Các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Chi nhánh Ngân hàng VPBank Lý Nam Đế - Pdf 26

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Nguyễn Đình Tuấn
MỤC LỤC
DANH TỪ VIẾT TẮT
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Nguyễn Đình Tuấn
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
QH QUỐC HỘI
QĐ QUY ĐỊNH
NHNN NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
NHNNVN NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
NHVPBVN NGÂN HÀNG VPBANK VIỆT NAM
DAĐT DỰ ÁN ĐẦU TƯ
PASXKD PHƯƠNG ÁN SẢN XUẤT KINH DOANH
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Nguyễn Đình Tuấn
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong giai đoạn chuẩn bị để bước vào hội nhập toàn cầu
do vậy mà nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển, mở rộng và nâng cao chất lượng
sản xuất kinh doanh là rất lớn. Theo nguyên lý chung, nhu cầu vốn lớn và dài
hạn phải được đáp ứng bởi thị trường vốn nhưng trong điều kiện nước ta, khi thị
trường này đang còn nhiều khó khăn và yếu kém thì vai trò này chủ yếu thuộc
về hệ thống ngân hàng thông qua hoạt động tín dụng trung và dài hạn nên việc
đảm bảo chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng tín dụng trung và dài hạn
nới riêng sẽ là vấn đề có tính quyết định đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
thương mại đồng thời cũng là thước đo để đánh giá sự thành công hay thất bại
trong hoạt động của ngân hàng. Với các ngân hàng thương mại Việt Nam, hoạt
động tín dụng đang là lĩnh vực chủ đạo, chiếm tỷ trọng từ 85% đến 95% doanh
thu, trở thành một nhân tố quan trọng là đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ để phát triển
nền kinh tế.
Đối với chi nhánh Ngân hàng VPBANK Lý Nam Đế được thành lập và
hoạt động hơn hai mươi năm, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực công nghiệp và
thương mại. Do đó, nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn có ý nghĩa quan trọng
với Đơn vị và với nhu cầu vốn trung và dài hạn của đất nước. Trong mấy năm

và ngược lại. Lợi nhuận thu được là từ chênh lệch giá mua bán.
Do yêu cầu cất trữ tiền của các lãnh chúa, các nhà buôn nhiều người làm
nghề đổi tiền thực hiện luôn cả nghiệp vụ cất trữ hộ. Thực hiện cất trữ hộ làm
tăng thu nhập, tăng khả năng đa dạng các loại tiền, tăng qui mô tài sản của người
kinh doanh tiền tệ.Thanh toán qua trung gian làm nảy sinh thanh toán không
dùng tiền mặt, đến lượt nó, những ưu điểm của thanh toán không dùng tiền mặt
đã thu hút các thương gia gửi tiền nhiều hơn. Trong điều kiện lưu thông tiền kim
loại ,các chủ cửa hàng vàng bạc vừa đổi tiền , thanh toán hộ, vừa đúc tiền và cho
vay nặng lãi.
Họ là những người làm nghề kinh doanh tiền tệ, hay còn gọi là nhà buôn tiền.
Do tính chất vô danh của tiền, nhà buôn tiền có thể sử dụng tạm thời một
phần tiền gửi của khách để cho vay. Hoạt động này làm thay đổi có bản hoat
động của nhà buôn tiền-nhà buôn tiền- thành ngân hàng. Hoạt động cho vay dựa
trên tiền gửi của khách, tạo nên lợi nhuận lớn nên các ngân hàng đều tìm cách
mở rộng thu hút tiền gửi để cho vay bằng cách trả lãi cho người gửi tiền. Bằng
cách cung cấp các tiền ích khác nhau mà ngân hàng huy động được ngày càng
nhiều tiền gửi, là điều kiện để mở rộng cho vay và hạ lãi suất cho vay.
2
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Nguyễn Đình Tuấn
Từ lịch sử hình thành thấy ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng
đối với nền kinh tế. Và ngân hàng thương mại được định nghĩa như sau:
Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài
chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực
hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào
trong nền kinh tế
Luật Các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
ghi “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng
với nội dụng thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín
dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”
Theo Luật mới nhất của Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

trường. Tuy nhiên nguồn vốn này thường rất nhỏ so với tổng nguồn vốn của
ngân hàng do vậy ngoài nguồn vốn này ra các ngân hàng còn huy động thêm
nhiều nguồn nữa
- Huy động tiền gửi .
Tiền gửi của khách hàng là nguồn quan trọng nhất của ngân hàng thương
mại, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng.
Ngoài hoạt động huy động tiền gửi các ngân hàng đã không ngừng gia
tăng thêm nguồn vốn cho mình bằng việc đi vay
- Hoạt động đi vay của ngân hàng thương mại
Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên,
khi cần, ngân hàng thường vay mượn them, có thể vay từ ngân hàng nhà nước,
đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của ngân hàng
thương mại, mặc dù vậy nguồn này thường hạn chế vì ngân hàng nhà nước điều
hành khoản vay mượn này rất chặt chẽ, Vay các tổ chức tín dụng khác, đây là
nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay của các tổ chức tín dụng khác
trên thị trường liên ngân hàng và nguồn này thường để đáp ứng nhu cầu dự trữ
và chi trả cấp bách và trong nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay thế cho
nguồn vay mượn từ ngân hàng nhà nước.
Để bổ sung thêm nguồn vốn cho ngân hàng, ngân hàng có thể lấy từ
nguồn tiền uỷ thác, nguồn trong thanh toán, các nguồn khác
* Hoạt động sử dụng vốn
Vì để có được nguồn vốn tạo nên các tài sản của ngân hàng, ngân hàng đã
phải bỏ ra chi phí huy động và những chi phí khác để quản lý nguồn vốn. Do
vậy mà để khỏi bị thiệt hại, ngân hàng luôn luôn phải cho vay hoặc đầu tư ngay
số tài sản ấy vào những dịch vụ sinh lãi
4
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Nguyễn Đình Tuấn
- Hoạt động tín dụng:
Là hoạt động kinh doanh chủ chốt của ngân hàng thương mại để tạo ra lợi
nhuận. Mang tính chất sống còn đối với hầu hết các ngân hàng thương mại, gồm

* Khái niệm
Tín dụng trung và dài hạn là các khoản cho vay có kỳ hạn trên 1 năm, từ 1
năm đến 5 năm được coi là tín dụng trung hạn và từ 5 năm trở lên được coi là tín
dụng dài hạn.
Tín dụng trung và dài hạn nhằm thoả mãn các nhu cầu về mua sắm máy
móc, thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất của một doanh nghiệp và một phần vốn
lưu động tối thiểu của một doanh nghiệp
* Đặc điểm
- Mục đích và đối tượng cho vay
Trong một nền kinh tế nhu cầu tín dụng trung và dài hạn thường xuyên
phát sinh do các doanh nghiệp luôn luôn tìm cách phát triển mở rộng sản xuất,
đổi mới công nghệ, đổi mới các phương tiện vận chuyển, kỹ thuật tin học
Đối tượng cho vay là các doanh nghiệp đang đầu tư vào các dự án mà giá
trị vật tư, máy móc, thiết bị, công nghệ chuyển giao, chi phí nhân công, giá thuê
mua các tài sản khác, chi phí mua bảo hiểm và các chi phí khá đòi hỏi vốn lớn.
- Thời hạn và giá trị khoản vốn cho vay
Thời hạn cho vay do ngân hàng và khách hàng thoả thuận là khoảng thời
gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết
nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa ngân
hàng và khách hàng và thời hạn này phải căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh,
thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và khả
năng nguồn vốn cho vay của ngân hàng
Các khoản vay trung hạn có thời hạn cho vay trên 12 tháng; các khoản vay
dài hạn có thời hạn cho vay trên 60 tháng trở lên
Do đặc tính của tín dụng trung và dài hạn là đầu tư vào những dự án lớn
và có thời gian dài nên giá trị của các khoản vay trung và dài hạn thường lớn
- Nguồn vốn để cho vay trung và dài hạn
Tín dụng trung và dài hạn dùng để tài trợ cho các dự án, phương án sản
xuất kinh doanh có thời hạn dài và đòi hỏi phải ổn định do vậy mà nguồn vốn
dùng để cho vay trung và dài hạn cũng phải tuơng xứng với thời hạn sử dụng

Lãi suất của các khoản cho vay lớn đối với các doanh nghiệp lớn có thể
thấp hơn các khoản cho vay nhỏ, đối với các doanh nghiệp nhỏ, do chi phí điều
hành thấp và ít rủi ro hơn
Lãi suất cho vay trung và dài hạn có thể là lãi suất cố định trong suốt thời
kỳ vay vốn, nhưng cũng có thể quy định một lãi suất biến đổi lên hoặc xuống
tùy thuộc sự biến động của thị trường.
7
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Nguyễn Đình Tuấn
- Nguyên tắc cho vay trung và dài hạn
Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại dựa trên một số nguyên tắc
nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và sinh lời.
Việc sử dụng vốn trung và dài hạn phải tuân theo nguyên tắc sử dụng vốn
đúng mục đích được thoả thuận với ngân hàng không trái với vác quy định của
pháp luật và các quy định khác của ngân hàng cấp trên. Muốn vay vốn trung và
dài hạn người vay phải soạn thảo dự án, chương trình sản xuất kinh doanh, dự
án, chương trình sản xuất kinh doanh thể hiện một cách rõ ràng, đầy đủ việc sử
dụng vốn theo các mục đích cụ thể. Dự án đầu tư phải phân chia các khoản mục
sử dụng vốn một cách chi tiết để ngân hàng cho vay có thể thẩm định được khả
năng trả nợ của dự án
Các khoản mục sử dụng vốn trung và dài hạn có thể gồm:
- Chi phí mua đất thuê đất
- Chi phí xây dựng nhà xưởng
- Chi phí mua sắm máy móc, thiết bị
- Chi phí mua công nghệ sản xuất
- Chi phí mua sắm các phương tiện vận chuyển,
- Chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng, điện nước, đường xá,
- Một bộ phận vốn lưu động tối thiểu
- Mục tiêu của dự án, chương trình sản xuất phải nằm trong chương trình phát
triển kinh tế chung của địa phương, của vùng, của đất nước. Để đảm bảo cho dự án,
chương trình vay vốn được thực hiện, dự án, chương trình vay vốn phải được các cơ

đưụng nhiều rủi ro, do vậy mà việc soạn thảo ra một quy trình tín dụng trung và
dài hạn dựa trên quy trìng tín dụng chung rất có ý nghĩa đem lại lợi ích cao cho
ngân hàng.
Quy trình tín dụng được soạn thảo linh động với mục đích giúp cho quá
trình vay diễn ra thống nhất, khoa học, hạn chế, phòng ngừa rủi ro và nâng cao
chất lượng tín dụng
Quy trình tín dụng trung và dài hạn gồm 5 bước, các bước trong quy trình
có quan hệ qua lại và hỗ trợ nhau, Kết quả của bước trước là nền tảng, cơ sở để
bước tiếp theo thực hiện và tác động đến chất lượng của bước sau:
Bước 1: Lập hồ sơ yêu cầu cấp tín dụng
Cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn. xét về mặt kinh
tế, mặc dù quan hệ tín dụng chưa hình thành, nhưng đây là bước chuẩn bị những
điều kiện cần thiết để quan hệ tín dụng được thiết lập lành mạnh. Xét về mặt thủ
tục hành chính, thì đây là bước hình thành đầy đủ giấy tờ, văn bản chứng tỏ
9
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Nguyễn Đình Tuấn
khách hàng thực sự có nhu cầu về vốn tín dụng trung và dài hạn, cũng như
chứng minh được tính hợp pháp về nhân thân khách hàng và tính tự nguyện xin
cấp tín dụng cuả khách hàng. Căn cứ vào việc phân tích các nguồn thông tin từ
hồ sơ này và các nguồn liên quan mà ngân hàng ra quyết định là có cấp tín dụng
hay không.
Bước 2: Thẩm định tín dụng
Thẩm định tín dụng là thẩm định khả năng hiện tại và tiềm năng của khách
hàng. Do tính chất phức tạp của tín dụng trung và dài hạn nên cán bộ tín dụng và
cán bộ thẩm định phải dựa vào các thông tin đã có và tiến hành thẩm định một
cách chặt chẽ các yếu tố phi tài chính (như phân tích, kiểm tra tính pháp lý của
khách hàng, uy tín của họ, mục đích của khoản vay ) và các yếu tố tài chính.
Bước 3: Quyết định tín dụng
Đây là bước quan trọng nhất, nó phụ thuộc rất lớn vào trình độ của người
cán bộ tín dụng, ở khâu này cán bộ tín dụng là người chịu trách nhiệm lớn nhất

đến tính an toàn của khoản tín dụng.
- Trường hợp khách hàng cố tình đảo ngân hàng, cố tình nợ nần dây dưa,
hoặc làm ăn yếu kém không còn phương cách cứu vãn, ngân hàng áp dụng phương
án thanh lý, tức là sử dụng các biện pháp có thể được để thu hồi khoản nợ, bao gồm
phong toả và bán các tài sản thế chấp, tước đoạt các khoản tiền gửi
- Trường hợp khách hàng có khó khăn về tài chính, song vẫn kiên quyết
tìm cách khắc phục để trả nợ, ngân hàng thường áp dụng phương án khai thác,
bao gồm gia hạn nợ, giảm lãi hoặc cho vay thêm.
Các bước trên mang tính chất liên hoàn, theo một trật tự nhất định, đồng thời
có quan hệ chặt chẽ và gắn bó với nhau. Việc các cán bộ tín dụng thực hiện theo
quy trình trên sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng trung và dài hạn.
1.3. Chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại
1.3.1. Quan niệm về chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng
thương mại
Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh hàng hoá đặc biệt đó
là tiền tệ. Một doanh nghiệp muốn đứng vững trong nền kinh tế thị trường thì
phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm để có thể thắng được trong
cạnh tranh với đối thủ. Ngày nay tín dụng có thể nói là sản phẩm lớn nhất trong
đa số các sản phẩm của ngân hàng vì vậy việc nâng cao chất lượng tín dụng
đang là một đòi hỏi khách quan và cần thiết đối với các ngân hàng thương mại,
khi chất lượng tín dụng tăng lên sẽ đảm bảo thoả mãn mọi yêu cầu ngày càng
cao của khách hàng đồng thời tạo điều kiện cho ngân hàng nâng cao vị thế của
mình trên thị trường trong nước và quốc tế.
11
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Nguyễn Đình Tuấn
Để có được một khái niệm hoàn chỉnh về chất lượng tín dụng thì trước
tiên cần phải biết về chất lượng, có nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng.
Các nhà kinh tế thì cho rằng chất lượng là: “sự phù hợp với mục đích hoặc việc
sử dụng”, là “năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thoả mãn
những nhu cầu của người sử dụng từ quan điểm về chất lượng” như vậy có thể

vì giữa tăng trưởng tín dụng và chất lượng tín dụng có mối quan hệ biện chứng.
- Chất lượng tín dụng tốt mới có điều kện để mà tăng trưởng tín dụng, tăng
trưởng tín dụng là cơ sở để đánh giá chất lượng tín dụng
Nhóm chỉ tiêu này bao gồm :
- Doanh số cho vay trung và dài hạn: Là tổng lượng vốn mà ngân hàng đã
giải ngân cho khách hàng theo hợp đồng tín dụng trung và dài hạn trong một
niên độ kế toán, thường là một năm, chỉ tiêu này phản ánh quy mô tín dụng. khi
doanh số cho vay tăng đồng nghĩa với quy mô tín dụng tăng và các ngân hàng
đều muốn tăng quy mô cho vay của mình nhằm thu được nhiều lợi nhuận hơn.
- Dư nợ tín dụng trung và dài hạn: Đây là một chỉ tiêu mang tính chất thời
điểm, phản ánh lượng vốn ngân hàng đã giải ngân cho các khoản tín dụng trung
và dài hạn mà khách hàng đang còn nợ ngân hàng tại một thời điểm cụ thể,
thông thường các ngân hàng sử dụng chỉ tiêu dự nợ để phản ánh quy mô cũng
như sự tăng trưởng tín dụng của mình bởi chỉ tiêu này nó cho biết một cách cụ
thể về tình hình sử dụng vốn của ngân hàng tại một thời điểm nhất định, giúp
cho ngân hàng dễ dàng đánh giá được chất lượng tài sản của ngân hàng
- Doanh số thu nợ tín dụng trung và dài hạn: Là tổng các khoản thu nợ, chỉ
tiêu này phản ánh lượng vốn cho vay trung và dài hạn đã được thu hồi trong một
thời kỳ, đây là một chỉ tiêu rất được các ngân hàng chú ý bởi chỉ tiêu nói lên lợi
nhuận thực mà ngân hàng đã thu được từ khoản tín dụng đã cấp
- Tỷ trọng dư nợ cho vay trung và dài hạn: Chỉ tiêu này cho biết được dư
nợ tín dụng trung và dài hạn chiếm bao nhiêu % trong tổng dư nợ, nó phản ánh
việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng tại một thời điểm và chỉ tiêu này được đo
bằng:
Dư nợ cho vay trung và dài hạn
Tỷ trọng dư nợ cho vay trung và dài hạn =
Tổng dư nợ cho vay
Ngoài các chỉ tiêu trên cũng cần phải kể đến chỉ tiêu về tỷ lệ tăng trưởng
tín dụng đây là một chỉ tiêu mang tính chất so sánh về sự tăng trưởng tín dụng
trung và dài hạn của thời điểm này so với thời điểm trước và được đo bằng, dư

trọng nhất là tất cả các khoản cho vay đều phải có tài sản đảm bảo trừ những
trường hợp khoản vay theo chỉ định của chính phủ, tuy nhiên để thoả mãn nhu
cầu của khách hàng, đòi hỏi thủ tục phải đơn giản, nhanh chóng, các ngân hàng
đã nới lỏng nguyên tắc trong cấp tín dụng giúp cho quá trình cho vay đơn giản
hơn nhằm thu hút được nhiều khách hàng đến với ngân hàng tuy vậy việc làm
này có ảnh hưởng đến chất lượng các khoản cho vay của ngân hàng.
14
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Nguyễn Đình Tuấn
Hoạt động tín dụng trung và dài hạn mang lại lợi nhuận lớn cho ngân
hàng. Tuy nhiên nó cũng đem lại nhiều rủi ro cho ngân hàng. Để đảm bảo an
toàn cho ngân hàng, ngân hàng yêu cầu khách hàng cần phải có tài sản đảm bảo
Chỉ tiêu tỷ lệ nợ có tài sản đảm bảo được tính bằng dư nợ trung và dài hạn
có tài sản đảm bảo chia cho tổng dư nợ trung và dài hạn
Theo quy định của ngân hàng nhà nước thì tổ chức tín dụng không được
cho vay quá 70% giá trị tài sản đảm bảo do vậy mà chỉ tiêu trên chưa phản ánh
được số vốn thực tế thu hồi được từ tài sản đảm bảo nên các ngân hàng cần sử
dụng đồng thời chỉ tiêu tỷ lệ thanh toán nợ từ tài sản đảm bảo được đo bằng số
tiền thực tế thu được từ tài sản đảm bảo chia cho tổng dư nợ trung và dài hạn có
tài sản đảm bảo
* Chỉ tiêu về nợ quá hạn:
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng các ngân hàng đều cố gắng
hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro có thể xảy ra, trong chính sách cho vay của
ngân hàng các ngân hàng đều có một sổ tay tín dụng hướng dẫn việc cấp tín
dụng cho khách hàng và các ngân hàng có thể dựa vào đó để thực hiện. Tuy
nhiên dù có soạn thảo được một quy trình tín dụng hoàn thiện đến mấy, dù có cố
gắng đến mấy thì trong nền kinh tế thị trường rủi ro luôn xảy ra, do vậy rủi ro
trong hoạt động kinh doanh là khách quan dẫn đến nợ quá hạn Ngân hàng nào
có tỷ lệ quá hạn cao sẽ bị đánh giá là có chất lượng tín dụng thấp như theo quy
định chung của ngân hàng nhà nước, các ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng
dư nợ

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời
hạn đã được cơ cấu lại.
- Nhóm 5( Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày.
+ Các nợ khoanh chờ chính phủ xử lý.
+ Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo
thời hạn đã được cơ cấu lại.
Việc trích lập dự phòng
- Nhóm 1: 0%
- Nhóm 2: 5%
- Nhóm 3: 20%
- Nhóm 4: 50%
- Nhóm 5: 100%
Riêng đối với các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý được trích lập dự
phòng cụ thể theo khả năng tài chính của tổ chức tín dụng.
Theo quyết định 127/2007/QĐ-NHNN “Đối với khoản nợ vay không trả
nợ đúng hạn và không chấp thuận cho cơ cấu lại thời hạn trả nợ (điều chỉnh kỳ
16
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Nguyễn Đình Tuấn
hạn và gia hạn nợ vay), thì số dư nợ gốc của hợp đồng tín dụng đó là nợ quá hạn
và tổ chức tín dụng thực hiện các biện pháp điều chỉnh để thu hồi nợ.Như vậy,
đối với khoản nợ vay không trả đúng hạn dù được cơ cấu lại thời hạn trả nợ hay
không đều bị coi là nợ quá hạn. Như vậy theo như những quy định này thì nợ
quá hạn thực sự là một chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng một cách đúng
nhất. Và để đánh giá một món vay đã quá hạn có thể thu hồi được hay không
ngân hàng cần phải xem xét những lý do của việc khách hàng không trả được
nợ, Ngân hàng cần phân loại những khoản nợ quá hạn:
- Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Là những khoản nợ mà người vay vốn
có thể tiếp tục trả nợ cho ngân hàng. Lý do của những khoản nợ bị chậm trễ nay
có thể là do ngân hàng định kỳ trả nợ chưa phù hợp, hoặc do sự thay đổi về cơ

Một khoản tín dụng dù ngắn hay dài không thể xem là có chất lượng tín dụng cao
nếu nó không đem lại lợi nhuận thực tế cho ngân hàng, Tuy nhiên đối với ngân
hàng thương mại quốc doanh thì lợi nhuận nhiều khi không phải là cái đích để ngân
hàng hướng tới mà thực hiện chủ trương chính sách của nhà nước mới là điều kiện
quan trọng. Nói như vậy không có nghĩa là ngân hàng không quan tâm tới lợi
nhuận . Vì sự tồn tại và phát triển của mình, ngân hàng không thể cho vay các món
vay có lợi nhuận âm hoặc bằng không; Ngân hàng có thể dùng thêm chỉ tiêu tỷ lệ
lợi nhuận tín dụng trung và dài hạn trên tổng lợi nhuận thu được:
Lợi nhuận tín dụng trung và dài hạn
Tỷ lệ lợi nhuận tín dụng trung, dài hạn =
Tổng lợi nhuận từ tín dụng
Chỉ tiêu này cho thấy rõ hơn tầm quan trọng của tín dụng trung và dài hạn.
Thông qua các chỉ tiêu trên, có thể phần nào đánh giá được chất lượng tín
dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên các chỉ tiêu này
phải được đánh giá trong mối quan hệ tương quan ràng buộc lẫn nhau.
1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung và dài hạn
của ngân hàng thương mại
1.3.3.1. Nhân tố thuộc về phía ngân hàng
Ngân hàng là người quyết định mấu chốt của chất lượng tín dụng mà mình
cung cấp cho khách hàng, do vậy mà các nhân tố thuộc về ngân hàng ảnh hưởng
đến chất lượng tín dụng gồm:
* Chính sánh tín dụng
Mỗi một ngân hàng thương mại đều xây dựng một chính sách tín dụng
riêng trong từng thời kỳ, phù hợp với mục tiêu, chiến lược của mình. Chính sách
tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của một ngân hàng, trở thành bản hướng
dẫn cho cán bộ tín dụng đưa ra quyết định hợp lý, chính sách tín dụng tạo cho
người cán bộ tín dụng ý thức về phương hướng và một khung tham chiếu xác
định để theo đó xem xét cân nhắc một đơn vị vay nhất định. Việc đánh giá chất
18
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Nguyễn Đình Tuấn

về tín dụng có thể sai sót và gây ra rủi ro cho ngân hàng và khoản tín dụng đó có
chất lượng tồi.
19
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Nguyễn Đình Tuấn
* Thông tin tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường, ai nắm bắt được nhiều thông tin chính xác,
kịp thời hơn, người đó sẽ chiến thắng trong cạnh tranh. Trong hoạt động tín
dụng ngân hàng bỏ tiền ra trên cơ sở chủ yếu là lòng tin. Lòng tin đó có chính
xác hay không phụ thuộc vào chất lượng các thông tin mà ngân hàng thu thập
được. Để việc đầu tư tín dụng có chất lượng, hiệu quả, giảm thiểu rủi ro, ngân
hàng phải có được và phân tích, xử lý chính xác rất nhiều thông tin liên quan.
Thông tin tín dụng có thể thu được từ các nguồn sẵn có ở ngân hàng, từ khách
hàng, từ các tổ chức chuyên cung cấp thông tin tín dụng. Hoạt động tín dụng
trung và dài hạn mang đặc trưng là có thời hạn dài do vậy mà rất dễ nhạy cảm
với những biến động trên thị trường vì lẽ đó mà ngân hàng cần phải thu thập
thêm rất nhiều thông tin cả trong quá khứ lẫn hiện tại và tương lai để có thể tập
hợp đưa ra được một quyết định đúng đắn khi tài trợ tín dụng trung và dài hạn.
* Nguồn vốn để tài trợ tín dụng trung và dài hạn
Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại nhất là hoạt
động tín dụng thì vốn huy động là nguồn chủ yếu. Tuy nhiên về nguyên tắc để
cho vay trung và dài hạn các ngân hàng thương mại chủ yếu phải sử dụng nguồn
huy động trung và dài hạn. Việc sử dụng vốn huy động đúng chức năng, mục
đích sẽ đảm bảo an toàn cho ngân hàng trong thanh toán. Để tài trợ cho hoạt
động tín dụng cần đòi hỏi về nguồn vốn ổn định, ngoài nguồn vốn tự có, nguồn
vốn huy động trung và dài hạn còn phải sử dụng thêm một lượng nhỏ nguồn vốn
ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn do đó nếu có một sự thay đổi nào đối với
nguồn vốn tài trợ đều ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, có thể dẫn đến ngân
hàng mất khả năng thanh toán vì giữa huy động vốn và sử dụng vốn không khớp
với nhau về kỳ hạn.
* Công tác tổ chức ngân hàng

Một nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tín dụng trung và
dài hạn ngân hàng phát triển. Nền kinh tế ổn định các doanh nghiệp hoạt động
kinh doanh có hiệu quả do vậy sẽ có nguồn vốn để trả nợ ngân hàng, ngược lại
trong thời kỳ suy thoái, môi trường kinh doanh biến động sẽ gây khó khăn cho
hoạt động của doanh nghiệp, nhu cầu vốn tín dụng trung và dài hạn thấp vì rất ít
cơ hội đầu tư do vậy ở thời kỳ này ngân hàng cũng như khách hàng đều rất hạn
chế về nguồn vốn, đối với ngân hàng nếu những nguồn vốn đã giải ngân thì rất
khó thu hồi nợ còn đối với doanh nghiệp khi đồng vốn bỏ ra để đầu tư thì rất
khó thu hồi như vậy ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng
Để cho nền kinh tế hoạt động theo một trật tự đảm bảo công bằng đối với
các chủ thể kinh tế thì cần phải có sự can thiệp của chính phủ, chính phủ can
thiệp vào nền kinh tế bằng chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tiền tệ hoặc
21
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Nguyễn Đình Tuấn
chính sách tài khoá, việc can thiệp của chính phủ phần nào ảnh hưởng đến hoạt
động kinh doanh của của các ngân hàng cũng như là đối với các doanh nghiệp,
nếu chính phủ chủ trương thực hiện chính sách thắt chặt thì việc cho vay của các
ngân hàng rất hạn chế và như vậy sẽ có một lượng vốn bị ứ đọng trong ngân
hàng trong khi đó ngân hàng vẫn phải trả lãi cho nguồn vốn mà mình huy động
và những chi phí quản lý liên quan Như vậy đã ảnh hưởng đến chất lượng tín
dụng của ngân hàng
* Môi trường pháp lý
Trong nền kinh tế thị trường, pháp luật có nhiệm vụ tạo lập môi trường
pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thuận lợi và đạt hiệu quả
cao. Hành lang pháp lý hoàn chỉnh đồng bộ giúp cho các chủ thể trong nền kinh
tế hoạt động một cách liên tục thông suốt, các ngân hàng tạo lập được nhiều mối
quan hệ tín dụng với khách hàng từ đó có thể đem lại lợi nhuận cao và nâng cao
chất lượng tín dụng cho ngân hàng.
* Môi trường chính trị - xã hội
Đất nước ổn định về chính trị xã hội giúp các doanh nghiệp yên tâm thực

thường xuyên tăng cường việc huy động vốn và sử dụng vốn, thay đổi cơ cấu
đầu tư phục vụ phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng
công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh.
Sau gần 20 năm thành lập và hoạt động, Chi nhánh Ngân hàng VPBANK
Lý Nam Đế không ngừng đổi mới và phát triển và luôn theo kịp với sự phát triển
của hệ thống ngân hàng trong nước. Để bắt kịp với sự phát triển của hệ thống
ngân hàng trong khu vực và trên thế giới Chi nhánh ngân hàng VPBANK Lý
Nam Đế đã liên tục đưa ra những đổi mới về cơ cấu tổ chức của ngân hàng mình
và theo quyết định gần đây nhất Chi nhánh có đưa ra quyết định chuyển mới mô
hình tổ chức theo dự án hiện đại hoá NHVPBank cơ cấu tổ chức gồm có các
phòng ban như sau:
23

Trích đoạn Giải phỏp nõng cao chất lượng tớn dụng trung và dài hạn tại Chi nhỏnh Ngõn hàngVPBank Lý Nam Đế. Một số kiến nghị với cơ quan hữu quan
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status