Hệ thống tín chỉ học tập trong giáo
dục đại học
tính hiệu quả và sự thích hợp
ở các nớc đang phát triển
(The Academic Credit System in Higher Education
Effeetivness and Relevance in Developing Country)
* *
*
Omporn regel
Ban Giáo dục và Việc làm
Vụ nhân lực và Dân số
Ngân hàng thế giới
30
Mở đầu
1. Sau 3 thập kỷ phát triển nhanh chóng trong giáo dục đại học, nhiều nớc đang phát
triển hiện đang phải đối mặt với tình hình tăng trởng không kiểm soát đợc về số lợng sinh
viên, các nguồn lực giảm sút, chất lợng giảng dạy và nghiên cứu yếu kém, hiệu suất bên
trong của giáo dục đại học hạ thấp, số sinh viên tốt nghiệp nhiều mà ngời tìm đợc việc
làm thì ít (Verspoor, A).
2. Việc nâng cao chất lợng và sự phù hợp của chơng trình đào tạo đối với đòi hỏi của
thị trờng việc làm là mục tiêu quan trong của nhiều cuộc cải cách. Những cải cách này có
thể thành công thông qua việc áp dụng nhiều cơ chế, một trong các cơ chế đó là đa vào
những đổi mới trong cơ cấu học tập. Các cơ cấu đợc xây dựng qua các hệ thống giáo dục
đại học ở nhiều nớc đang phát triển có thể phân loại khái quát theo hai mô hình cực đoan:
mô hình Châu Âu truyền thống và mô hình tín chỉ Mỹ. Là những cái ngoại lai đối với
những nớc đang phát triển, các mô hình ấy biến đổi về kiểu quản lý, về cấu trúc, về tổ
chức và về mức độ cứng nhắc; một số mô hình là có định hớng chuyên môn và cấu trúc
hơn các mô hình khác. Mô hình Châu Âu truyền thống có chơng trình giảng dạy bị giới
hạn rất hẹp. Mô hình Mỹ, ngợc lại, đợc xây dựng theo các module, cho phép chẳng những
mở rộng sĩ số sinh viên mà còn mở rộng phạm vi chơng trình đào tạo. Các trờng đại học
hình Châu Âu, đặc biệt là mô hình Anh và Đức. Mô hình Anh đợc du nhập sang Hoa Kỳ
và thống trị trong việc tổ chức, trong các tiêu chuẩn và các chơng trình giảng dạy của giáo
dục đại học Mỹ cho đến thế kỷ 19. Trong nửa sau thế kỷ 19, giáo dục đại học Mỹ bị ảnh
hởng bởi hệ thống Đức khi việc nghiên cứu đã đợc đa vào các trờng đại học, viện đại học
nh là một chức năng chính, và giáo dục sau đại học đã phát triển( Brubacher Jone.
S.,1976).
6. Một trong những đặc trng chính của hệ thống giáo dục đại học Mỹ ngày nay là nó
sử dụng việc tích luỹ tín chỉ học tập để đạt đợc một văn bằng. Cho đến thập kỷ 1980, các
trờng đại học ở Mỹ đợc tổ chức theo kiểu chơng trình học tập cổ điển nhất loạt giống nh
mọi hệ thống giáo dục Châu Âu. Trong một ít chơng trình giảng dạy sinh viên có rất ít
hoặc hầu nh không có quyền lựa chọn môn học. Vào nhng năm của thập kỷ 1870, hệ
thống đã trải qua một s thay đổi mau chóng. ở giác độ triết học, khái niệm học tập xem
sinh viên là trung tâm và ý niệm và sự tự thể nghiệm bản thân thông qua việc học tập phù
hợp với những lợi ích cá nhân của Jone Dewey ngày càng đợc thừa nhận nhiều hơn. Đòi
hỏi về việc phải làm cho các môn học có nội dung thực tiễn có mối quan hệ rõ rệt với thế
giới hiện thực cũng ngày càng tăng lên. ở giác độ thực tiễn bức xúc, các trờng đại học và
viện đại học đã bắt đầu gặp những khó khăn về tuyển dụng; có sự giảm sút của các thị tr-
ờng có kích thích đối với các sáng chế phát minh.
7. Vào năm 1872, Viện trởng Eliot đã có sáng kiến đa ra một hệ thống lựa chọn ở
Viện đại học Harvard (Morison, Samuel E., 1964). Ông ta thay đổi hệ thống chơng trình
đào tạo cứng nhắc cổ điển bằng một sự lựa chọn ngày càng rộng rãi các môn học đối với
sinh viên. Bắt đầu bằng sự lựa chọn chỉ cho các sinh viên năm cuối, đến năm 1884 Viện
đại học cho phép hầu nh hoàn tự tự do lựa chọn cho mọi sinh viên và cho đến năm 1890
chuyển sang việc đo lờng quá trình tiến tới một văn bằng trên cơ sở tích luỹ các môn học
riêng lẻ hơn là hoàn thành toàn bộ tiến trình học tập. Các trờng đại học và viện đại học
khác nhanh chóng làm theo Viện đại học Harvard.
32
8. Hệ thống tín chỉ xuất hiện nh là một kết quả của sự lựa chọn. Vào cuối thế kỷ 19
sang đầu thế kỷ 20, ngày càng nhiều trờng đại học và viện đại học công bố trong niên lịch
giảng dạy của họ bảng liệt kê số lợng các tín chỉ đợc cung cấp cho mỗi môn học; con số
(Robert H. Bonthius )
11. Việc triển khai hệ thống tín chỉ thờng liên quan tới cách tổ chức một năm học
trong hai học kỳ 2 quý. Theo ý nghĩa từ "semester" (học kỳ hai quý) có nghĩa là 6 tháng,
33
tuy nhiên vì những lý do về tổ chức học tập, ở các viện đại học Mỹ một năm thờng đợc
chia làm hai học kỳ 15-16 tuần giảng dạy. Độ dài của một học kỳ hai quý là một yếu tố
quan trọng, trong đó nó phải đảm bảo 80 ngày làm việc trong học kỳ 2 quý hoặc 160 ngày
làm việc trong một năm học 9 tháng. ở nhiều Viện đại học, năm học đợc chia theo học kỳ
1 quý kéo dài cỡ 10 tuần rỡi.
12. Phần lớn các viện đại học Mỹ đòi hỏi cỡ 120 giờ tín chỉ cho văn bằng đầu tiên,
và phần lớn các môn học có 3 hoặc 4 giờ tín chỉ, tức là lớp học phải tụ họp 3 hoặc 4 giờ
hàng tuần. Các môn học 4 giờ thờng là điển hình đối với các môn khoa học tự nhiên có
đòi hỏi làm thí nghiệm.
13. Mỗi sinh viên khi vào một viện đại học hoặc trờng đại học đợc bố trí một cố vấn
học tập. Cố vấn học tập giúp sinh viên chọn các môn học thích hợp để tiến đến theo một
ngành chuyên môn chính. Việc lựa chọn các môn học đợc giảng dạy là khá tự do, và mỗi
ngời có thể ghi danh các môn học thuộc chuyên môn khác căn cứ vào năng lực và mối
quan tâm riêng của họ. Yếu tố đó tạo nên tính mềm dẻo và đa dạng cho cả sinh viên và
giáo chức.
14. Trong một học kỳ 16 tuần, các bài trắc nghiệm thờng xuyên đợc đa ra để đánh
giá sự tiến bộ của sinh viên. Điểm xếp hạng kết thúc cho một văn bằng đại học dựa trên
sự đánh giá thờng xuyên đó. Đối với các bằng cấp sau đại học, ngoài các môn học ra còn
đòi hỏi một kỳ thi tổng hợp và một tiểu luận hoặc luận án.
15. Việc đánh giá chất lợng các trờng đại học khác nhau tại Hoa Kỳ đợc thực hiện
bởi các cơ quan kiểm định chất lợng. Khác với ở nhiều nớc quá trình kiểm định chất lợng
thờng đợc thực hiện bởi Nhà nớc, tại Hoa Kỳ chức năng đó đợc thực hiện bởi các tổ chức
t nhân. Có khoảng hơn 80 tổ chức kiểm định chất lợng khác nhau, tuy nhiên chỉ có 6 tổ
chức kiểm định chất lợng của khu vực đợc thừa nhận rộng rãi. Mỗi tổ chức khu vực có
trách nhiệm kiểm định chất lợng toàn bộ một trờng đại học. Tuy nhiên, khi một tổ chức
chuyên môn hoá kiểm định chất lợng một viện đại học thì chỉ một trờng riêng biệt của
thờng dẫn đến những hành động chống đối, và việc buộc phải đóng cửa các viện đại học.
Đối với trờng hợp Senegal điều đó thể hiện rõ trong thời kỳ "année blanche" (1987 -
1988) khi Viện đại học Dakar phải bị đóng cửa trọn một năm do kết quả của sự náo động
của sinh viên.
c) Đối với các trờng đại học có cấp tín chỉ cho các hoạt động giáo dục ngoài lớp
học, hệ thống tín chỉ làm cho việc học tập độc lập của sinh viên và hàng loạt các kiểu hoạt
động giáo dục không truyền thống khác có thể đợc đánh giá bằng tín chỉ để dẫn đến văn
bằng, điều đó mở rộng rất đáng kể các hoạt động giáo dục đối với sinh viên. Tinh thiêng
liêng của ba buổi gặp gỡ ở lớp học hàng tuần cho một môn học đợc đòi hỏi phải xem lại.
Một số công trình nghiên cứu đã đề nghị rằng các sinh viên có thể học tốt tơng tự hoặc
thậm chí tốt hơn nếu đòi hỏi số giờ lên lớp ít hơn. Nhiều thí nghiệm đã chứng tỏ việc
nghiên cứu độc lập hoặc triển khai các cách học không truyền thống là những chơng trình
rất có hiệu quả, chúng đã đợc triển khai ở Reed, Oberlin, Antoch, Sata Cruz, Goldard và
các nơi khác.
d) Khi hệ thống tín chỉ đợc kết hợp với việc lựa chọn các môn học, nó làm cho giáo
dục đại học trở nên một nền giáo dục hớng vào sinh viên và cá nhân hoá nhiều hơn so với
hệ thống có chơng trình giảng dạy tơng đối cứng nhắc.
35
Tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao.
e) Hệ thống tín chỉ tạo điều kiện để có thể cung cấp học vấn đại học nhờ các tập hợp
khác nhau các đơn nguyên kiến thức bằng cách gán các số lợng tín chỉ khác nhau cho các
môn học khác nhau (chẳng hạn, các môn học kéo dài một năm, một học kỳ, ba tuần hoặc
thậm chí một tuần), điều đó giúp hạn chế điều huyền thoại rằng không kể môn học khác
nhau nh thế nào các môn học đều có trọng số nh nhau.
f) Hệ thống tín chỉ tạo nên sự mềm dẻo để sinh viên có thể thay đổi ngành chuyên
môn của chính họ ở nửa chừng tiến trình học. Thay cho việc sinh viên phải học lại chơng
trình từ đầu, hệ thống tín chỉ ghi nhận các công việc trớc kia dẫn đến một văn bằng, chỉ
đòi hỏi những công việc bổ sung cần thiết để hoàn tất tri thức của ngành chuyên môn và
các đòi hỏi liên quan.
g) Hệ thống tín chỉ cung cấp các biến thể khác nhau trong niên lịch giảng dạy, vì
tuỳ theo khả năng và sở thích của họ. Các tín chỉ có thể đợc xem nh đã tạo ra một ngôn
ngữ chung giữa các trờng đại học, điều đó làm cho việc chuyển tiếp sinh viên giữa các tr-
ờng đại học gặp ít khó khăn nhất. Hệ thống tín chỉ còn tạo nên tính tự chủ về chơng trình
đào tạo của các trờng đại học, chẳng hạn nh nhiều sinh viên từ các trờng cao đẳng cộng
đồng đợc chuyển tiếp về các trờng đại học 4 năm vì rằng nó không đòi hỏi trờng gửi sinh
viên phải có một chơng trình đào tạo giống y hệt chơng trình của các trờng nhận sinh viên
chuyển tiếp.
k) Việc sử dụng hệ thống tín chỉ cho phép phát triển trong các trờng đại học các ch-
ơng trình đào tạo sóng đôi và các chơng trình chuyển tiếp. Các chơng trình này thờng tạo
cho sinh viên giỏi một cơ hội để nhận đợc bằng đại học ở nớc ngoài, đối với cả cấp đại
học và cấp sau đại học, mà không mất những chi phí không cần thiết, bằng cách giảm bớt
số năm học ở ngoài nớc. Sinh viên có thể ở trong nớc để hoàn thành phần đầu của chơng
trình đào tạo và sau đó ra nớc ngoài hoàn thành phần còn lại của chơng trình theo yêu
cầu của văn bằng hoặc ngợc lại. Việc tổ chức các chơng trình sóng đôi còn làm mở rộng
thêm số giáo trình giảng dạy ở mỗi trờng đại học.
Hiệu quả về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo.
l) Trong hệ thống tín chỉ, thành tích học tập của sinh viên đợc đo trên cơ sở từng
môn học. Việc hỏng một môn học không ảnh hởng nhiều trong việc ngăn cản quá trình
học tập, vì sinh viên hoặc có thể học lại môn học đó hoặc chọn học một môn học thay thế
khác. Việc hỏng đó không bị xem nh hỏng cả năm học, nh vậy sinh viên không buộc
phải học lại cả năm học hoặc phải bỏ học. Do đó hệ thống tín chỉ chỉ có hiệu quả hơn
trong việc giảm giá thành đào tạo và giảm số lợng ngời bị học lại lớp và bỏ lớp so với hệ
thống tổ chức đào tạo truyền thống có một đầu vào và một đầu ra. Một thí dụ rất rõ về u
điểm của hệ thống tín chỉ có thể lấy từ Indonesia, nơi mà hệ thống đó đạt thành công tốt
nhất trong việc nâng cao hiệu quả trong của đào tạo. Bắt đầu từ năm 1984 hệ thống tín chỉ
đã dần dần đợc đa vào hệ thống giáo dục đại học. Sự chuyển hớng đó đợc xem là rất có
hiệu quả trong việc làm giảm bớt số sinh viên học lại lớp và số sinh viên phải bỏ học và
trong việc làm gia tăng số sinh viên hoàn thành văn bằng đầu tiên của họ trong 4 - 5 năm
nhiều hơn là 7 - 8 năm. Các nớc phải gánh chịu tỉ số học lại lớp và bỏ học cao, chẳng hạn
Senegal và Venezuela, có thể mong muốn xem xét áp dụng hệ thống tín chỉ để làm tăng
nhận bằng những hiểu biết của họ. Cặp tài liệu, thờng xem nh một portfoloi, thờng chứa
các bài tiểu luận, các th đề nghị, khen thởng, bằng sáng chế và các bản sao những công
trình mà sinh viên đã thực hiện trong công việc. Cặp tài liệu đó đợc đánh giá bởi các
thành viên giáo chức. ở một số trờng đại học, một sinh viên có thể đợc cấp tín chỉ nếu tri
thức mà anh ta nói là anh ta tích luỹ đợc cũng giống nh các thông tin đợc trình bày trong
các môn học mà nhà trờng cung cấp. ở một số trờng khác, sinh viên có thể tìm kiếm các
tín chỉ với các kiến thức không song song với một môn học xác định nếu các thành viên
giáo chức xác định rằng kiến thức đó là đáng đợc cấp chứng chỉ.
o) Hệ thống tín chỉ tạo nên một sự liên kết giữa các đơn vị khối lợng công việc hoạt
động giáo dục đợc hoàn thành và số tiền chi phí để thực hiện chúng khi điều hành các tr-
ờng đại học. Các hoạt động hành chính, cả về quản lý và về kinh tế, đều có thể biểu diễn
qua các giờ tín chỉ: học phí đợc thu theo giờ tín chỉ, lơng đợc trả theo số giờ tín chỉ đã
38
dạy, phơng tiện đợc cung cấp theo giờ tín chỉ, và các chơng trình học tập cũng đòi hỏi
đăng ký theo giờ tín chỉ.
p) Hệ thống tín chỉ còn cho phép các bộ môn kết hợp đợc các nguồn lực và phối hợp
đợc với nhau giảng dạy các lớp học để tránh sự trùng lặp về các môn học. So với hệ thống
điều hành đào tạo đại học cũ, hệ thống tín chỉ tối u hoá việc sử dụng các nguồn nhân lực
và vật lực. Chúng còn cho phép sử dụng đội ngũ giáo chức có hiệu quả hơn. Các giáo s có
thể đợc phân công dạy một số lớp học trong một học kỳ; do đó họ sẽ dạy đợc nhiều sinh
viên hơn.
q) Với sự tăng nhanh số lợng sinh viên đại học và mức chi tiêu nhảy vọt, việc sử
dụng giờ tín chỉ có thể đợc xem nh biện pháp để mang lại một trật tự nào đó cho các vấn
đề quản lý đại học đang bị đe doạ bởi sự tăng trởng quá nhanh chóng. Nhiều bang ở Hoa
Kỳ có đề xuất các công thức cấp kinh phí cho các trờng đại học công lập, cơ sở của công
thức này là: hỗ trợ kinh phí dựa trên số lợng giờ tín chỉ đợc thực hiện. Các viện đại học
còn có thể thấy rằng việc dùng hệ thống tín chỉ sẽ thích hợp hơn khi phải đối mặt với khó
khăn về ngân sách. Tính mềm dẻo của hệ thống tín chỉ cho phép làm sao cho các môn học
đợc lựa chọn có thể giảm xuống mà không bị ngắt quãng khi kinh phí bị cắt giảm.
B. Nhợc điểm
giá trị của các hoạt động khoa học nghiêm túc. Những phê phán đối với chơng trình tích
luỹ hồ sơ (portfolio, xem điểm trớc đây) cho ngời lớn tuổi công nhận rằng những sinh
viên nhiều tuổi có thể có lợi rất nhiều qua kinh nghiệm sống của họ, nhng các trờng đại
học sẽ không muốn cấp tín chỉ cho việc học tập mà nhà trờng không phải làm gì cả. Nh
lời của Chester E.Finn Jr., giáo s về giáo dục và chính trị công cộng Viện đại học
Vanderbult:
"Văn bằng đợc đa ra để chứng nhận một mức độ học vấn nào đó hoặc một bộ phận
của nó, khái niệm ấy nay đã biến mất, nơi cấp văn bằng chẳng còn việc gì để mà làm cả
Các trờng đại học đang đói sinh viên và sẽ cố gắng hết sức để khuyến khích mọi ngời
rằng đạt đến nơi đây là một việc rất dễ dàng. Điều đó cũng giống nh nói rằng: "Chúng tôi
sẽ cấp cho anh tín chỉ ba học kỳ chỉ vì anh đã lớn".
c) Hệ thống tín chỉ làm méo mó động cơ của sinh viên trong quá trình học tập. Sinh
viên nhìn mức độ học vấn quy định cho một văn bằng nh là sự tích luỹ các tín chỉ học tập
hơn là việc học tập vì lợi ích cuối cùng của nó.
d) Khả năng chuyển tiếp tín chỉ không phải bao giờ cũng đợc đảm bảo. Sự mất mát
có thể rất lớn nếu sinh viên chuyển dịch từ đại học này sang đại học khác. Một vấn đề gây
cấn liên quan đến việc chuyển tiếp sinh viên giữa các trờng đại học với nhau là làm thế
nào để điều hoà giữa sự đa dạng của các trờng đại học khi duy trì tiêu chuẩn chất lợng
cao. Việc một trờng đại học hoặc một viện đại học đợc công nhận qua kiểm định chất l-
ợng (accredited) chỉ là một trong nhiều yếu tố để giải quyết việc chuyển tiếp tín chỉ. Về
nguyên tắc, nếu một trờng đại học đợc công nhận qua kiểm định chất lợng bởi nhiều cơ
quan kiểm định khác nhau (phần lớn các cơ quan đó không xác định công việc do một
đơn vị tín chỉ học tập đòi hỏi), công việc ở một trờng đại học xem là đợc chấp nhận bởi
mọi thành viên của cơ quan đó hoặc các tổ chức kiểm định của khu vực khác. Tuy nhiên,
các trờng đại học và viện đại học ít khi bị buộc phải nhận sinh viên chuyển tiếp chỉ vì lý
do trờng "gửi" sinh viên đã đợc công nhận qua kiểm định chất lợng. Phần lớn các trờng ra
quyết định liên quan đến các sinh viên chuyển tiếp dựa trên sự đánh giá sơ bộ riêng của
họ về chất lợng trờng "gửi" sinh viên, đánh giá này có thể có đợc nhờ mạng lới giao tiếp
không chính thức giữa các giáo s và các nhà quản lý.
40
lời giải cho các vấn đề mà giáo dục đại học ở các nớc đang phát triển gặp phải. Tuy nhiên,
sẽ sai lầm nếu cho rằng mọi thách thức đối với giáo dục đại học đang đợc giải quyết
thành công ở Hoa Kỳ và rằng những vấn đề sát sờn của các nớc đang phát triển có thể giải
quyết đợc bằng cách áp dụng trực tiếp các mô hình của nớc ngoài.
A. Các mô hình
21. Phần lớn trờng đại học ở các nớc đang phát triển đã đợc thành lập tơng đối gần
đây, hoặc dới chế độ thực dân hoặc ngay sau khi độc lập. Cũng nh hệ thống đại học Mỹ
41
đã đợc xây dựng theo các mô hình và dáng dấp của hệ thống Anh và Đức, các nớc đang
phát triển xây dựng các mô hình hệ thống đại học của họ thừa hởng từ các thế lực thực
dân ở nớc họ trớc đây. Chẳng hạn, Indonesia thừa hởng mô hình của Hà Lan, Malaysia và
Singapore theo mô hình Anh, Côte d"Ivoire chấp nhận mô hình Pháp, và Philippines lấy
mô hình Mỹ. Thậm chí Thái Lan, nớc còn giữ đợc tự do không bị trực tiếp cai trị của thực
dân, có các trờng đại học cũng xây dựng theo mẫu lai các mô hình phơng Tây.
22. Khác với mọi nớc đang phát triển, các mô hình phơng tây đó rất khác nhau về
hình thức quản lý, về cấu trúc, về tổ chức và về mức độ cứng nhắc. Một vài mô hình là có
định hớng và cấu trúc chuyên môn hẹp hơn về mô hình khác. Hai mô hình cực đoan là hệ
thống châu Âu thực dân theo kiểu truyền thống tinh hoa và hệ thống tín chỉ môn học Mỹ
đa dạng. Các viện đại học Châu Âu truyền thống có một chơng trình giảng dạy có giới
hạn hẹp. Các viện đại học Mỹ, ngợc lại, chẳng những mở rộng số lợng sinh viên mà còn
mở rộng phạm vi chơng trình đào tạo. Nh đã lu ý trên đây, các trờng đại học và viện đại
học Mỹ đã từ bỏ quan niệm nhân văn tự do theo truyền thống Anh và khái niệm nghiên
cứu theo kiểu Đức. Việc đánh giá liên tục các hoạt động học tập thông qua việc sử dụng
một hệ thống tín chỉ môn học đã thay thế cho các kỳ thi hàng năm theo truyền thống. Các
môn học bố trí ngắn hơn, và các điểm đợc cho thờng xuyên nên sinh viên luôn luôn bị
quản lý.
B. Tình trạng
23. Ngày nay, có một tình hình chung tồn tại ở nhiều nớc đang phát triển, không kể
biên giới khu vực của chúng. Trong nhiều trờng hợp, ảnh hởng mạnh mẽ của thực dân vẫn
còn duy trì và hệ thống giáo dục đại học vẫn còn quá cứng để thích nghi với sự biến đổi
Bảng 1
Tỉ lệ ở lại lớp và thôi học ở một số nớc đang phát triển
Nớc Tỉ lệ ở lại lớp (%) Tỉ lệ thôi học (%)
Algeria 50 *
Madagasca 30 *
Rwanda
20 1)
25
Senegal 16 - 55
Tunisia 6 - 29 43 *
Yemen n.a 15 - 50
Nguồn t liệu: Ngân hàng Thế giới
* Hai năm đầu của đại học
1) trung bình là 20%. Tuy nhiên sinh viên đợc phép học lại 2 lần trong 2 năm đầu đại học. Quy chế đó không
đợc tuân theo trong thực tế và những sinh viên đã bị mất 2 năm cũng có thể hoặc chuyển hớng sang một khoa khác
hoặc đợc xét vớt. Thông thờng hơn 40% sinh viên ở lại lớp.
C. Những điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho sự chuyển
đổi thành công
26. Để đảm bảo cho một sự chuyển đổi thành công sang hệ thống tín chỉ, cần phải
có một số điều kiện tiên quyết, và từng tình huống riêng cần đợc phân tích cẩn thận.
27. Khi các mô hình phơng Tây về giáo dục đại học, dù là mô hình cứng nhắc của
Anh hay mô hình mềm dẻo của Mỹ, có thể đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự
thay đổi cấu trúc ở các nớc đang phát triển, một sự chuyển đổi thành công còn phụ thuộc
vào các điều kiện tiên quyết và có quan hệ chặt chẽ với nhau sau đây:
43
a) Chất lợng của mô hình nớc ngoài: Không phải mọi mô hình giáo dục đại học ph-
ơng tây đều là đổi mới, tiến bộ và thành công nh nhau. Do đó sự đánh giá cẩn thận có thể
đem đến một mô hình thích hợp đáp ứng các nhu cầu của địa phơng.
b) Mức độ khủng hoảng của hệ thống giáo dục đại học ở các nớc đang phát triển.
Các nớc đang phát triển dễ tiếp nhận cải cách giáo dục đại học nhất trong các thời kỳ
một học kỳ bình thờng. ảnh hởng của Mỹ cũng còn có thể nhìn thấy ở thuật ngữ phân
loại sinh viên - freshman, sophomore, junior, senior; ở tiến trình học văn bằng 4 năm, ở
44
hình thức cho điểm và đánh giá, và ở việc cung cấp phúc lợi sinh viên, t vấn, ở truyền
thống sinh viên và các chơng trình ngoại khoá nh các hoạt động thể thao. Sự ảnh hởng Mỹ
mạnh mẽ có thể nhìn thấy trong việc đa vào hệ thống đơn vị môn học/ các giờ tín chỉ học
kỳ, trong việc đa vào kiểu học bạ sinh viên, và trong sự đa dạng của các môn học đợc
giảng dạy" (Watson, Keith 1989).
30. ảnh hởng Mỹ có thể nhìn thấy ở việc ban bố Đạo luật Viện Đại học
Ramkhâmheng (1975) để thành lập Viện Đại học mở đầu tiên. Khái niệm Đại học mở tự
nó đợc mợn theo mô hình Anh. Tuy nhiên, Thái Lan đã cải tiến Viện Đại học mở Anh và
kết hợp đợc việc sử dụng hệ thống tín chỉ học tập theo hệ thống Mỹ và làm phù hợp với
nhu cầu riêng của họ. Đại học mở đã đợc cải tiến ở đó, việc giảng dạy thực hiện phần lớn
bằng mạng lới truyền hình nội bộ nên một số lớn sinh viên có thể học trong một lớp do
một thầy giảng. Giáo chức đợc cho phép, thậm chí khuyến khích, bán tài liệu ghi bài
giảng in dới dạng sách; và sinh viên có thể học một số tín chỉ theo các môn học trên cơ sở
bán thời gian, có thể từ giã trờng đại học khi họ cảm thấy cần thiết, và quay lại trờng sau
một thời gian. Việc tích luỹ các tín chỉ là yêu cầu để đợc cấp một văn bằng.
31. Trong trờng hợp Thái Lan việc chấp nhận và cải tiến hệ thống Mỹ không giải
thoát hệ thống khỏi những vấn đề gay cấn của giáo dục đại học. Trong khi mô hình tạo
nên mức độ mềm dẻo cao, nó vẫn bị phê bình là tuy có đảm bảo một danh mục môn học
rộng rãi nhng làm giảm độ sâu sắc của việc học tập. Nhiều sinh viên không thể học tập
nhiều môn học khác nhau trên một cơ sở liên ngành. Số lợng các học kỳ, các đòi hỏi về
tín chỉ, điểm trung bình và điểm trung bình tích luỹ để đạt tốt nghiệp đợc ghi trong nhiều
niên lịch giảng dạy của các trờng. Thông thờng sinh viên phải nhận đợc điểm trung bình
tích luỹ ít nhất là 2.0 cho bằng Bachelor và cần phải có ít nhất 80% tỉ lệ hiện diện ở lớp tr-
ớc khi họ đợc ngồi làm bài thi kết thúc. Tuy nhiên, các điều kiện tiên quyết đó không đợc
sử dụng để xét tốt nghiệp ở hai Viện đại học mở.
32. So với các nớc thực dân, Thái Lan đã phát triển sau nhiều nớc khác nh một
khách hàng tìm kiếm giáo dục ở nớc ngoài. Mặc dù trớc đây tầng lớp giàu có cũng đã gửi
cả việc đào tạo đại học và sau đại học. Hệ thống tín chỉ trong bối cảnh ấn Độ đã hoạt
động khác với sơ đồ nguyên thuỷ của Mỹ. ở phần lớn trờng đại học giảng dạy các chơng
trình kỹ thuật thì các môn học là liên tục, có sự lựa chọn chút ít, và giảng dạy chỉ trong
một năm. Sinh viên hỏng một môn học trong một học kỳ có thể chờ tới năm tiếp theo để
học lại. Điều đó thờng tạo ra sự bất mãn của sinh viên và thờng dẫn tới sự chống đối trong
sinh viên. Trong hệ thống Mỹ, các học kỳ không bằng nhau về thời gian. ở ấn Độ, độ dài
của một học kỳ có thể thay đổi từ 2 đến 8 tháng tuỳ theo thời gian lộn xộn của sinh viên.
Các sự cố này thúc đẩy nhiều ngời phải xét lại việc sử dụng hệ thống tín chỉ/ học kỳ. Dù
cho những khó khăn ấy, hệ thống tín chỉ vẫn hoạt động tốt ở các trờng đại học nh IIT, nơi
mà sinh viên đợc chọn lựa kỹ và sự lộn xộn ít xảy ra.
34. Liên quan với việc giáo dục đào tạo kỹ thuật ở ấn Độ, 5 học viện công nghệ ấn
Độ đóng vai trò quan trọng nh các trung tâm nguồn khu vực, đã làm việc kết hợp chặt chẽ
với các cơ sở giáo dục đại học khác và với công nghiệp địa phơng. Các học viện, đợc xem
là các trung tâm chất lợng cao, "là các cơ sở tự trị về quản lý", tự do trong việc xây dựng
chơng trình giảng dạy riêng của mình, tổ chức các kỳ thi riêng, và cấp các văn bằng riêng.
Hơn nữa, các học viện này cũng xây dựng các tiêu chuẩn để điều hành việc nhập học,
điều kiện làm việc và việc sử dụng các phơng tiện vật chất. Là đối tợng của niềm tự hào
quốc gia, các IIT đợc cấp ngân sách tập trung, và đã có nhiều cố gắng để các chơng trình
46
của họ đợc xây dựng có cùng các tiêu chuẩn cao nh các chơng trình giảng dạy ở nớc
ngoài. Chúng lôi kéo đợc các sinh viên và giáo chức tốt nhất, cung cấp các điều kiện làm
việc tốt nhất, và có các chơng trình giảng dạy tiến bộ nhất.
35. Thành công của hệ thống tín chỉ tại các IIT một phần nhờ sự có mặt các cơ chế
hỗ trợ mạnh mẽ của nó. Các IIT có quyền tự trị cao nhất trong các học viện công nghệ ở
ấn Độ. Kế hoạch, sự phát triển và chính sách nhận sinh viên của họ đợc điều phối thông
qua Hội đồng các Học viện công nghệ và Bộ giáo dục. Mọi IIT là các trung tâm nghiên
cứu đợc quốc tế thừa nhận, và mọi IIT có các chơng trình tăng cờng sau đại học. Họ là
các trờng đại học quốc tế với hai cách hiểu. Thứ nhất, các IIT đợc tạo ra với mục tiêu đạt
đợc trình độ quốc tế, có nhiều đặc điểm của hệ thống giáo dục nớc ngoài, nh: a) Chấp
nhận hệ thống tín chỉ/ học kỳ; b) Phơng pháp tranh luận khi giảng dạy; c) Sử dụng các đề
IIT đã vận động rất mạnh theo hớng tiến bộ, từ bỏ dần các ý tởng và kinh nghiệm cũ. Họ
coi trọng phơng pháp tranh luận, đánh giá bên trong, các kỳ thi thờng xuyên và các chơng
trình giảng dạy mềm dẻo và hớng về sinh viên.
39. Cuối cùng so với các trờng đại học kỹ thuật khác của ấn Độ, 5 IIT nói trên thuộc
về các trờng u tú. Họ rất tiên tiến và đợc đánh giá cao trên vũ đài kỹ thuật quốc tế. Cơ cấu
tổ chức của họ, sự đầu t lớn của họ cả về cơ sở vật chất lẫn nhân lực, tính chất quốc tế,
quan hệ chặt chẽ với nớc ngoài và sự hỗ trợ giáo dục từ nớc ngoài, và các yếu tố hỗ trợ
sống động khác đã cho phép họ gặt hái lợi ích từ nhiều mặt u điểm của hệ thống tín chỉ.
Thành công của IIT trong việc chấp nhận áp dụng hệ thống tín chỉ đã có ý nghĩa rộng lớn
hơn. Cũng giống nh ở Hoa Kỳ, lợi ích của hệ thống tín chỉ đối với IIT còn tập trung nhiều
ở nền tảng ý tởng mà dựa vào đó hệ thống tín chỉ hoạt động, hơn là ở bản thân hệ thống
tín chỉ.
3. Chấp nhận áp dụng cục bộ ở mức khoa: Viện đại học Dakar, Senegel.
40. Senegal sẽ cho chúng ta biết một trờng hợp lý thú khác. Hệ thống giáo dục đại
học của Senegal đợc xây dựng theo mô hình hệ thống Pháp. Chơng trình giảng dạy cứng
nhắc, sự tăng trởng sinh viên rất nhanh, tỷ số lặp lại rất cao và nội dung chơng trình
không thích hợp đã buộc phải có những cố gắng cải cách vào các năm 1969, 1970 và
1981. Gần đây nhất, vào tháng mời năm 1990, Viện Đại học Dakar (UCAD) đã đa vào áp
dụng hệ thống tín chỉ ở 3 khoa của họ nhằm làm tăng hiệu quả trong. Sự vận động theo h-
ớng từ bỏ khái niệm truyền thống cũ về các kỳ thi kết thúc và chấp nhận cách tiếp cận
modul hoá với các môn học cốt lõi và môn học tự chọn trên cơ sở thí điểm ở một số bộ
môn trong khoa khoa học nhân văn. Ngời ta mong đợi rằng hiệu quả trong của các bộ
môn này sẽ tăng lên do việc giảm bớt tỉ lệ ở lại lớp.
"Loại tổ chức đào tạo mà có thể đợc triển khai chỉ ở Bộ môn với số lợng nhập học
không quá nhiều, sẽ có một số u điểm so với hệ thống thi kết thúc đậu - rớt đang hiện
hành. Hiệu quả bên trong của các bộ môn tham dự áp dụng hệ thống tín chỉ sẽ tăng rõ rệt
với sự biến mất của hiện tợng ở lại lớp rất phổ biến. Chất lợng học tập sẽ tăng vì sinh viên
sẽ đợc kiểm tra thờng xuyên. Sự tiết kiệm cuối cùng có thể đạt đợc bằng cách tránh việc
lặp lại các môn học giống nhau giảng dạy ở một số khoa. Một số bộ môn xác định nào đó
sẽ phục vụ giảng dạy cho các ngành đào tạo khác nhau (nh ngôn ngữ, tin học, thống kê,
điểm đó là sự cát vụn kiến thức.
44. Hệ thống tín chỉ dần dần đợc nhiều nớc đang phát triển chấp nhận. Những kinh
nghiệm quốc tế rộng rãi cho thấy rằng khi kinh tế biến đổi và tăng trởng, hệ thống giáo
dục đại học cũng phải biến đổi nếu muốn đáp ứng một cách có hiệu quả nhu cầu về nhân
lực có kỹ năng. Nền kinh tế của nhiều nớc đang phát triển đang thật sự biến đổi và rõ ràng
là các chính sách và cấu trúc giáo dục đại học đã thiết lập cho các giai đoạn trớc kia cần
đợc đánh giá lại. Hiện nay, nhu cầu tăng lên về thay đổi cấu trúc giáo dục đại học đã đợc
các nhà quyết định chính sách ở các nớc phát triển và đang phát triển nhận biết, và nhiều
thay đổi diễn ra đã chịu ảnh hởng mạnh mẽ của mô hình giáo dục đại học Mỹ.
45. Vì rằng hệ thống học tập là rộng lớn, mềm dẻo và phức tạp, vì rằng anh ngữ là
ngôn ngữ chính để giao tiếp, vì rằng có nhiều tạp chí quan trọng và nhà xuất bản quan
trọng ở Mỹ, và vì rằng có nhiều nhà bác học và nhà hoạch định chính sách đã học ở Hoa
49
Kỳ, nên hệ thống Mỹ có sự hấp dẫn mạnh mẽ. Sự chấp nhận hệ thống tín chỉ ngày càng
trở thành hiển nhiên ở các nớc đang phát triển. Việc sử dụng cách chuyển tiếp tín chỉ,
chẳng hạn đang đóng vai trò chính ở nhiều nớc Châu á khi họ đang có xu hớng tăng sự đa
dạng của các trờng đại học và của các chơng trình đào tạo thông qua việc thành lập các tr-
ờng chuyên nghiệp ngắn hạn, các trờng đại học kỹ thuật và các đại học mở dùng hình
thức đào tạo từ xa. Mô hình đa dạng đó dự kiến sẽ đợc tiếp tục trong thập kỷ 1990. Chẳng
hạn, các trờng đại học Singapore đang thiết lập mối liên kết giữa các trờng thông qua việc
sử dụng bố trí chuyển tiếp tín chỉ. Mục tiêu của việc làm này là sử dụng sự tích lũy tín chỉ
nh là một cách sàng lọc để tạo cơ hội cho các sinh viên có năng lực của trờng cao đẳng
Bách nghệ chuyển tiếp đến viện đại học Singapore sau 2 năm. Sự chuyển tiếp tín chỉ cũng
sẽ còn hỗ trợ các mối liên hệ với các viện đại học nớc ngoài và đang phát triển trong các
trờng đại học ở cả Singapore và Malaysia. Ngoài các nớc đã nêu trên, có nhiều nớc đang
thí điểm áp dụng hệ thống tín chỉ nh Trung Quốc, Mozambique, Niger, Uganda. Kinh
nghiệm Trung Quốc trong những năm của thập kỷ 80 đã chỉ ra rằng khi tổ chức lại kiến
thức, sự chuyên môn hóa đã đợc xác định rộng hơn, đặc biệt trong các chơng trình khoa
học tự nhiên và kỹ thuật, cho phép sinh viên lựa chọn đến 30% môn học của họ và giảm
nhiều giờ đòi hỏi lên lớp ,cung cấp nhiều thời gian hơn cho việc học cá nhân và học trong
Sự mềm dẻo của hệ thống tín chỉ phụ thuộc nhiều vào cơ chế hỗ trợ, chẳng hạn các môn
học, các giáo chức, các trờng đại học riêng biệt sắp xếp với nhau nh thế nào, và sắp xếp
sinh viên của nhau nh thế nào, và mức độ ủng hộ từ các nhà quản lý, từ giáo chức và từ
sinh viên ra sao? Loại mô hình đợc chấp nhận bởi các trờng đại học ở các nớc đang phát
triển và mức độ chú trọng để áp dụng hệ thống tín chỉ sẽ phụ thuộc nhiều vào thái độ của
các nhà cầm quyền quốc gia chịu trách nhiệm về giáo dục đại học ở đó. Một điều quan
trọng cần nhấn mạnh là chính các trờng đại học không thể chấp nhận một cách có hiệu
quả việc áp dụng hệ thống tín chỉ nếu không có sự chỉ đạo rộng rãi của các cơ quan nói
trên. Hệ thống tín chỉ chỉ có thể xuất khẩu thành công sang các nớc đang phát triển nếu
các hệ thống giáo dục đại học ở các nớc đó là nhằm mục tiêu nh: mức độ mềm dẻo cao,
sự nhập học rộng rãi, việc chuyển đổi giữa các khoa và các trờng, khả năng lựa chọn ch-
ơng trình giảng dạy, sự kết hợp giáo dục thờng xuyên với hệ thống văn bằng. Hơn nữa,
các nớc đó phải làm cho hệ thống tín chỉ thích ứng với mình, phù hợp với những mâu
thuẫn và khát vọng quốc gia của đất nớc.
49. Sẽ dần đến sai lầm nếu tạo nên ấn tợng rằng các nớc đang phát triển có thể dễ
dàng chấp nhận áp dụng hệ thống tín chỉ mà không cần xây dựng kế hoạch thực hiện. Một
số trong những chủ đề chính mà các nớc cần xem xét trớc khi chấp nhận áp dụng tín chỉ
là:
- Có sự cam kết ủng hộ mạnh mẽ và liên tục của nhà cầm quyền quốc gia chịu
trách nhiệm về giáo dục đại học.
- Có sự chấp nhận và ủng hộ của các nhà quản lý, của đội ngũ giáo chức và sinh
viên.
- Thiết lập đợc các cơ quan kiểm định chất lợng để chỉ ra rằng công việc ở một tr-
ờng đại học đợc xem là có thể chấp nhận bởi mọi thành viên của nó hoặc các hội kiểm
định chất lợng khu vực khác.
- Cấu trúc lại chơng trình giảng dạy để tạo nên một chơng trình có tính kết hợp tốt.
- Xây dựng đợc 1 cơ chế quản lý tốt, một hệ thống thông tin quản lý (Management
Information System MIS) để đánh giá các đòi hỏi của lực lợng giảng dạy và thành tích
học tập của sinh viên.
51
phép các nớc dần dần chấp nhận áp dụng triển khai hệ thống đó mà không động đến các
mối cân bằng toàn bộ khác. Trong nhiều trờng hợp hệ thống tín chỉ đợc đa vào trên cơ sở
thực nghiệm.
52. Điều cuối cùng cần nói ở đây là: Việc đa một bức tranh so sánh phối cảnh là có
lợi, nhng ít khi có thể vay mợn trực tiếp các hệ thống từ nớc ngoài vào mà không phải
thực hiện một vài thay đổi. Phải phát triển các cơ sở hạ tầng để hỗ trợ nó và phải nghiên
cứu để hiểu thấu đáo những hoàn cảnh mà trong đó hệ thống sẽ đợc áp dụng. Điều quan
trọng cần ghi nhớ là sự phát triển hệ thống tín chỉ ở Mỹ đã diễn ra trong 1 thời gian dài và
52
hệ thống đã liên tục đáp ứng cho các thành tố khác nhau, các thành tố đã giúp hình thành
các viện đại học hiện đại của Mỹ ngày nay.
53