sinh hoạt hàng ngày, những tri thức và tình cảm của trẻ ngày càng đợc mở
rộng từ đơn giản đến phức tap; từ chỗ cha biết đến chỗ đã biết.
2. Tổ chức cho trẻ luyện tập để hình thành kỹ năng, kỹ xảo, thói quen
giao tiếp có văn hoá.
Thói quen giao tiếp có văn hoá là toàn bộ những cử chỉ, điệu bộ, lời nói,
cách c xử của con ngời với nhau trong giao tiếp. Nó đợc lặp đi lặp lại nhiều
lần và trong thời gian dài sẽ tạo thành thói quen. Đây là khâu quan trọng nhất
của công tác giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo. Bởi vì
những xúc cảm, tình cảm, những tri thức về chuẩn mực hành vi đã trang bị cho
trẻ kỹ năng hành động, trẻ nhất thiết phải đợc luyện tập một cách có hệ thống
tình huống có thực trong cuộc sống hàng ngày. Giáo viên cần luyện tập cho trẻ
ở các hoạt động đa dạng, phong phú. Việc tổ chức chế độ sinh hoạt hàng ngày
cho trẻ và việc luyện tập đó phải đợc tiến hành thờng xuyên để trở thành kỹ
năng, kỹ xảo thói quen giao tiếp có văn hoá.
3. Hình thành ý thức về hành vi giao tiếp có văn hoá ở trẻ.
Để hành vi giao tiếp ở trẻ đợc bền vững (hình thành thói quen) cần giúp
trẻ thực hiện các hành vi một cách có ý thức. Vì trên cơ sở hình thành đợc ý
thức trẻ mới làm chủ đợc hành động, hành vi của mình khi giao tiếp với mọi
ngời xung quanh và sẽ tích cực tham gia vào các hoạt động khác. Qua việc
đánh giá hành vi của trẻ những hành động tốt sẽ đợc biểu dơng, những hành
động tốt này sẽ tạo đợc những cảm xúc tốt ở trẻ, hình thành những ý thức về
hành vi giao tiếp có văn hoá và chuẩn bị cho trẻ những hành vi tốt sau này.
20
Việc động viên trẻ đánh giá hành vi của mình một cách khách quan có ý nghĩa
lớn trong việc hình thành ý thức về hành vi giao tiếp có văn hoá ở trẻ.
Ngời giáo viên tạo mọi tình huống, điều kiện thuận lợi để trẻ giao tiếp
với nhau và giao tiếp với ngời lớn. Chính trong các tình huống giao tiếp đó các
hành vi phù hợp với các chuẩn mực đợc bộc lộ và củng cố. Trẻ sẽ ý thức làm
chủ hành vi của mình khi giao tiếp phù hợp đúng với các chuẩn mực.
VD : Trong giờ ăn, ngủ, học các hoạt động nh đi thăm quan, xem phim
sẽ nảy sinh ra các tình huống : Cách chào hỏi nhau, cách nhờng chỗ, nhờng đ-
ờng, cảm ơn Rõ ràng là những tình huống làm trẻ suy nghĩ để lựa chọn hành
vi của mình làm sao cho phù hợp với chuẩn mực hành vi giao tiếp có văn hoá.
Trẻ ý thức và làm chủ đợc hành vi của mình. Nếu trong các tình huống
đó trẻ ứng xử không đúng thì cô giáo cần nhắc nhở uốn nắn sửa sai cho
trẻ để bản thân trẻ tự xây dựng ý thức, điều chỉnh hành vi của mình cho phù
hợp. Cùng với việc tạo ra các tình huống, các điều kiện để trẻ thực hiện các
chuẩn mực hành vi trong cuộc sống cô giáo phải kịp thời nắm bắt, tận dụng
và khai thác những tình huống xảy ra một cách ngẫu nhiên trong cuộc sống
tập thể của lớp học để hình thành ý thức cho trẻ.
xã hội.
Ngành học mầm non cần nghiên cứu đa vào chơng trình chăm sóc trẻ
nội dung và các phơng pháp, biện pháp phát triển hành vi giao tiếp có văn hoá
để việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá đạt kết quả tốt hơn.
Cần có chế độ đãi ngộ với giáo viên mầm non, nhất là giáo viên ngoài
biên chế. Đảm bảo cho đời sống hàng ngày của giáo viên để giáo viên yên tâm
công tác chăm sóc giáo dục trẻ trong trờng đợc tốt.
Phần IV.
Tài liệu tham khảo.
1. Lê Minh Hà :
Giáo dục các bậc cha mẹ- biện pháp quan trọng trong chiến
lợc giáo dục mầm non
Vụ mầm non Bộ Giáo dục đào tạo.
2. Ngô Công Hoàn :
22
Tâm lý học trẻ em
Trờng đại học s phạm I Hà Nội.
3. Nguyễn Xuân Khoa :
Tiếng Việt tập 1
Nhà xuất bản Đại học s phạm I Hà Nội
4. V.X Mukhina :
Tâm lý học mẫu giáo
Nhà xuất bản giáo dục 1986
5. Tạp chí Giáo dục mầm non số 2 /1999
Bộ giáo dục và đào tạo
6. Nguyễn ánh Tuyết (chủ biên), Nguyễn Nh Mai, Đinh Kim Thoa
Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non
Nhà xuất bản Đại học s phạm I Hà Nội
7. Lê Thị ánh Tuyết :
Thực trạng giáo dục mầm non