MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Hiện nay, đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội
một cách toàn diện và sâu sắc. Nền Giáo dục nước ta đang chuyển từ phục vụ
nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Công cuộc đổi mới này đòi hỏi nền giáo dục nước ta phải đào
tạo ra lớp người lao động, tự chủ, sáng tạo, có năng lực thích ứng với nền
kinh tế thị trường cạnh tranh và hợp tác. Không chỉ biết tìm việc làm mà còn
phải tạo ra việc làm. Để đạt được mục tiêu này giáo dục nước ta phải đổi mới
cả về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học… Trong đó việc đổi
mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh
là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa chiến lược.
Việc đổi mới phương pháp dạy học cần phải được tiến hành ở tất cả các
cấp học, bậc học. Bởi vậy phương pháp dạy học là yếu tố quan trọng nhất
trong quá trình dạy học. Sau khi đã xác định rõ mục đích, nội dung học tập,
việc giảng dạy có tạo nên hứng thú hay không, có làm cho học sinh phát huy
trí thông minh sáng tạo hay không, có biến kiến thức thành thái độ hành vi
trong thực tiễn hay không… phụ thuộc vào phương pháp dạy học. Đặt vấn đề
đổi mới phương pháp dạy học chính là mong muốn tạo nên sức bật mới cho
thầy và cho thế hệ tương lai. Điều đó càng quan trọng hơn đối với các trường
Cao Đẳng Sư Phạm nói chung và trường Cao Đẳng Sư Phạm Bắc Ninh nói
riêng nơi đào tạo đội ngũ các thầy cô giáo tương lai.
Thực tiễn hiện nay cho thấy, nền giáo dục nước ta thời gian qua còn bộc
lộ nhiều bất cập, yếu kém. Dễ nhận thấy nhất là tình trạng đổi mới phương
pháp dạy học, thậm chí lạc hậu phương pháp dạy học truyền thống “ thầy
giảng – trò ghi” còn diễn ra đại trà ở các nhà trường. Hậu quả là học sinh
ngày càng thụ động mặc dù nhà trường vẫn kêu gọi phải phát huy tính tích
1
cực chủ động độc lập. Điều đó mâu thuẫn với nhu cầu hiện nay là cung cấp
cho thị trường sức lao động có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng sự phát triển
của xã hội.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
- Khách thể nghiên cứu: phương pháp dạy học môn giáo dục học
- Đối tượng nghiên cứu: phương pháp tình huống.
4. Phạm vi nghiên cứu.
- Do điều kiện về thời gian và khả năng nghiên cứu còn hạn chế nên
bước đầu chúng tôi nghiên cứu sử dụng phương pháp tình huống vào dạy học
chương: “Giáo dục và sự phát triển nhân cách” thuộc môn GDH ở trường
CĐSPBN.
- Thời gian thực hiện: từ ngày 19/ 12/ 2010 đến 30/ 4/ 2011
- Địa bàn nghiên cứu: Áp dụng ở trường Cao Đẳng Sư Phạm Bắc Ninh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Với đề tài này, chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp tình huống.
- Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng phương pháp tình huống trong dạy
học môn Giáo dục học ở trường Cao Đẳng Sư Phạm Bắc Ninh.
- Thực nghiệm giảng dạy một số tiết trong môn Giáo dục học bằng
phương pháp tình huống.
6. Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp các
phương pháp sau.
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
3
- Nghiên cứu tài liệu lý luận có liên quan đến cơ sở phương pháp luận, cơ
sở lý luận dạy học của đề tài.
- Đọc và phân tích các bài viết trên các tập có chuyên ngành và các luận
án, báo cáo khoa học, các tư liệu giáo trình… có liên quan tới đề tài. Từ đó
tổng hợp rút ra các kết luận cần thiết phục vụ cho tiến trình nghiên cứu.
6.2 Phương pháp điều tra ( điều tra bằng phiếu anket).
- Thu thập những thông tin về việc sử dụng phương pháp tình huống.
- Thu thập những thông tin ngược của sinh viên về học tập môn Giáo dục
hay nói cách khác là khi có sự phối hợp ăn ý giữa người dạy và người học.
Dạy học là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm
giúp cho người học lĩnh hội được tri thức khoa học, kỹ năng hoạt động sáng
tạo, trên cơ sở đó hình thành thế giới quan và các phẩm chất nhân cách của
người học theo mục đích giáo dục.
1.1.2 Phương pháp dạy học.
Thuật ngữ phương pháp có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp là “Methodos”,
có nghĩa là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích. Theo
Heghen ( dưới góc độ triết học) “ phương pháp là ý thức về hình thức của sự
tự vận động bên trong của nội dung”. Định nghĩa này chứa đựng nội hàm sâu
sắc. Phương pháp hiểu theo nghĩa chung nhất là cách thức đạt tới mục tiêu, là
hoạt động được sắp xếp theo một trật tự nhất định. Phương pháp gắn bó chặt
chẽ với lý luận, có những phương pháp riêng cho từng lĩnh vực khoa học.
Phương pháp dạy học là cách thức tổ chức hoạt động dạy học của giáo
viên và cách thức tổ chức hoạt động học tập của học sinh, trong quan hệ đó,
phương pháp dạy quyết định, điều khiển phương pháp học, phương pháp học
5
tập của học sinh là cơ sở để lựa chọn phương pháp dạy. Tuy nhiên kết quả
học tập được quyết định trực tiếp bởi phương pháp học tập của học sinh.
Như vậy phương pháp dạy học là sự kết hợp hữu cơ, biện chứng giữa
phương pháp dạy của giáo viên và phương pháp học của học sinh, phương
pháp dạy đóng vai trò chủ đạo, phương pháp học có tính chất độc lập tương
đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy, song nó cũng ảnh hưởng trở lại
phương pháp dạy.
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của
giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ
đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu và các nhiệm vụ dạy học.
[ 19, 204]
1.1.3 Tình huống.
- Từ điển tiếng Việt – Viện Khoa học xã hội 1992 định nghĩa: “ Tình
pháp thông thường biết trước thì không phải là vấn đề. Câu hỏi hay bài toán
chứa đựng mâu thuẫn nhận thức đòi hỏi chủ thể phải có sự nỗ lực tư duy,
phải sáng tạo mới giải đáp được nó mới gọi là vấn đề. Do đó cùng một bài
toán với người này là “ vấn đề” nhưng với người khác thì không phải là “vấn
đề”.
* Khái niệm tình huống có vấn đề.
- AV. Pêtropki định nghĩa: tình huống có vấn đề là tình huống đặc trưng
bởi trạng thái tâm lý xác định của con người, nó kích thích tư duy trước khi
con người nảy sinh những mục đích và những điều kiện hoạt động mới. Trong
đó, những phương tiện và phương thức hoạt động trước đây mặc dù cần
nhưng chưa đủ để đạt được mục đích mới này. [10, 108]
7
- Theo GS. Lê Khánh Bằng: tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lý
trong đó học sinh nhận thức được vấn đề, mong muốn giải quyết vấn đề và có
khả năng giải quyết vấn đề với sự nỗ lực nhất định [4, 44]
b. Tình huống dạy học.
Tình dạy học . Ở cấp độ phổ quát nhất, mọi tình huống đều có giá trị
dạy học. Đơn giản là vì trong bất kỳ tình huống nào cũng hàm chứa tri thức
về các sự kiện tri thức về kĩ năng và phương pháp giải quyết chúng. Vì vậy,
khi hành động mang lại kết quả, chủ thể đã thu được những tri thức nhất định.
Tuy nhiên, dạy học không phải là quá trình tự phát mà hoạt động có chủ đích.
Vì vậy, các tình huống được đưa vào trong hoạt động dạy học phải được lựa
chọn và xây dựng theo dụng ý của người dạy, khi đó mới trở thành tình huống
dạy học.
Tình huống dạy học là tình huống trong đó có sự ủy thác của người
giáo viên. Sự ủy thác này chính là quá trình người giáo viên đưa những nội
dung cần truyền thụ vào trong các sự kiện của tình huống và cấu trúc các sự
kiện sao cho phù hợp với logic sư phạm, để khi người học giải quyết nó sẽ đạt
được mục tiêu dạy học.
Như vậy, một tình huống thông thường chưa phải là tình huống dạy
+ Học sinh được đặt vào một tình huống gợi vấn đề, hoạt động tích cực,
tận lực huy động tri thức và kĩ năng của mình để giải quyết vấn đề.
+ Mục đích dạy học không chỉ làm cho học sinh lĩnh hội được kết quả
của quá trình giải quyết vấn đề, mà còn làm cho họ phát triển khả năng tiến
hành những quá trình như vậy.
* Khái niệm phương pháp tình huống
9
Phương pháp tình huống là tổ hợp cách thức phối hợp thống nhất giữa
giáo viên và học sinh. Trong đó giáo viên là người tạo ra môi trường chứa
đựng vấn đề học tập có tính thách thức bằng cách thiết kế những “an toàn”
cho học sinh bằng cách thiết kế và ủy thác cho học sinh giải quyết tình huống
dạy học. Còn học sinh tiếp nhận tình huống dạy học, tự lực sáng tạo giải
quyết tình huống thông qua quá trình đồng hóa và điều ứng nhằm bộc lộ
chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng qua đó thích nghi với môi trường và phát triển
bản thân.
Theo PGS. TS Đặng Thành Hưng thì mỗi phương pháp dạy học đều có
ba vấn đề ( thành tố dạy học của phương pháp): Một là nguyên tắc lý luận
lòng cốt ( xác định bản chất của phương pháp đó không lẫn với các phương
pháp khác). Hai là mô hình kĩ thuật ( gồm các tổ hợp kĩ năng, quy tắc thực
hiện chúng để xác định phương pháp dạy học đó). Ba là các phương tiện
mang và biểu hiện phương pháp đó trong hiện thực ( xác định phương pháp
ấy có hình thức cụ thể là gì?). Để hiểu rõ hơn về phương pháp dạy học tình
huống, chúng tôi tìm hiểu và làm rõ ba thành tố trên.
+ Nguyên tắc lý luận lòng cốt: Phương pháp dạy học tình huống thuộc
kiểu dạy học dựa vào vấn đề. Kiểu dạy học này đòi hỏi người học phải nỗ lực
hoạt động trí tuệ, suy nghĩ giải quyết các tình huống mà giáo viên đưa ra. Qua
quá trình giải quyết tình huống, nhân cách của người học được bộc lộ, phát
triển theo mục đích dạy học.
+ Mô hình kĩ thuật: Quy trình thực hiện gồm hai đoạn, giai đoạn chuẩn
bị tình huống dạy học, giai đoạn điều khiển học sinh tiếp nhận và giải quyết
tri thức. Giáo viên chỉ đưa người học vào tình huống dạy học và gợi ra những
vấn đề để tự họ tìm ra lời giải.
11
Phương pháp tình huống chú trọng đế việc ứng dụng tri thức vào việc
giải quyết những vấn đề thực tiễn hơn là việc giải quyết vấn đề có tính chất lý
luận.
1.2.2 Ưu và nhược điểm của phương pháp tình huống.
1.2.2.1 Ưu điểm:
1) Cung cấp môi trường sư phạm lí tưởng cho sinh viên tổ chức các hoạt
động học tập của mình. Trong môi trường đó, sinh viên được trực tiếp làm
việc với đối tượng học tập, tự mình “ bóc tách” nội dung học tập được ngầm
ẩn trong tình huống.
2) Sinh viên không tiếp nhận nội dung học tập một cách lí thuyết mà
được gắn liền với một tình huống cụ thể, điển hình. Nguyên tắc vàng trong
dạy hoc: Tôi nghe thì tôi quên, tôi nhìn thì tôi nhớ, tôi làm thì tôi hiểu rất phù
hợp với trường hợp này.
3) Tăng cường khả năng độc lập suy nghĩ, phát triển tư duy sáng tạo và
các hướng tiếp cận với đối tượng.
4) Phát triển các kĩ năng vận dụng kinh nghiệm của mình và của người
khác vào việc giải quyết các vấn đề trong học tập và trong lĩnh vực khác.
5) Phát triển khả năng thích ứng trong các tình huống khác nhau. Đây
chính là mục tiêu chủ yếu cuả dạy học hiện đại.
6) Nâng cao lòng tin vào khả năng của bản thân trong việc giải quyết các
tình huống học tập cũng như trong cuộc sống.
7) Tăng cường sự hiểu biết và sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm
thông qua việc hợp tác giải quyết tình huống.
1.2.2.2 Nhược điểm:
1) Xây dựng được một tình huống tiền sư phạm là việc không đơn giản.
Vì vậy đòi hỏi giáo viên phải có nhiều chuyên môn, vốn văn hóa sâu rộng và
am hiểu những vấn đề thực tế liên quan tới lĩnh vực môn học.
- Sử dụng tình huống để dạy kiến thức mới
+ Giáo viên sử dụng phương pháp tình huống để dạy kiến thức mới. Giáo
viên hướng dẫn sinh viên tham gia nghiên cứu giải quyết các tình huống, mà
trong các tình huống này đã chứa đựng nội dung tri thức mới cần học. Sinh
viên giải quyết tình huống từ đó tạo ra được một kiến thức mới cho mình, đó
chính là tri thức mà người giáo viên định dạy, gửi gắm vào tình huống.
+ Khi sử dụng tình huống để dạy kiến thức mới có thể sử dụng một
phương pháp dạy học tình huống, cũng có thể kết hợp với phương pháp dạy
học khác.
- Sử dụng tình huống để củng cố, phát triển kiến thức.
+ Mục đích: Giáo viên sử dụng tình huống để luyện tập hay thực hành
nhằm củng cố, vận dụng hay phát triển tri thức đã học cho người học.
+ Giáo viên hướng dẫn sinh viên tham gia nghiên cứu giải quyết các tình
huống, mà trong các tình huống này đã chứa đựng nội dung tri thức đã học.
Sinh viên tự giải quyết và chỉ ra tri thức giáo viên gửi vào tình huống đó và
vận dụng tri thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn.
1.2.5 Nguyên tắc thiết kế nội dung bài giảng theo phương pháp tình
huống.
Việc thiết kế bài giảng theo phương pháp tình huống được tiến hành dựa
trên các nguyên tắc cơ bản sau:
1, Tôn trọng chương trình, kế hoạch bộ môn đã được các cấp phê duyệt,
bao quát được các nội dung tri thức cơ bản trang bị cho người học.
Nguyên tắc thiết kế này không loại trừ cách thiết kế hệ thống tri thức
đang được phổ biến hiện nay.
14
2, Giảng dạy nội dung đã học được thiết kế theo tình huống phải đảm
bảo sự phát triển năng lực tư duy, năng lực hành động của sinh viên, hình
thành kỹ năng xử lý nhanh, chính xác các tình huống thực tiễn.
3, Thiết kế bài phải phù hợp với trình độ nhận thức của sinh viên, với
mục tiêu đào tạo, điều kiện hiện có của nhà trường.
về phương diện sư phạm. Nếu là tình huống do giáo viên xây dựng thì cần
phải đảm bảo nguyên tắc “ y như thật”, tức là những sự kiện trong tình huống
phải gắn với thời gian, không gian, địa điểm, con người cụ thể sản sinh ra tri
thức, kĩ năng và phương pháp mà người giáo viên đưa vào trong tình huống
( sự cá nhân hóa, hoàn cảnh hóa, thời gian hóa…)
- Thứ tư: Cần phân tích trình độ nhận thức, kinh nghiệm và các đặc điểm
tâm lí – xã hội của học viên để xác định mức có vấn đề của tình huống ( mức
độ khó khăn hoặc trở ngại của tình huống mà học viên phải vượt qua).
- Thứ năm: Chuẩn bị các câu hỏi, các phương tiện kĩ thuật cần thiết cho
việc giải quyết tình huống của sinh viên.
- Thứ sáu: Lập kế hoạch thực hiện và dự kiến những tình huống phát sinh.
* Giai đoạn thực hiện: Trong giai đoạn này có các việc chủ yếu sau:
Giới thiệu tình huống cho học viên. Cung cấp thông tin về tình huống
( phát tài liệu, băng video v.v). Nêu rõ công việc học viên phải thực hiện, mục
đích cần đạt v.v.
Tổ chức cho học viên hành động với tình huống: Trong khâu này giáo viên
có thể hướng dẫn học sinh hành động với tình huống theo nhiều hình thức: a)
Làm việc độc lập của từng học sinh. Trong hình thức này, giáo viên cần đảm
bảo đủ thời gian để sinh viên phân tích và hiểu rõ tình huống. Sau khi học
viên đưa ra được giải pháp giải quyết tình huống, giáo viên cần xác nhận
16
những tri thức, kĩ năng, phương pháp hành động mà học sinh thu nhận được
từ việc giải quyết tình huống. Trong tường hợp những tri thức thu nhận được
không phù hợp, cần giúp họ khắc phục, bằng cách tìm kiếm giải pháp mới. b)
Làm việc theo nhóm. Trong hình thức này, lớp được chia thành nhiều nhóm.
Khi các nhóm làm việc, giáo viên cần đi vòng quanh, quan sát và trợ giúp các
nhóm, nếu thấy cần thiết. c) Thảo luận cả lớp. Trong dạy học bằng phương
pháp tình huống, hình thức làm việc cả lớp chỉ diễn ra ở công đoạn cuối, khi
các cá nhân hoặc nhóm đã tìm ra được giải pháp và cần công bố, thảo luận,
trao đổi rộng rãi trong cả lớp.
- Năm 2007, Trường được Chính phủ tặng Cờ thi đua xuất sắc
18
- Khoa Bộ môn chung gồm tổ chính trị, tổ giáo dục thể chất - quốc
phòng và tổ tâm lý – giáo dục
- Khoa quản lý giảng dạy chuyên môn Chính trị - Mác Lênin – Tư tưởng
Hồ Chí Minh, Thể dục quố phòng, Đoàn đội, Tâm lý giáo dục của các ngành,
hệ đào tạo do trường đào tạo và cấp bằng, chứng chỉ
- Tháng 03/2007 Tổ Tâm lý sát nhập vào khoa Bộ môn chung
- Khoa có 20 giảng viên trong đó tổ tâm lý có 11 giảng viên (6 thạc sỹ, 5
cử nhân)
a. Nhiệm vụ, chức năng chính của tổ
* Nhiệm vụ
- Tham gia giảng dạy hầu hết cho các hệ đào tạo của nhà trường (hệ
chính quy và tại chức…)
+ Hệ CĐSP đào tạo GV THCS tổ tham gia giảng dạy 8 môn
+ Hệ CĐSP đào tạo GV Tiểu học tổ tham gia giảng dạy 7 môn.
+ Hệ trung học sư phạm( 2 năm) tổ tham gia giảng dạy 4 môn.
+ Hệ CĐSP liên thông ( đào tạo GV tiểu học) tổ tham gia giảng dạy 5
môn
+ Hệ Cao đẳng thư viện thông tin tổ tham gia giảng dạy 3 môn.
+ Hệ trung cấp thư viện thiết bị tổ tham gia giảng dạy 2 môn.
+ Hệ cao đẳng Việt Nam học tổ tham gia giảng dạy 2 môn.
+ Hệ Cao đẳng sư phạm mầm non tổ tham gia giảng dạy 6 môn.
* Chức năng
Ngoài chấm thi học kì học bình thường tổ tham gia làm thi tuyển sinh
đầu vào hệ CĐSP liên thông.Thi tốt nghiệp môn TL - GD của hệ CĐSP ,Tiểu
học Mầm Non,CĐSP liên thông.Dạy cấp chính chỉ SP bậc 1 cho sinh viên
không thuộc hệ SP
19
Tham gia hướng dẫn SV nghiên cứu khoa học giáo dục (toàn bộ SV năm
b. Sự phát triển nhận thức của sinh viên.
- Sinh viên tiếp nhận tri thức khoa học một cách khái quát hệ thống để
trở thành những thầy cô giáo tương lai. Hoạt động nhận thức của họ gắn chặt
với hoạt động nghề nghiệp.
- Hoạt động nhận thức của sinh viên diễn ra một cách có kế hoạch, có
mục đích, nội dung, chương trình nhất định.
- Những phương tiện phục vụ cho hoạt động nhận thức của sinh viên
cũng đa dạng, phong phú và hiện đại với những trang thiết bị như: thư viện,
phòng máy, phòng học…
- Sinh viên phải tìm được phương pháp học tập mới ở cao đẳng cho phù
hợp với nghề nghiệp của mình. Vì không tìm được phương pháp học tập thích
hợp thì sinh viên không thể có kết quả học tập tốt được.
Như vậy hoạt động nhận thức của sinh viên là hoạt động trí tuệ đích
thực, đòi hỏi sự tích cực năng động và có tính lựa chọn rõ rệt. Hoạt động nhận
thức này cũng diễn ra theo quy luật nhận thức chung của loài người, song đối
với sinh viên thì hoạt động nhận thức của họ diễn ra tinh tế nhanh nhạy và
linh động, sáng tạo hơn. Vì vậy họ luôn tiếp cận được với những cái mới,
luôn đào sâu suy nghĩ không bằng lòng với tri thức dập khuôn như trong giáo
trình.
c. Sự phát triển tự ý thức của sinh viên.
Tự ý thức là một loại đặc biệt của ý thức trong đời sống cá nhân, có chức
năng điều chỉnh nhận thức và thái độ đối với bản thân. Tự ý thức chính là điều
kiện để phát triển và hoàn thiện hướng nhân cách theo yêu cầu của xã hội. Tự
21
ý thức của sinh viên được hình thành trong quá trình xã hội hóa và liên qua
chặt chẽ với tính tích cực nhận thức của họ.
2.1.3 Đặc trưng môn giáo dục học ở trường Cao Đẳng Sư Phạm Bắc
Ninh.
Mục tiêu và đặc trưng môn học là cơ sở tạo nên đặc trưng tình huống dạy
học môn đó.
Chương IV: Nguyên lý giáo dục 4 tiết
Chương V : Người giáo viên ở trường trung học 6 tiết.
* Nhưng vì khả năng nghiên cứu còn hạn chế và thời gian có hạn nên
chúng tôi chỉ tập chung nghiên cứu nội dung của chương II môn GDH : “Giáo
dục và sự phát triển nhân cách” (6 tiết).
- Mục tiêu:
Kiến thức:
+ Trình bày giải thích được khái niệm nhân cách, sự phát triển nhân cách,
khái niệm về các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển nhân cách.
+ Chứng minh được vai trò đúng đắn của từng nhân tố.
Kỹ năng:
+ Thực hành làm được các bài tập do giáo viên nêu ra, đánh giá đúng đắn
các sự kiện trong thực tế liên quan đến nhân cách.
+ Có kế hoạch thực hiện kiến thức đã học vào công tác sư phạm có hiệu
quả.
Thái độ:
+ Sinh viên yêu thích môn học và nghề giáo đã chọn.
+ Tích cực rèn luyện nhân cách cho bản thân cũng như quá trình vận dụng
vào công tác sư phạm.
23
Cấu trúc của chương II.
Tiết 1:2.1 Khái niệm sự phát triển nhân cách.
Tiết 2: 2.2Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân
cách.
2.2.1 Yếu tố bẩm sinh – di truyền.
Tiết 3: 2.2.2 Yếu tố môi trường.
Tiết 4: 2.2.3 Yếu tố giáo dục
Tiết 5: 2.2.4 Yếu tố hoạt động cá nhân.
Tiết 6: Thực hành
Từ nội dung chương II môn giáo dục học ở trường Cao Đẳng Sư Phạm
trường CĐSP Bắc Ninh.
- Mục đích nghiên cứu thực trạng nhằm thực hiện nhiệm vụ thứ hai của
đề tài, tìm hiểu sử dụng phương pháp tình huống trong dạy học môn giáo dục
học ở trường Cao Đẳng Sư Phạm Bắc Ninh cụ thể tìm hiểu các nội dung sau:
+ Nhận thức của giảng viên về vai trò của phương pháp tình huống và
những điểm lý luận cơ bản nhất như phương pháp dạy học và phương pháp
dạy học tình huống.
+ Thực tế vận dụng: Họ thường đưa phương pháp tình huống vào trong
dạy học môn giáo dục học không. Họ đã vận dụng như thế nào, thái độ nhận
thức của sinh viên. Có khó khăn và thuận lợi gì.
2.2.2 Kế hoạch nghiên cứu thực trạng.
2.2.2.1 Xây dựng các mẫu phiếu điều tra.
Chúng tôi xây dựng một anket dành cho giáo viên và một dành cho sinh
viên dưới dạng phiếu tham khảo ý kiến.
- Phiếu điều tra dành cho giảng viên ( phụ lục 1)
25