Chuyên đề 2. Tổng quan về khoa học quản lý và quản lý giáo dục
Số tiết học: 15
(Lớp CBQL ĐH, CĐ)
A. Mục tiêu của chuyên đề:
Sau khi học chuyên đề này, người học có khả năng:
Kiến thức:
- Phân biệt được lãnh đạo và quản lý.
- Tóm tắt được các học thuyết quản lý tiêu biểu và xác định khả năng
vận dụng trong quản lý giáo dục
- Nêu được các đặc điểm của quản lý giáo dục và một số mô hình
QLGD hiện đại.
Kỹ năng:
- Thực hiện đúng vai trò lãnh đạo và quản lý trong điều hành các hoạt
động của khoa/ phòng/ bộ môn/ nhà trường
- Có khả năng chon lọc và vận dụng kiến thức của các học thuyết
quản lý và mô hình quản lý giáo dục hiện đại vào công tác quản lý
trường học.
Thái độ:
- Đổi mới tư duy về lãnh đạo và QLGD, chủ động, tích cực trong thực
hiện nhiệm vụ
B. Tóm tắt nội dung chuyên đề
Giới thiệu tổng quan về khoa học quản lý và những học thuyết quản lý
tiêu biểu, áp dụng các học thuyết quản lý trong quản lý giáo dục nói chung và
quản lý trong trường đại học, cao đẳng nói riêng
C. Nội dung chi tiết chuyên đề
1. Tổng quan về khoa học quản lý
1.1. Lãnh đạo và quản lý
1.1.1. Lãnh đạo
Có thể khái quát: lãnh đạo là quá trình khởi xướng, xác định phương
hướng, mục tiêu lâu dài, lựa chọn chiến lược, tác động, ảnh hưởng tìm kiếm sự
1
Bảng 1.1. So sánh lãnh đạo và quản lý của Bennis
Lãnh đạo tập trung vào: Quản lý tập trung vào:
2
Hiệu lực
Mục tiêu lâu dài
Con người và chất lượng
Phát triển một tầm nhìn được chia sẻ.
Điều chỉnh con người và tầm nhìn
Lôi kéo làm việc nhóm
Thúc đẩy và hỗ trợ
Lãnh đạo giỏi là làm đúng việc
cần thiết.
Hiệu quả
Những thành tựu gần nhất
Khuôn khổ căn bản
Lập kế hoạch và ngân sách
Tổ chức(công việc và nguồn lực)
Hành pháp
Giám sát
Quản lý giỏi là làm các
công việc đúng cách.
( Nguồn: Theo Bennis, (1994)
1.2. Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu KHQL
1.2.1.Đối tượng nghiên cứu
Khoa học quản lý lấy thực tiễn quản lý (ở tất cả các lĩnh vực và cấp độ) làm
đối tượng nghiên cứu nhằm tìm ra cái chung, cái giống nhau, cái lặp lại của hoạt
động quản lý ở tất cả các lĩnh vực và cấp độ của nó, tức là các quy luật quản lý.
Khoa học quản lý nghiên cứu các mối quan hệ phát sinh trong hoạt động
của các tổ chức nhằm tìm ra những quy luật và cơ chế vận dụng những quy luật
đó trong quá trình tác động lên con người, thông qua đó mà tác động lên các yếu
còn sử dụng một số phương pháp cụ thể khác như: Phương pháp phân tích - tổng
hợp, Phương pháp quy nạp - diễn dịch, Phương pháp hệ thống, Phương pháp mô
hình hoá và một số phương pháp liên ngành khác.
1.3.Giới thiệu một số học thuyết quản lý tiêu biểu
1.3.1.Thuyết quản lý truyền thống:
a) Thuyết quản lý khoa học
Đại diện tiêu biểu cho trường phái khoa học này là Frededric W.Taylor
(1856 - 1915)
Nội dung của lý luận quản lý một cách khoa học bao gồm các mặt sau:
1. Xác định một cách khoa học khối lượng công việc hàng ngày của công
nhân, phải nghiên cứu thời gian và thao tác cần thiết cho công việc để xây dựng
định mức cho công việc. Đó là nguyên lý định mức.
2. Phải lựa chọn những thợ hạng nhất cho mỗi công việc.
3. Nguyên lý tiêu chuẩn hoá.
4. Xây dựng và thực hiện chế độ trả lương theo số lượng sản phẩm nhằm
khuyến khích người lao động.
4
5. Hai bên thợ và chủ đều phải nhận thức rằng việc nâng cao năng suất
lao động có lợi cho cả hai bên, do đó cần có một cuộc “cách mạng tinh thần”,
hợp tác và cùng nhau cố gắng.
6. Tách biệt chức năng kế hoạch với chức năng thừa hành.
7. Thực hiện chế độ chức năng và chế độ chức năng trực tuyến.
8. Nguyên lý kiểm soát, quản lý về mặt cơ cấu tổ chức.
Thực chất của việc quản lý khoa học là cuộc cách mạng tư tưởng hoàn
toàn của công nhân trong tất cả các xí nghiệp hoặc tổ chức, là cuộc cách mạng
tư tưởng hoàn toàn về trách nhiệm của công nhân đối với công việc của họ, về
cách đối xử của họ với với những đồng sự và đối với chủ. Vì vậy, ông nêu ra 4
nguyên tắc quản lý khoa học:
1. Phương pháp khoa học cho những thành tố cơ bản trong công việc của
công nhân, thay cho phương pháp cũ dựa vào kinh nghiệm.
Fayol chỉ ra rằng năng suất lao động của con người làm việc chung trong
tập thể tùy thuộc vào sự sắp xếp tổ chức của nhà quản lý. Việc sắp xếp, tổ chức
đó được Fayol gọi là việc quản lý tổng quát và việc này cũng quan trọng
như 5 việc khác trong cơ sở sản xuất kinh doanh:
(1) Sản xuất,
(2) Tiếp thị hay Marketing,
(3) Tài chính,
(4) Quản lý tài sản và con người,
(5) Kế toán - thống kê.
Để có thể làm tốt việc sắp xếp, tổ chức xí nghiệp Fayol đã đề nghị các nhà quản
lý nên theo 14 nguyên tắc quản lý:
1. Phải phân công lao động.
2. Phải xác định rõ mối quan hệ giữa quyền hành và trách nhiệm.
3. Phải duy trì kỷ luật trong xí nghiệp.
4. Mỗi công nhân chỉ nhận lệnh từ một cấp chỉ huy trực tiếp duy nhất.
5. Các nhà quản lý phải thống nhất ý kiến khi chỉ huy.
6. Quyền lợi chung luôn luôn phải được đặt trên quyền lợi riêng.
7. Quyền lợi kinh tế phải tương xứng với công việc.
6
8. Quyền quyết định trong xí nghiệp phải tập trung về một mối.
9. Xí nghiệp phải được tổ chức theo cấp bậc từ giám đốc xuống đến công nhân.
10. Sinh hoạt trong xí nghiệp phải có trật tự.
11. Sự đối xử trong xí nghiệp phải công bình.
12. Công việc của mỗi người trong xí nghiệp phải ổn định.
13. Tôn trọng sáng kiến của mọi người.
14. Xí nghiệp phải xây dựng cho được tinh thần tập thể.
Trường phái hành chính chủ trương rằng, năng suất lao động sẽ cao trong
một tổ chức được sắp đặt hợp lý. Nó đóng góp rất nhiều trong lý luận cũng như
thực hành quản lý, nhiều nguyên tắc quản lý của tư tưởng này vẫn còn áp dụng
ngày nay. Các hình thức tổ chức, các nguyên tắc tổ chức, quyền lực và sự ủy
(4) Cần chỉ định người quản lý;
(5) Cần trả lương xứng đáng cho hoạt động của nhà quản lý;
(6) Người quản lý không nên là người sở hữu đơn vị mà mình điều hành;
(7) Hoạt động quản lý của nhà quản lý phải tuân thủ chặt chẽ mọi qui tắc,
chuẩn mực và chịu sự kiểm tra.
Weber cho rằng bất kỳ tổ chức xã hội nào cũng phải lấy quyền lực ở một
hình thức nào đó làm cơ sở tồn tại. Xét về mặt quản lý, quyền lực là mệnh lệnh
của nhà quản lý tác động đến hành vi của người bị quản lý. Người bị quản lý phải
tiếp nhận hoặc phục tùng mệnh lệnh của nhà quản lý, lấy mệnh lệnh của nhà quản
lý làm chuẩn mực cho hành vi của họ. Tuy nhiên Weber không chỉ coi quyền lực
là cơ cấu mệnh lệnh dẫn đến sự phục tùng mà còn cho rằng người bị quản lý vui
lòng phục tùng, tựa hồ như người bị quản lý đã xuất phát từ lý do tự thân, coi nội
dung phục tùng mệnh lệnh là khuôn phép cho mọi hành động của họ. Nhiều nội
dung của học thuyết quản lý bàn giấy có thể vận dụng trong QLGD, chẳng hạn:
Thể chế hóa việc phân công lao động, tuyển chọn cán bộ viên chức không chỉ dựa
vào hồ sơ lý lịch mà phải qua sát hạch thực tế, hoạt động quản lý cần tuân thủ qui
tắc, chuẩn mực và chịu sự kiểm tra…
1.3.2.Một số học thuyết theo trường phái hành vi
Tư tưởng quản lý theo quan điểm hành vi, là những quan điểm quản lý
nhấn mạnh đến vai trò của yếu tố tâm lý, tình cảm, quan hệ xã hội của con người
trong công việc. Tư tưởng này cho rằng, hiệu quả của quản lý do năng suất lao
8
động quyết định, nhưng năng suất lao động không chỉ do các yếu tố vật chất
quyết định mà còn do sự thỏa mãn các nhu cầu tâm lý, xã hội của con người. Lý
thuyết này bắt đầu xuất hiện ở Mỹ trong thập niên 30, được phát triển mạnh bởi
các nhà tâm lý học trong thập niên 60, và hiện nay vẫn còn được nghiên cứu tại
nhiều nước phát triển nhằm tìm ra những hiểu biết đầy đủ về tâm lý phức tạp
của con người, một yếu tố quan trọng để quản lý. Có thể kể đến một vài tác giả
thuộc trường phái này:
a) Thuyết quản lý của Mary Parker Follett (1863 - 1933):
(5) Nhu cầu sáng tạo
Nhà quản lý cần hiểu rõ nhu cầu của con người để có những phương pháp
quản lý phù hợp nhằm tạo được động lực, phát huy hết khả năng của đối tượng
quản lý - những thành viên trong tổ chức, làm cho tổ chức phát triển có hiệu quả
đạt được những mục tiêu đã đề ra.
c) Thuyết X- thuyết Y của Douglas. Mc. Gregor (1906 - 1964)
Thuyết X cho rằng:
- Phần đông mọi người đều không thích làm việc nên luôn có xu hướng
tránh công việc nếu có cơ hội.;
- Thích được chỉ huy hơn là tự chịu trách nhiệm;
- Phần lớn con người làm việc vì lợi ích vật chất;
- Con người thường muốn lấy mình làm trung tâm không quan tâm đến
mục tiêu của tổ chức;
- Không thích sự cải cách, không linh lợi, dễ bị lừa
Vì vậy, các nhà quản lý đã xây dựng những bộ máy tổ chức với quyền
hành tập trung đặt ra nhiều quy tắc thủ tục, đồng thời với một hệ thống kiểm tra
giám sát chặt chẽ để quản lý hiệu quả đối với những người thuộc thuyết X.
Thuyết Y cho rằng:
- Con người đều có đều có bản tính là lao động, nghỉ ngơi, giải trí;
- Phần lớn mọi người có khả năng giải quyết các vấn đề của tổ chức,
chỉ có một số ít là không có khả năng đó;
- Con người luôn có nhu cầu về vật chất nhưng không phải là tất cả
mà đa phần họ muốn có tiền, có quyền tự chủ nhưng phải được tôn trọng;
10
- Trải qua kinh nghiệm giúp con người trở thành người chăm chỉ
hoặc là người lười biếng, chăm chỉ hay lười biếng không phải là thiên tính.
Vì vậy các nhà quản lý cần có các chức năng, những phương pháp quản lý
thích hợp để phát huy được tiềm năng trí tuệ của con người, hình thành và phát
huy những đức tính tốt đẹp đồng thời hạn chế những mặt yếu kém.
Trong suốt quá trình phát triển của khoa học quản lý, có nhiều trường phái
những tác động có chủ đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý đến
tập thể giáo viên, nhân viên, học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội
trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu
giáo dục.
Đặc điểm và bản chất của quản lý giáo dục
a) Đặc điểm của quản lý giáo dục:
(i) Quản lý giáo dục bao giờ cũng có chủ thể quản lý giáo dục và đối tượng
quản lý giáo dục.
(ii) Quản lý giáo dục bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và
đều có mối liên hệ ngược.
(iii) Quản lý giáo dục bao giờ cũng có khả năng thích nghi (luôn biến đổi).
(iv) Quản lý giáo dục vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật và là một nghề.
(v) Quản lý giáo dục gắn với quyền lực, lợi ích và danh tiếng.
(vi) Quản lý giáo dục phải ngăn ngừa sự dập khuôn máy móc trong quá
trình tạo ra sản phẩm cũng như không cho phép có sản phẩm hỏng.
b) Bản chất của quản lý giáo dục:
Là dạng lao động xã hội đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục nhằm gây ảnh
hưởng, điều khiển hệ thống giáo dục và các thành tố của nó, định hướng và phối
hợp lao động của những người tham gia công tác giáo dục để đạt được mục tiêu
giáo dục và mục tiêu phát triển giáo dục dựa trên thể chế giáo dục và các nguồn
lực giáo dục.
Theo đó bản chất của quản lý trường học là gây ảnh hưởng, định hướng và
phát triển tổ chức trường theo mục tiêu và giá trị đã định, dựa trên việc xác định
tầm nhìn, sứ mạng, nhiệm vụ chiến lược, huy động và sử dụng các nguồn lực,
tạo dựng tên tuổi, uy tín và văn hóa quản lý nhà trường.
12
2.1.2. Một số quan điểm quản lý giáo dục
a) Quan điểm hiệu quả (Efficiency)
Là quan điểm quản lý giáo dục ra đời vào thập niên đầu tiên của thế kỷ XX,
khi xuất phát từ việc áp dụng tư tưởng kinh tế vào quản lý giáo dục. Theo quan
đưa ra sự cam kết, phát triển kĩ năng và kích thích nhiệt huyết của mọi thành
viên trong cộng đồng nhà trường.
Quản lý giáo dục lấy nhà trường làm cơ sở nhấn mạnh các vấn đề:
Thứ nhất, trường học là đơn vị chủ yếu ra quyết định - quyết định cần đưa
ra ở cấp nhà trường và như vậy quyền tự chủ của nhà trường đối với vấn đề tài
chính và quản lý cần được tăng cường. Quyền làm chủ như là yêu cầu chủ yếu
đối với việc cải cách nhà trường. Các hoạt động quản lý được thiết lập dựa vào
tính chất và nhu cầu của nhà trường và các thành viên của nhà trường có quyền
tự quản lớn và trách nhiệm lớn đối với việc sử dụng các nguồn lực để giải quyết
vấn đề nhằm thực hiện có hiệu quả các hoạt động giáo dục, đảm bảo sự phát
triển lâu dài của nhà trường
Thứ hai, quản lý lấy nhà trường làm cơ sở xem trường học là hệ thống tự
quản và quan tâm đến các sáng kiến của con người và sự cải tiến từ bên trong
nhà trường là quan trọng.
Quản lý giáo dục lấy nhà trường làm cơ sở đòi hỏi cán bộ quản lý trường
học năng lực ra quyết định phù hợp với quyền tự chủ về nhân sự và tài chính, đòi
hỏi đội ngũ nhà giáo năng lực làm việc tập thể, giải quyết vấn đề, hoạch định kế
hoạch để phát triển; đòi hỏi tập thể giáo viên, cán bộ nhân viên nhà trường năng lực
đóng góp và tham gia vào công tác quản lý.
Quản lý giáo dục lấy nhà trường làm cơ sở đòi hỏi mọi thành viên nhà
trường dành thêm thời gian hàng ngày cho công việc của nhà trường.
Quản lý giáo dục lấy nhà trường làm cơ sở đòi hỏi cơ chế phối hợp mới,
trong đó các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên giảm bớt tính chỉ đạo một chiều,
tăng cường khuyến khích, động viên tạo điều kiện cho nhà trường phát huy vai trò
chủ động sáng tạo trong quản lý điều hành các họat động của mình.
Trên cơ sở tiếp cận quản lý dựa vào nhà trường, các trường phải nắm
vững các qui định về phân cấp trong quản lý giáo dục. Xác định rõ những việc
14
nhà trường phải làm khi được trao quyền tự chủ và cách thực hiện (chẳng hạn
khi thực hiện tự chủ về tài chính nhà trường cần làm gì và làm như thế nào? Xác
“kết quả trung gian”, ví dụ như muốn nâng cao chất lượng giáo dục đây là kết
quả cuối cùng, nhưng để đạt được cần đạt được những kết quả trung gian như
kết quả về đội ngũ, kết quả về đổi mới, cái tiến chương trình, đổi mới về phương
pháp,…
Nguyên tắc đặt ra của PMS là phải giải quyết phần gốc (các nguyên nhân)
chứ không chỉ giải quyết phần ngọn (các tồn tại). Do vậy, việc xác định đúng
các nguyên nhân và hậu quả từ mục tiêu đặt ra sẽ là cơ sở để đề xuất các biện
pháp cụ thể để giải quyết từng nguyên nhân (nếu có), giải quyết từng mục tiêu
đã đề xuất, các biện pháp này phải có trọng điểm, đồng bộ, đồng thời kết hợp
chặt chẽ việc triển khai thực hiện để hoàn thành mục tiêu cuối cùng đặt ra.
Như vậy:
- Hệ thống quản lý theo kết quả _ PMS là công cụ quản lý dựa vào đó để
xây dựng một hệ thống nhằm hỗ trợ công việc, giám sát và đánh giá việc thực
hiện một kết quả mong đợi, qua đó biết được vướng mắc chỗ nào, kịp thời điều
chỉnh các hoạt động chưa phù hợp nhằm mang lại hiệu quả cao hơn.
- Ứng dụng PMS chủ yếu giúp cho nhà quản lý biết được kết quả thực
hiện một mục tiêu tổng thể và lâu dài, trong đó định rõ sẽ làm cái gì, làm bằng
cách nào, làm khi nào và ai làm.
- PMS sẽ giúp nhà quản lý xây dựng một tập hợp các giải pháp đồng bộ
và hiệu quả để giải quyết dứt điểm các nguyên nhân, giải quyết tận gốc các tồn
tại, thực hiện được các mục tiêu đề ra.
- Hệ thống PMS giải quyết tổng thể từ hành động đến mục tiêu cuối
cùng, với yêu cầu là phải đạt được kết quả cuối cùng.
- Ứng dụng PMS sẽ giúp chúng ta tránh lãng phí nguồn lực nhờ xây
dựng được một tập hợp các “kết quả trung gian” cần và đủ; xác định mục tiêu
đúng đồng thời có phương pháp thực hiện đúng; nâng cao hiệu quả trong công
việc và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực.
Quản lý theo kết quả trong quản lý giáo dục ở cấp độ nhà trường, khoa
đòi hỏi cán bộ quản lý trường học phải xác định rõ kết quả mong đợi đạt được
16
+ TQM chú ý đến quản lý chất lượng toàn diện, từ quản lý số lượng đến
quản lý chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ, quản lý chi phí, kể cả quản lý việc
cung ứng và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Theo John S.Oakland, TQM
được hiểu bao gồm các vấn đề: am hiểu, cam kết, tổ chức, đo lường (chi phí),
hoạch định, thiết kế, hệ thống, năng lực, kiểm soát, hợp tác nhóm, đào tạo và
thực thi;
+ Phương châm của TQM là "làm tốt ngay từ đầu", ngăn ngừa rủi ro,
tránh sai sót. Triết lý của TQM là "liên tục cải tiến" để nâng cao chất lượng,
+ TQM đòi hỏi sự thay đổi văn hóa của tổ chức được hiểu là thay đổi tác
phong, quan hệ, phương pháp làm việc, kể cả việc xây dựng truyền thống, uy tín
của tổ chức.
+ Ở khía cạnh đánh giá hoạt động TQM đặt ra các tiêu chuẩn: Tổ chức
phải đạt mục tiêu như thế nào, sử dụng tài nguyên có sẵn của mình ra sao? Khả
năng thích ứng với những yêu cầu đang thay đổi của môi trường như thế nào.
Vận dụng tiếp cận TQM trong quản lý giáo dục, quản lý trường học phải:
Thay đổi nhận thức về vị trí người dạy và người học. Trong giáo dục,
người học là khách hàng quan trọng nhất. mọi hoạt động giáo dục, hoạt động
trong mỗi nhà trường phải xuất phát từ đặc điểm, nhu cầu của người học, hướng
vào việc hình thành phát triển nhân cách cho người học theo yêu cầu của xã hội
Chất lượng giáo dục và chính sách chất lượng của nhà trường được công
bố công khai, thể hiện sự dám cạnh tranh và chịu sự giám sát, đánh giá của các
cấp có thẩm quyền, của “khách hàng”, của các bên liên quan và của xã hội.
Trong các nhà trường/cơ sở giáo dục phải xây dựng chính sách chất lượng
thông qua việc thực hiện các nội dung: Xây dựng tổ chức về chất lượng; xác
định nhu cầu của “khách hàng” bên trong, bên ngoài nhà trường; xác định khả
năng của tổ chức cơ sở giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng; hình
thành và không ngừng hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo
dục; định kì khảo sát mức độ đạt được các tiêu chuẩn qui định cho từng loại sản
phẩm và mức độ tin cậy của từng sản phẩm đối với khách hàng; coi trọng phòng
18
19
9. Phân tích mối quan hệ giữa quản lý chất lượng tổng thể và vấn đề kiểm
định chất lượng giáo dục đại học hiện nay.
E. Tài liệu học tập
Tài liệu bắt buộc
- Tài liệu về Chuyên đề: Tổng quan về khoa học quản lý và quản lý giáo dục
Tài liệu tham khảo
1. Bùi Minh Hiền (chủ biên), Đặng Quốc Bảo, Vũ Ngọc Hải (2006), Quản
lý giáo dục, NXB ĐHSP, Hà Nội.
2. Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2004), Giáo trình khoa học quản lí, tập
1 và 2, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
3. Trần Kiểm (2008), Khoa học quản lý giáo dục, một số vấn đề lý luận và
thực tiễn, NXB ĐHSP, HN.
4. Nguyễn Văn Khoa, Tài liệu hội thảo - Tập huấn thuộc Tiểu dự án PMS
tại tỉnh Dak Lak
5. Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich (1994), Những vấn đề
cốt yếu về quản lý, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
6. Trần Thị Bích Liễu (2005), Quản lý dựa vào nhà trường –Con đường
nâng cao chất lượng và công bằng giáo dục, NXB Đại học sư phạm Hà
Nội.
7. Nguyễn Hải Sản (2005), Quản Trị học, Nhà xuất bản Thống kê, HàNội.
F. Hình thức tổ chức dạy học:
Nội dung
Hình thức tổ chức dạy học chuyên đề (Số
tiết)
Tổng
(Tiết)Lên lớp Thực tế
Tự
nghiên
Lý thuyết Bài tập