Đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề đã đặt ra từ rất lâu và được
sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà giáo dục, nhất là của các thầy giáo, cô giáo.
Nhưng việc vận dụng đổi mới phương pháp dạy học trong dạy học không phải là
việc dễ dàng thực hiện và đạt được hiệu quả ngay từ đầu. Trước đây, chúng ta
dạy học vẫn theo phương pháp truyền thống với quan niệm : học là quá trình
tiếp thụ và lĩnh hội qua đó hình thành kiến thức, kỹ năng, tư tưởng tình cảm.
Giáo viên(GV) luôn là người truyền thụ toàn bộ những kiến thức, những hiểu
biết của mình về một vấn đề nào đó; còn học sinh(HS) là người ghi nhớ, tiếp thu
mọi lời giảng của GV. Chính vì vậy mà phương pháp đó dẫn đến chỗ HS là
người thụ động và qúa trình nhận thức mang tính chất áp đặt, một chiều. HS học
để đối phó với thi cử và sau khi thi xong những điều đã học thường bị bỏ quên
hoặc ít dùng đến. Hiện nay, phương pháp dạy học truyền thống không còn thích
hợp với mục tiêu giáo dục - đào tạo, hơn thế việc đổi mới chương trình sách
giáo khoa càng cần phải đặt trọng tâm vào việc đổi mới phương pháp dạy học.
Bởi chỉ có đổi mới cơ bản phương pháp dạy học chúng ta mới có thể tạo được
sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người năng
động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên
thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong
Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII(1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa
VIII(1996), được thể chế hóa trong luật giáo dục (2005). Điều 28.2 trong Luật
giáo dục đã ghi “ !"
!#$"%#&%'()*+,#&-.*
"'/01!"2.345647
89!:"$7;"<.=8>6
?!3@ABCD&EFGHFEFGHI
1
- Dựa trên một số lí luận cơ bản về triết học, về tâm lí học, về việc đổi
mới phương pháp dạy học văn để đề ra một số biện pháp trong phương pháp
dạy học vấn đáp .
- Nhằm mục đích nâng cao chất lượng của giờ học,phát huy tính tích cực,
tự giác chủ động, sáng tạo của HS; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, rèn cho HS bản lĩnh tự tin, khả năng
diễn đạt một vấn đề, gây hứng thú học tập cho HS.
!
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tôi đề xuất một số nhiệm vụ của đề
tài:
+ Xác định cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của dạy học vấn đáp (đàm
thoại) .
+ Đề xuất một số biện pháp dạy học vấn đáp trong môn Ngữ Văn.
+ Thực hiện một số công việc trong phương pháp vấn đáp.
+ Thiết kế một bài dạy vận dụng phương pháp vấn đáp
"#$"%"
Làm đề tài này, tôi đã vận dụng nhiều phương pháp. Dưới đây là những phương
pháp chủ yếu:
1. Phương pháp thống kê, nêu ví dụ.
2. Phương pháp thực nghiệm qua giảng dạy, dự giờ, bài kiểm tra, bài thi, số
điểm.
3. Phương pháp so sánh.
4. Phương pháp phân loại, phân tích.
5. Phương pháp tổng hợp.
&'()
CHƯƠNG I : *$+,-./0"#$"%"
?!3@ABCD&EFGHFEFGHI
3
4
Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người nhưng sự
phản ánh này không phải giản đơn, thụ động mà là quá trình biện chứng dựa trên
hoạt động tích cực của chủ thể trong quan hệ đối với khách thể. Nhưng không
phải con người nào cũng đều là chủ thể của nhận thức. Con người trở thành chủ
thể khi nó tham gia vào hoạt động xã hội nhằm biến đổi và nhận thức khách thể.
Trong nhà trường HS chính là chủ thể của hoạt động nhận thức; còn khách thể
chính là những tri thức kinh nghiệm của nền văn minh nhân loại. Theo cơ sở
triết học: con người tự làm ra mình bằng chính hoạt động của mình nhưng cái
quan trọng là làm ra cái đó như thế nào và bằng cách nào?
Đối với môn Ngữ văn HS đến trường để học tập thực chất là để tiếp nhận,
chiếm lĩnh những giá trị của tác phẩm văn chương. Vì mục đích ấy, HS tự đọc
lấy tác phẩm, tự chiếm lĩnh lấy tác phẩm, nắm bắt được cái hồn của tác phẩm.
GV chỉ là người hướng dẫn, chỉ bảo cho HS những hướng tiếp cận tác phẩm sao
cho có hiệu quả nhất, HS từ đó mà tự chiếm lĩnh tác phẩm. Đồng thời cùng với
sự chiếm lĩnh tác phẩm ấy, HS dưới những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt của GV mà
trình bày những suy nghĩ, cách hiểu của mình về vấn đề đặt ra trong tác phẩm.
Chính vì những vấn đề đó mà rất cần có một giờ học vấn đáp để qua giờ
học ấy HS có thể khẳng định họ thật sự là những chủ thể sáng tạo trong quá
trình nhận thức bằng chính hoạt động của mình.
B9:;C
Nếu hình tượng hội hoạ được xây dựng bằng đường nét, màu sắc; âm
nhạc được xây dựng bằng nhịp điệu, giai điệu, âm thanh thì hình tượng văn học
được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ. Do lấy ngôn từ làm chất liệu cho nên
hình tượng văn học chỉ tác động vào trí tuệ, tâm hồn, tình cảm gợi nên sự liên
tưởng và tưởng tượng trong tâm trí người đọc. Nhờ liên tưởng và tưởng tượng
trên những nét tương đồng giữa thế giới âm thanh và hình ảnh, giữa thế giới hữu
hình và thế giới vô hình trở thành hiện hình qua phương tiện ngôn ngữ.
trong biện pháp thực thi việc cải cách, đổi mới phương pháp dạy học vấn đáp .
?!3@ABCD&EFGHFEFGHI
6
Chẳng hạn các phương pháp đổi mới là gì ? Khi đổi mới phương pháp dạy học
thì vai trò của người thầy có bị hạ thấp không ? Câu hỏi như thế nào là đổi mới?
Bao nhiêu câu hỏi là vừa ?
- Ngoài ra, GV chuẩn bị bài dạy chưa thật kĩ, đặc biệt là chưa xây dựng
được hế thống câu hỏi phù hợp với bài dạy, chưa chú ý tới việc chuẩn bị bài học
của HS, chưa phân loại đối tượng HS trong từng lớp GV chưa ý thức rõ về
dạng câu hỏi, mức độ yêu cầu của câu hỏi dẫn đến khâu tổ chức dạy học tìm
hiểu bài học thiếu tính khoa học, tình trạng GV hỏi một đằng HS trả lời một nẻo
hoặc trả lời không đúng trọng tâm yêu cầu.
Chính vì vậy, vần đề vận dụng đổi mới phương pháp dạy và học văn càng
được quan tâm hơn bao giờ hết đặc biệt là phương pháp vấn đáp. Tuy nhiên,
việc đổi mới phương pháp dạy học văn không có nghĩa là gạt bỏ các phương
pháp truyền thống mà phải vận dụng một cách hiệu quả các phương pháp dạy
học hiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp các phương pháp hiện đại.
CHƯƠNG III: G4456/ 1%"HF2.5I
J! E456/ 1%"HF2.5I
82K>LM9)LNLNLO
Phương pháp vấn đáp là phương pháp trong đó GV đặt ra các câu hỏi để
HS trả lời , hoặc tranh luận với nhau và với cả GV, qua đó HS lĩnh hội được nội
dung bài học. Phương pháp vấn đáp, đàm thoại khác với thuyết trình ở chỗ nội
dung cần truyền thụ không được thể hiện qua lời giảng của người dạy mà được
thực hiện bởi hệ thống câu trả lời của người học, dưới sự gợi mở bởi các câu hỏi
của người dạy đề xuất. Các câu hỏi này được tổ chức thành một hệ thống phù
hợp với nội dung bài học, đối tượng HS.
?PQR(S(TULM9)LNLNL
?!3@ABCD&EFGHFEFGHI
8
*V các hoạt động độc lập, hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm
lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo
yêu cầu của chương trình. Điều này đòi hỏi người giáo viên phải đầu tư công
sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mời có thể thực hiện bài
lên lớp với vai trò là người )W,T>"$A"J"9 trong
các hoạt động tìm tòi tranh luận của HS. GV phải có trình độ chuyên môn sâu,
rộng, có trình độ sư phạm mới có thể tổ chức hướng dẫn các hoạt động của HS.
Với giờ đọc - hiểu văn bản Ngữ văn, GV là người điều khiển, hướng dẫn để
HS tự khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. Người GV phải chuẩn bị kĩ nội
dung bài học như xác định rõ mục tiêu bài học, tiến trình tổ chức dạy học . Đặc
biệt là quá trình tổ chức hướng dẫn dạy - học bài mới. GV phải xây đựng được
một hệ thống câu hỏi vấn đáp phù hợp với nội dung bài học. Câu hỏi phải khơi
gợi được hứng thú tham gia hoạt động của HS và phải được chuẩn bị một cách
chu đáo và thực sự khoa học, không thể tùy hứng, vụn vặt, thiếu hệ thống, đặc
biệt là không có tác dụng dẫn dắt HS thâm nhập và cắt nghĩa văn bản. Câu hỏi
không cần nhiều nhưng phải là những câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt,
có tình huống buộc HS phải suy nghĩ và có hứng thú bộc lộ cảm nghĩ của mình.
Có thể nói xây dựng được hệ thống câu hỏi vấn đáp có chất lượng có tác dụng
gợi dẫn HS thâm nhập khám phá tác phẩm là một nghệ thuật đòi hỏi sự công
phu và tài năng thực sự của GV.
Theo kinh nghiệm của tôi, đối với mỗi câu hỏi, người GV phải xác định được
mức độ, mục đích, nội dung và hình thức câu hỏi, cũng như tính hệ thống, dẫn
dắt của môĩ câu hỏi. Cũng phải lưu ý một điều là tùy vào tình huống thực tế, vào
đối tượng HS mà người GV có thể thay câu hỏi hoặc bổ sung các câu hỏi cho
phù hợp với tình huống, đối tượng HS và mục tiêu bài học. Chẳng hạn, đứng
trước một vấn đề mà HS khó phát hiện cũng như khó trả lời, người GV cần có
trực tiếp tiếp nhận, chiếm lĩnh tác phẩm cũng như GV. Người GV không cảm
thụ hộ mà là người đứng ra tổ chức quá trình HS tiếp nhận, chiếm lĩnh văn bản
văn học. Từ đó, HS được rèn luyện và phát triển một số kĩ năng tự tiếp nhận
văn bản văn học cũng như các vấn đề trong cuộc sống.
?!3@ABCD&EFGHFEFGHI
10
G2+YZ"%" [4"#$"%" 1%"
- Trong giờ học văn, GV phải là người điều khiển, hướng dẫn để HS tự
khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. HS là một chủ thể trực tiếp tiếp nhận,
chiếm lĩnh tác phẩm. HS có điều kiện phát huy những khả năng mới vốn tiềm ẩn
mà lâu nay bản thân các em chưa khám phá, bộc lộ hoặc còn rụt rè, lúng túng
Từ đó, tạo cho các em sự mạnh dạn, tự tin khi diễn đạt một vấn đề trước tập thể.
- GV cần phải nắm vững bản chất của phương pháp vấn đáp, đặc biệt là
phải phân biệt được các loại, mức độ vấn đáp để từ đó xây dựng hệ thống câu
hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống, khơi gợi được hứng thú
tham gia hoạt động của HS, phù hợp với nội dung bài học .
Qua tài liệu tham khảo và kinh nghiệm của bản thân, tôi nhận thấy có ba
phương pháp (mức độ) vấn đáp: Vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích chứng
minh và vấn đáp tìm tòi, phát hiện, sáng tạo
8 Vấn đáp tái hiện : Đây là phương pháp GV đặt ra câu hỏi yêu cầu
HS chỉ cần nhớ lại và tái hiện nội dung bài học. Đây là dạng vấn đáp ở mức độ
bình thường, không đòi hỏi HS phải tư duy mà chỉ cần huy động trí nhớ hoặc
dựa vào văn bản văn học.
Ví dụ 1: GV cho HS tìm hiểu phần tiểu dẫn của đoạn trích Việt Bắc, có
thể đặt câu hỏi: A9&?#&/9X HS dựa vào tiểu dẫn trả lời:
Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tháng 7- 1954, Hiệp định Giơ-ne-
vơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải
phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới . Tháng 10- 1954, những người
nào để hấp dẫn HS đồng thời đảm bảo được mục tiêu cần đạt. Theo kinh nghiệm
của bản tôi, người GV nên căn cứ vào mục tiêu cần đạt kết hợp với hệ thống câu
hỏi D*V/9 trong sách giáo khoa, thể loại văn bản, dung lượng bài
học. Ngoài ra, còn phải chú ý đến đối tượng HS từng lớp, từng nhóm, thậm chí
từng cá nhân trong lớp trong lớp về các mặt như lứa tuổi, tâm sinh lý, trình độ,
?!3@ABCD&EFGHFEFGHI
12
vốn sống, khả năng nhận thức, khả năng diễn đạt Trên cơ sở đó GV xây dựng
hệ thống câu hỏi vấn đáp .
Chẳng hạn khi tìm hiểu vẻ hung bạo của con sông Đà trong tùy bút
“?.R%a9” của Nguyễn Tuân, GV nêu câu hỏi: có ý kiến nhận xét
cho rằng : :BSUK%!L&%";,4`9,4Q
&%!/A=bMcK0d*d47A4XY;
%&XM
HS thảo luận rồi trả lời: Đúng là Nguyễn Tuân đã có sự quan sát công phu, tìm
hiểu kĩ càng để khắc họa sự hung bạo trên nhiều dạng vẻ . Từ đó, HS vận dụng
thao tác giải thích, chứng minh để làm sáng tỏ vấn đề. Kết quả HS trả lời : Sông
Đà được miêu tả chỗ thì chẹt lại như chiếc yết hầu. Lại có những quãng sông
hàng cây số của một thế giới đầy gió gùn ghè, đá giăng đến chân trời và sóng
bọt tung trắng xóa Tả cái hút nước quãng Tà Mường Vát, những cái hút nước
xoáy tít lôi tuột mọi vật xuống đáy sâu Những trùng vi thạch trận sẵn sàng
nuốt chết con thuyền và người lái. Âm thanh luôn thay đổi
Chẳng hạn khi tìm hiểu dáng vẻ, diện mạo con sông Hương phía thượng
nguồn trong bút kí : eU+AR%của Hoàng Phủ Ngọc Tường ,
GV nêu câu hỏi : Tại sao nói : Sông Hương tựa như f$/?&#&
-9g với nhiều tiết tấu hùng tráng, dữ dội. HS căn cứ vào văn bản suy
ngẫm thảo luận trả lời : Sông Hương tựa như f$/?&#&-
9g với nhiều tiết tấu hùng tráng, dữ dội : khi f_$&/KS
BSB7g
Ví dụ: khi phân tích, tìm hiểu hình tượng rừng xà nu trong tác phẩm cùng
tên của Nguyễn Trung Thành,GV đặt câu hỏi : 9d`&&4
&TC3"<.BSA69S3"
o-T9"ST9R&d`&94X (có thể gợi mở : Kd47
pST9R&`&)McK0d*d47A
4XB%&X ). Câu hỏi này đòi hỏi HS phải suy ngẫm tìm tòi, phát hiện
trên cơ sở những đặc tính của cây xà nu, sự gắn bó mật thiết của nó với nhân dân
Tây Nguyên. Sau một thời gian tìm thảo luận HS trả lời :
[ST9.9/,)$%J9q&r#&?
s]&
?!3@ABCD&EFGHFEFGHI
14
l[ST9C "7K/WLS(9/t
S.9s]&/C>7\es>"/9&'r]&^+
&6%J?&B>M
l[ST9K%8%JU.3M[$ST9*U"U
K/JS.A"T&?";tA.&u.A
/_?MMM>&%94 ?"t73?s]&
477&8674A?/49.%!%J"!M
Ví dụ: sau khi hướng dẫn HS tìm hiểu cuộc đời, thân phận nô lệ tăm tối
của nhân vật Mị khi sống trong nhà thống lí(Y)0e#ETô Hoài)GV đưa
ra câu hỏi vấn đáp tìm tòi : 9BD9n-.W$?
#".3#&]CMBD9U3&=;W]C4%J9
J. X Câu hỏi có tình chất nêu vấn đề đòi hỏi HS phải tìm tòi, phát hiện :
BD94-.W$?#".3#&]C9U%S4
93&p%&$?J"#4&V=q$
]C&%J"44&!>MTừ đó GV tổ chúc hướng dẫn HS đi
nối các chi tiết đó để có thể rút ra được các nhận định đánh giá. Đây cũng là lý
do khiến các em rụt rè khi trả lời, vì vậy đòi hỏi GV gợi mở, dẫn dắt.
CHƯƠNG III: -\2JZ
Khi sử dụng nhuần nhuyễn phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ
văn kết quả chất lượng HS trong lớp tôi dạy đã tiến bộ rõ rệt
- Trong giờ học Văn không khí học tập sôi nổi, đã có sự cộng hưởng
cảm xúc giữa nhà văn - HS - GV. HS tích cực trao đổi thảo luận, hăng hái xung
phong phát biểu xây dựng bài. HS thực sự hứng thú khi được học môn Văn và
tiếp xúc với các tác phẩm văn học. Chất lượng, hiệu quả giờ học được nâng cao
rõ rệt.
- HS được rèn luyện nhiều về tư duy mới trong thảo luận phát vấn đáp,
được rèn luyện cách diễn đạt trình bày phát biểu; các em tỏ ra chủ động, tự tin,
linh hoạt khi diễn đạt trước tập thể. Qua đó, đã hình thành được một số kĩ năng
tự tiếp nhận, chiếm lĩnh tác phẩm văn học cho HS.
?!3@ABCD&EFGHFEFGHI
16
-\2[
Áp dụng phương pháp vấn đáp\9^ trong dạy học môn Văn ở
trường phổ thông là một việc làm cần thiết để nhằm nâng cao chất lượng HS.
Phương pháp dạy học nào thì cũng có mặt tích cực và hạn chế của nó. Nhưng
nói chung theo phương pháp dạy học mới hiện nay lấy HS làm trung tâm thì
việc dạy học theo phương pháp vấn đáp mang lại thành công nhiều hơn.
Việc áp dụng phương pháp vấn đáp vào trong dạy học bộ môn Ngữ Văn
có tác dụng rất lớn trong việc phát triển trí tuệ, tâm hồn của HS, rèn luyện kỹ
năng, phát huy sáng tạo của HS, phát huy hướng tìm tòi, phát hiện trong quá
trình học của HS. Nhưng với phương pháp này đôi khi cũng có hạn chế đối với
các lớp HS yếu, dễ gây mất thời gian.
Mỗi phương pháp đều có thế mạnh riêng. Người GV là người tổ chức
Trên đây là một vài kinh nghiệm và ý kiến nhỏ của tôi, tất nhiên không
tránh khỏi thiếu sót, rất mong đồng nghiệp chia sẻ và bổ sung, .
Xin chân thành cảm ơn!.
B&DK&"9FGGkFGHI
Người viết
?!3@ABCD&EFGHFEFGHI
18
R2_U
?!3@ABCD&EFGHFEFGHI
19