tiểu luận Thực trạng ứng dụng CNTT vào dạy học ở trường THPT Hai Bà Trưng, TP Huế, tỉnh TT Huế” - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Cơ sở lý luận
Năng lực sư phạm có vị trí rất quan trọng trong hoạt động (HĐ) nghề
của người GV. Nó không chỉ biểu hiện ở sự nắm vững hệ thống tri thức
chuyên môn mà còn là sự thành thạo KNSP phù hợp với yêu cầu nghề nghiệp
của mình. Người GV chỉ có thể thành công trong nghề khi họ biết sử dụng
thành thạo các kỹ năng dạy học (KNDH) trên cơ sở những tri thức, KN, KX
và những kinh nghiệm mà họ thu thập được trong quá trình học tập và công
tác. KNDH sẽ giúp cho HĐ dạy của người GVMN trong mức độ nào đó,
giống như HĐ của người thầy thuốc, người nghệ sĩ
Những nghiên cứu chuyên biệt đã chỉ ra rằng, trong hệ thống những
KNSP của GVMN, ngoài những điểm chung với những KN của giáo viên
các bậc học khác còn có những đặc điểm riêng của bậc học MN, vì họ vừa là
người mẹ, người giáo viên, người thầy thuốc, người nghệ sĩ và người bạn của
trẻ em tuổi mầm non. Chính vì vậy, những KNSPMN rất đa dạng. Người
GVMG được gọi là lành nghề chỉ khi họ có các KNSPMN ở mức độ cao,
đặc biệt là những KNSPMN trong HĐ dạy học ở trường MN. Các KNSP cần
được hình thành ngay từ trên ghế trường SPMN và tiếp tục hoàn thiện trong
quá trình lao động nghề nghiệp. Chính vì vậy, việc nghiên cứu KNTCHĐ
dạy của GVMG là một việc làm vô cùng cần thiết.
1.1. Cơ sở thực tiễn
Hiện nay, ở hầu hết các trường mẫu giáo KNTC dạy của GV chưa được
nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ, khách quan. Việc phân loại và bồi
dưỡng các KN dạy học cho trẻ lứa tuổi MG trên cơ sở khoa học chưa được
quan tâm, chú trọng.
Thực tế hiện nay cho thấy hầu hết GVMG còn lúng túng trong việc tổ
chức các hoạt động CS-ND trẻ, trong việc TCHĐ dạy. Đặc biệt xu hướng đổi
mới GDMN hiện nay đòi hỏi GVMG phải đổi mới hình thức tổ chức giáo
dục, mỗi HĐ giáo dục cho trẻ phải mang tính tích hợp nội dung và được thiết
kế dưới hình thức vui chơi. Vì vậy, việc làm cấp bách hiện nay là phải

5.2. Tìm hiểu thực trạng KNTCHĐ dạy nói chung, KNTC hoạt động học có
chủ đích cho trẻ mẫu giáo nói riêng của GVMG.
5.3. Trên cơ sở kết quả điều tra thực trạng đề xuất một số biện pháp nâng
cao các KNTCHĐ dạy cho GVMG.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
6.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
6.2.2. Phương pháp thực nghiệm tác động sư phạm
6.2.3. Phương pháp quan sát và chụp hình một số hoạt động dạy
6.2.4. Phương pháp trò chuyện phỏng vấn
6.2.5.Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
6.3. Phương pháp xử lý số liệu
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Chỉ nghiên cứu một số KN dạy của GVMG được thể hiện trong
việc tổ chức hoạt động học có chủ đích cho trẻ mẫu giáo.
2
8. Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn về KNTCHĐ
dạy của GVMG, đưa ra một số biện pháp nhằm phát triển KNTCHĐ dạy
cho GVMG, góp phần nâng cao hiệu quả rèn luyện tay nghề cho GVMG.
9. Cấu trúc của luận văn: Luận văn được trình bày trên 88 trang không
kể phần phụ lục. Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham
khảo, luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu.
Các số liệu được minh họa bằng 14 bảng trong chương 3 và ở phần
phụ lục 1, 2, 3, 4.
Chương 1:

Trong các công trình nghiên cứu về KNHĐSP, K. I. Kixegof đã
phân tích khá sâu về KN. Khi tiến hành thực nghiệm hình thành KN ở
sinh viên sư phạm ông đã đưa ra ý kiến “KNHĐSP có đối tượng là con
người. HĐSP rất phức tạp đòi hỏi sự sáng tạo, không thể hoạt động theo
khuôn mẫu cứng nhắc. KNHĐSP, một mặt đòi hỏi tính nghiêm túc, mặt
khác đòi hỏi tính mềm dẻo cao”.
Trong tác phẩm “Nghề của tôi – Giáo viên mầm non”, tác giả V. P.
Smưch đã nhấn mạnh rằng: Để hình thành KNSP vấn đề quan trọng phải
có tình cảm, hứng thú đến với nó mới làm cho quá trình rèn luyện rút
ngắn và đỡ tiêu hao sức lực [18].
Các tác giả L. S. Xemuxina và E. A. Pancô nghiên cứu về KN và
KX nghề nghiệp của GVMN cũng đã cho thấy những đặc thù của KN
nghề GVMN.
Tất cả các nhà nghiên cứu đã thống nhất đánh giá vai trò quan trọng
của KN trong mọi lĩnh vực hoạt động, đặc biệt là những KNSP của nhà
giáo. Những KN này phải được hình thành trong khi đang học tập tại
trường SP. Từ những quan điểm trên đã cho ta một cách nhìn cơ bản và
toàn diện hơn về quá trình hình thành KNSP cho GV tương lai.
1.1.2. Nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, TLH là một ngành khoa học còn non trẻ. Tuy vậy,
ngay từ khi mới thành lập, tập thể các nhà nghiên cứu đã tập trung nghiên
cứu các vấn đề quan trọng như: làm rõ khái niệm về KN, KN lao động,
KNSP, KN tổ chức, KN quản trị kinh doanh, KN quản lý
Trong TLH lao động (1992), PGS Trần Trọng Thủy đã nêu ra khái
niệm KN và điều kiện hình thành KN hoạt động lao động công nghiệp.
Trong TLH đại cương (1995), GS.TS Nguyễn Quang Uẩn đã khẳng
định: “Cùng với năng lực thì tri thức, KN, KX thích hợp cũng rất cần
thiết cho việc thực hiện có kết quả một hoạt động. Có tri thức, KN, KX
trong một lĩnh vực nào đó là điều kiện cần thiết để có năng lực trong lĩnh
vực này”.

♦ HĐSP là hoạt động chung của hai chủ thể: Thầy với tư cách là chủ
thể của HĐ dạy. Trò với tư cách là chủ thể của HĐ học. Hai HĐ đó dựa
vào nhau mà vận động và phát triển, thường xuyên tác động vào nhau,
trao đổi giá trị tinh thần cho nhau để hình thành nên những phẩm chất
nhân cách toàn diện cho người học.
♦ HĐSP là một trong những lĩnh vực lao động phức tạp của con
người. Việc thực hiện thành công HĐSP đòi hỏi mỗi người GV bên cạnh
việc nắm tri thức khoa học tự nhiên, xã hội còn phải nắm vững KNSP
tương ứng.
1.2.1.2. Cấu trúc hoạt động sư phạm: Có 2 quan điểm:
+ Quan điểm thứ nhất cho rằng, HĐSP bao gồm: Hoạt động dạy học,
hoạt động giáo dục, hoạt động tổ chức (tổ chức các HĐSP).
5
+ Quan điểm thứ hai cho rằng, HĐSP bao gồm: HĐ dạy học, HĐ
giáo dục. Hai HĐ này có liên quan chặt chẽ, tác động lẫn nhau. Trong đó,
HĐ dạy học là cơ bản, thông qua dạy học để giáo dục con người.
Về bản chất, hai quan điểm này đều dựa vào nội dung, nhiệm vụ cụ
thể của HĐSP để phân chia HĐSP thành hai mảng: HĐDH và HĐGD.
Nhưng dù là HDDH hay HĐGD thì cũng rất cần phải tổ chức HĐ của thầy
và trò.
1.2.2. Hoạt động dạy học
1.2.2.1. Hoạt động dạy:HĐ dạy là HĐ của người lớn tổ chức và điều khiển
HĐ của trẻ nhằm giúp chúng lĩnh hội nền văn hóa xã hội, tạo ra sự phát
triển tâm lý, hình thành nhân cách của chúng
Để đạt được mục đích trên phải thông qua HĐ dạy của thầy giáo, ở
đây, thầy giáo là chủ thể của HĐ dạy. Chức năng của thầy trong HĐ này
không làm nhiệm vụ sáng tạo ra tri thức mới (vì các tri thức này đã được
nhân loại sáng tạo ra), cũng không làm nhiệm vụ tái tạo tri thức cũ, mà
nhiệm vụ chủ yếu, nhiệm vụ đặc trưng là tổ chức quá trình tái tạo tri thức ở
trẻ (chính nó là chủ thể của hoạt động học). Như vậy, khi tiến hành HĐ

học quyết định chất lượng của HĐ học; ngược lại chất lượng của HĐ học
phụ thuộc vào sự điều khiển, tổ chức các HĐ dạy của người thầy. HĐ dạy
và HĐ học hợp lại với nhau thành HĐ dạy – học trong đó: người học có
chức năng lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo; người dạy có chức năng tổ
chức, điều khiển hoạt động học của học sinh.
1.2.3. Hoạt động dạy ở trường mẫu giáo
1.2.3.1. Đặc điểm hoạt động dạy ở trường mẫu giáo
HĐ dạy ở trường MG là HĐ có mục đích, kế hoạch, là HĐ tương tác
giữa trẻ em và GV. GV hướng dẫn trẻ giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng,
giáo dục và phát triển năng lực nhận thức, góp phần hình thành toàn vẹn
nhân cách cho trẻ em. Tác động SP của GVMG phải luôn thay đổi, phù
hợp với yêu cầu phát triển trong từng giai đoạn của trẻ. Phương tiện giáo
dục chủ yếu là đồ dùng, đồ chơi, là MT tự nhiên và MT xã hội phong phú,
đa dạng. GVMG cần biết tận dụng triệt để những điều kiện và phương tiện
cần thiết, thích hợp để giáo dục trẻ ở mọi lúc mọi nơi và đặc biệt trong giờ
TCHĐ học có chủ đích.
HD dạy ở trường MG là HĐ nhằm giúp trẻ lĩnh hội kiến thức, kỹ
năng hình thành chính bản thân hoạt động học tập, là nhằm chuẩn bị các
năng lực toàn diện, là quá trình chuẩn bị sẵn sàng về thể chất, tâm lý, xã
hội cho trẻ vào học phổ thông. Trẻ MN, đặc biệt trẻ MG “học mà chơi,
chơi mà học”, vì HĐ vui chơi là HĐ chủ đạo của lứa tuổi này. Do đó,
người GVMG phải biết "chơi” cùng trẻ và phải có nghệ thuật tổ chức,
hướng dẫn "trẻ chơi để mà học”.
1.2.3.2. Xu hướng đổi mới giáo dục mầm non hiện nay
● Về nội dung giáo dục, được xây dựng theo các lĩnh vực phát triển:
thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm-xã hội, thẩm mỹ, đảm bảo giáo
dục trẻ một cách toàn diện. các lĩnh vực này được cấu trúc theo hướng tích
hợp chủ đề. Lấy bản thân đứa trẻ làm trung tâm, các chủ đề được xây dựng
mở rộng dần từ đơn giản đến phức tạp, từ gần đến xa, từ bản thân trẻ đến
gia đình, MTTN và MTXH gần gũi với trẻ. Đồng thời đảm bảo tính tích

có thể vừa là giáo viên, vừa là người chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và chữa
bệnh cho trẻ, là nghệ sĩ và là người mẹ thứ hai của trẻ.
1.2.3.3. Tổ chức hoạt động học có chủ đích cho trẻ mẫu giáo
- TCHĐ học có chủ đích cho trẻ MG không theo các bước của “tiết
học” một cách hình thức, máy móc mà xây dựng theo cách kết hợp nhiều
HĐ khác nhau một cách phù hợp, linh hoạt, tạo những tình huống HĐ của
trẻ cùng với những thao tác thử nghiệm, khám phá, tập làm để giúp trẻ
thực sự được HĐ lĩnh hội kiến thức, hình thành KN.
- TCHĐ học có chủ đích theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm, đáp ứng
nhu cầu và phù hợp với khả năng cá nhân trẻ. Muốn vậy, GV phải hướng dẫn
trẻ phát huy cao độ tiềm năng vốn có của mình. Trong HĐ học có chủ đích,
trẻ là chủ thể HĐ lĩnh hội tri thức một cách sinh động và sáng tạo. HĐ học có
chủ đích là công việc của từng cá nhân trẻ; vì vậy GV cần thiết kế HĐ cá
8
nhân cho trẻ thông qua công việc khám phá, thử nghiệm, tập làm và các thao
tác cần thiết.
1.3. Kỹ năng, kỹ năng nghề, kỹ năng nghề của giáo viên mẫu giáo
1.3.1. Kỹ năng
Tổng kết các công trình nghiên cứu của một số tác giả cho thấy có
hai loại quan niệm về KN như sau:
+ Quan niệm thứ nhất: Các tác giả V.X. Cudin, V. A Cruchetxki, A.
G Covaliôv, Tsebusea, Trần Trọng Thủy thì KN là phương tiện thực hiện
hành động phù hợp với mục đích và điều kiện HĐ mà con người đã nắm
vững mà không cần tính đến kết quả của hành động.
+ Quan niệm thứ hai: Các tác giả N.D Levitov, K.I Kixegof, K.K.
Platonop, G.G. Golubev, Nguyễn Quang Uẩn, Ngô Công Hoàn, Nguyễn
Ánh Tuyết, Trần Quốc Thành cho rằng KN chính là năng lực thực hiện
một công việc có kết quả với chất lượng cần thiết và với thời gian tương
ứng trong điều kiện mới.
Như vậy, quan niệm thứ hai có chú ý đến kết quả của hành động.

phụ thuộc vào mức độ hình thành KNSP ở người GV. Nói cách khác,
muốn thực thi có hiệu quả những nhiệm vụ SP, người GV cần có hệ thống
các KNSP, nhờ đó giải quyết những nhiệm vụ của mình một cách “chuyên
nghiệp”, hệ thống những KN này cần được hình thành ở sinh viên ngay khi
đang còn học ở trường sư phạm.
Ở Việt Nam nhiều tác giả đã nghiên cứu về KNSP, nhiều người đã
đồng ý với định nghĩa mà tác giả Nguyễn Như An đã đưa ra: “KNSP là
khả năng thực hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt các thao tác
phức tạp của hành động sư phạm bằng cách lựa chọn và vận dụng những
tri thức, những cách thức, những qui trình đúng đắn”.
Nghề dạy học là một trong những nghề phức tạp và quan trọng. Trình
độ và chất lượng được đào tạo của người GV có ảnh hưởng to lớn đến
cuộc đời của biết bao HS. Vì vậy, nghệ thuật SP của người GV có ảnh
hưởng rất quan trọng. Nhưng nghệ thuật SP bắt đầu từ việc hình thành
những KNSP.
1.3.3. Kỹ năng nghề của giáo viên mẫu giáo
Các nghiên cứu chuyên môn đã chỉ ra rằng: KN nghề nghiệp của
GVMN nói chung và GVMG nói riêng có tính đặc thù được qui định bởi các
chức năng đặc thù của nghề GVMN và khách thể HĐ động của họ. GVMN
trong HĐSP của mình vừa phải thực hiện chức năng chung của người giáo
viên, vừa phải đồng thời thực hiện đầy đủ các chức năng đặc thù của “người
mẹ, người thầy thuốc và người nghệ sĩ”. GVMN vừa phải giáo dục, dạy trẻ lại
vừa phải chăm sóc-nuôi dưỡng, bảo vệ trẻ trong mọi HĐ của trẻ MN. Do đó
GVMN phải có những KN, KX riêng biệt.
Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu GDMN đã đưa ra nhiều ý kiến về
KNSP mầm non. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn GDMN, TS.
Trần Thị Quốc Minh đã dựa trên các dạng HĐ cơ bản của GVMN mà phân
loại các nhóm KN như sau: Nhóm kỹ năng nhận thức, Nhóm kỹ năng thiết
kế, Nhóm kỹ năng giao tiếp và tổ chức, Nhóm kỹ năng chuyên biệt.
Theo chúng tôi bốn nhóm kỹ năng trên được xác định là có cơ sở

♣ Điều tra chính thức
Phiếu 1: Điều tra việc rèn luyện và nâng cao KNTCHĐ dạy của GVMG.
Phiếu 2: Điều tra việc rèn luyện và nâng cao tay nghề của GVMG.
Phiếu 3: Điều tra việc rèn luyện KN qua sự đánh giá việc rèn luyện KN ở
GVMG của 50 CBQL trong các trường MG, trường MN.
Hướng dẫn các khách thể cách trả lời từng câu hỏi theo đúng mục
đích và yêu cầu của câu hỏi. Mỗi khách thể là GVMG sẽ độc lập trả lời
câu hỏi được nêu trong 2 phiếu (phiếu 1 và phiếu 2), khách thể là CBQL
trả lời phiếu 3.
* Thời gian tiến hành điều tra: từ 02/8/2007 đến 15/9/2007
2.3.2.2. Phương pháp thực nghiệm tác động sư phạm
* Thời gian thực nghiệm: từ 20/9 đến 20/10/2007
* Nội dung thực nghiệm: giáo viên sẽ tiến hành TCHĐ học cho trẻ với
nội dung như sau:
11
- Giáo dục âm nhạc: Dạy múa “Thật là hay” (Lớp MG 3-4 tuổi)
- LQMTXQ: Nước đổi màu (Lớp MG 5-6 tuổi).
2.3.2.3. Phương pháp quan sát và chụp hình một số HĐ của cô và trẻ
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành PP quan sát nhằm
bổ trợ thêm cho PP chính. Chúng tôi tiến hành quan sát, ghi chép và chụp
hình những hoạt động, việc sử dụng các KN dạy học khi họ tiến hành
TCHĐ học cho trẻ MG qua môn LQMTXQ và GDÂN, đặc biệt qua
những tiết thực nghiệm.
2.3.2.4. Phương pháp trò chuyện phỏng vấn
Qua trò chuyện với GVMG, với CBQL trong các trường MG,
trường MN và các cháu MG để thu được những thông tin còn thiếu mà
phương pháp chính không thu được và củng cố những thông tin đã thu
được từ phương pháp chính.
2.3.2.5. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Khi nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã tiến hành xin ý kiến một số

Về đội ngũ CBQL và GVMN: Toàn thành phố có 773 GVMN, trong
đó: 220 GVMN công lập, 235GVMN dân lập, 318GVMN tư thục. Có
83,5% GV đạt chuẩn và trên chuẩn, 16,5% GV có trình độ sơ cấp và chưa
có nghiệp vụ mà chủ yếu là GVMN tư thục.
3.2. Kết quả điều tra thực trạng KNTCHĐ dạy của GVMG
3.2.1. Nhận thức của GVMG về sự cần thiết của các KNTCHĐD ở MG
Sau khi tiến hành khảo sát thực trạng nhận thức của GVMG và
CBQL trong các trường MG, MN về sự cần thiết của các KNTCHĐ dạy,
chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 3.1. Nhận thức của GVMG và CBQL về sự cần thiết của các
KNTCHĐ dạy
Stt Nhóm kỹ năng
GVMG CBQL
Σ
X
TB
Σ
X
TB
1 Nhóm kỹ năng nhận thức 5196 4,32 3 1357 4,46 3
2 Nhóm kỹ năng thiết kế 5215 4,34 1 1405 4,68 1
3
Nhóm kỹ năng tổ chức-giao tiếp
8674 4,33 2 2283 4,56 2
4 Nhóm kỹ năng chuyên biệt 4292 4,29 4 1133 4,43 4
X
= 4,32
X
= 4,54
Qua bảng 3.1, tổng hợp ý kiến chung của GVMG và CBQL về mức độ

mà giáo viên đạt được.
* Nhóm kỹ năng nhận thức
- Nhóm KN nhận thức là 1 hệ thống gồm 6 KN thành phần được
GVMG đánh giá ở các mức độ cần thiết theo thứ bậc từ 1 đến 6.
- Ý kiến đánh giá của GVMG và CBQL có tương quan thuận tương
đối chặt với r = 0,71.
- Loại hình công tác (công lập, dân lập, tư thục) hầu như không có
ảnh hưởng đến việc đánh giá sự cần thiết của từng KNTCHĐ dạy của
GVMG trong nhóm KN nhận thức.
- Trình độ đào tạo, thâm niên công tác, danh hiệu giáo viên có ảnh
hưởng lớn đến việc đánh giá sự cần thiết của từng KNTCHĐ dạy của
GVMG trong nhóm KN nhận thức.
* Nhóm kỹ năng thiết kế
- Nhóm KN thiết kế bao gồm 6 KN thành phần xếp thành 1 hệ thống
thứ bậc từ 1 đến 6 tương ứng với số điểm trung bình dao động từ 4,88
xuống 4,24.
- Trong nhóm KN thiết kế, GVMG nhận thức KN số 1 là KN rất cần
thiết với
X
= 4,53 xếp thứ 1 trong nhóm KN thiết kế. Nhận thức này hoàn
toàn giống với nhận thức của CBQL, họ cũng cho rằng KN số 1 là cần
thiết nhất với
X
= 4,88. KN số 6 được GVMG và CBQL cùng đánh giá có
sự cần thiết thấp nhất trong nhóm KN thiết kế, ở thứ bậc số 6 trong nhóm
dù CBQL đánh giá cao hơn GVMG trung bình 0,08 điểm (
X
= 4,32 và
X
= 4,24).

- Nhóm KN tổ chức-giao tiếp bao gồm 10 KN thành phần. GVMG
đánh giá “KN tổ chức hoạt động học của trẻ một cách linh hoạt, sáng tạo
theo yêu cầu đổi mới GDMN (Hoạt động chung cả lớp, theo nhóm, cá
nhân)” là KN cần thiết nhất với
X
= 4,47 ở thứ bậc 1 trong nhóm KNTC-
GT. Tiếp theo “KN sử dụng có hiệu quả các phương tiện dạy học: vật thật,
tranh ảnh, đồ chơi-đồ dùng tự tạo, rối, băng hình vào hoạt động học” cần
thiết thứ 2 trong nhóm. Cuối cùng “KN tuyên truyền kiến thức nuôi dạy trẻ
theo khoa học cho các bậc cha mẹ và cộng đồng”với
X
= 4,20 xếp ở bậc
thứ 10 trong nhóm. Nhìn chung, sự chênh lệch về điểm trung bình của
từng KN là không nhiều. Điều đó chứng tỏ các GVMG nhận thức về sự
cần thiết của các KN thuộc nhóm KNTC-GT khá đồng đều.
- Lý do của việc nhận thức đó là: Đặc điểm tâm lý chung của trẻ MG
là trẻ chưa có khả năng tập trung chú ý cao, khả năng kiềm chế thấp, ưa
thích những điều “mới lạ”, hấp dẫn, sinh động; mặc khác hoạt động chủ
đạo của trẻ mẫu giáo là hoạt động vui chơi, trẻ mẫu giáo “học qua chơi,
chơi mà học”, vì vậy nếu trong quá trình TCHĐ học cho trẻ giáo viên biết
sử dụng thành thạo những KN đó thì hiệu quả đạt được trên trẻ sẽ cao; sẽ
có sự lôi cuốn, thu hút trẻ vào các hoạt động cũng như kích thích được
hứng thú học tập của trẻ.
- GVMG và CBQL chưa có sự thống nhất cao trong việc đánh gia sự
cần thiết của từng KN trong nhóm KNTC-GT. Cụ thể: KN số 2 giữa
15
CBQL và GVMG có sự chênh lệch về thứ bậc cao, trong khi GVMG xếp
KN này ở bậc thứ 2 (
X
= 4,43) thì CBQL xếp thứ 6 (

hợp với nhận xét, đánh giá của CBQL. Ví dụ: theo đánh giá của CBQL ở
trường của họ có 80% GVMG “Vui”và “Rất vui”khi giao tiếp với trẻ; có
87,5% GVMG có quan hệ tốt với trẻ, 90% GVMG quan hệ tốt với lãnh
đạo, 90% GVMG quan hệ tốt với phụ huynh, 90% GVMG có quan hệ tốt
với đồng nghiệp.
- Để kiểm chứng kết quả thái độ này của GVMG, chúng tôi tiến hành
điều tra với câu hỏi số 2, 3, 7, 11 (Phiếu 2, phụ lục 1). Kết quả cho thấy,
các ý kiến hoàn toàn thống nhất với kết quả trên. Cụ thể: Có 96% GVMG
16
rất yêu trẻ và yêu trẻ, có 80,5% GVMG rất hài lòng và hài lòng về công việc
của mình, thậm chí nếu có cơ hội, 62,5% GVMG cũng không đổi nghề.
3.2.3. Thực trạng sử dụng các KN trong việc TCHĐ học có chủ đích của
GVMG:
► Khả năng sử dụng các kỹ năng trong việc xây dựng kế hoạch dạy
học (hoạt động học có chủ đích) của GVMG.
Sự chênh lệch điểm TB giữa các KN mà GVMG sử dụng khi xây
dựng kế hoạch HĐ học có chủ đích cho trẻ MG là không nhiều. Ví dụ:
▪ “KN chú ý đến đặc điểm lứa tuổi của trẻ”được GVMG và CBQL
xếp ở vị trí thứ 1 với
X
= 4,43 (ý kiến của GVMG) và
X
= 4,62 (ý kiến của
CBQL). Tức là họ rất thường xuyên sử dụng kỹ năng này.
▪ “Không hiểu nội dung yêu cầu của chương trình đề ra”xếp ở vị trí
cuối cùng với 109/200 GVMG (54,5%) đánh giá là rất ít khi; 72 GVMG
(36%) đánh giá đôi khi. Điểm TB là
X
= 2,57 (ý kiến của GVMG) và
X

►Kết quả thực hiện các kỹ năng thiết kế và kỹ năng tổ chức hoạt
động học có chủ đích của GVMG qua đánh giá của CBQL.
▪ Trong nhóm KN thiết kế, KN số 1, 3, 4 có 90% GVMG đạt được mức
độ Khá và Tốt, còn lại 10% GVMG đạt loại TB, không có GV xếp loại
Yếu, Kém.
▪ Nhóm các KN tổ chức thực hiện, KN số 1 được đánh giá 100% GV
thực hiện Tốt và Khá.
▪ Ngoài ra có một số KN giáo viên đạt TB cao, cụ thể:
-“KN dự kiến một số tình huống có thể xảy ra, thấy trước những khó
khăn và biết cách phòng tránh”có 36% GV xếp ở mức Trung bình.
-“KN bao quát, phát hiện, xử lý các tình huống kịp thời”có 30% GV
xếp loại TB.
- “KN khuyến khích trẻ thắc mắc, trả lời, nhận xét và bổ sung câu hỏi
của cô giáo và của bạn”có 36% GV xếp loại TB.
● Nguyên nhân dẫn đến kết quả trên là do:
+ Thứ nhất, đa số trình độ GVMG hiện nay còn thấp (99/200 GV
trung cấp), hơn nữa thời gian công tác của họ/ngày rất nhiều, vì vậy họ
không có thời gian để tự học, tự nghiên cứu, tự rèn luyện nâng cao tay
nghề của mình. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến việc nâng cao tay nghề
cho họ.
+ Nguyên nhân thứ 2 là về phía trẻ, có nhiều cháu chưa được học
qua nhà trẻ, thậm chí chưa qua bé và nhỡ; đặc biệt là các trường MG dân
lập xã phường hiện tại chỉ ưu tiên huy động trẻ 5 tuổi ra lớp để chuẩn bị
tâm thế cho trẻ vào học lớp 1. Đây là nguyên nhân dẫn đến trình độ nhận
thức của trẻ không đồng đều, làm ảnh hưởng nhiều đến việc sử dụng thành
thạo các phương pháp dạy học mới, dạy học cá thể
+ Về phía nhà trường, nhiều trường chưa có đầy đủ các trang thiết bị
học tập phù hợp với trẻ, chưa chú ý đến việc phân lớp theo đúng độ tuổi.
Bên cạnh đó, xã hội hiện nay chưa quan tâm đúng mức đến đời sống vật
chất và tinh thần của GVMG (theo nhận xét của GVMG trong câu 3, phiếu

- Trình độ đào tạo, danh hiệu và thâm niên công tác có ảnh hưởng ít
nhiều đến việc nhận thức khi sử dụng các KNTCHĐ dạy của GVMG.
3.3. Kiểm định KNTCHĐ dạy của GVMG thông qua đánh giá một số
chỉ số của tay nghề cao
3.3.1. Chất lượng TCHĐ học có chủ đích cho trẻ MG của GVMG
Theo kết quả điều tra tại câu 4 (phiếu trưng cầu ý kiến 2), trong quá
trình dạy trẻ có 53 GV (26,5%) “Rất thường xuyên”và 128 GV (64%)
“Thường xuyên”hoàn thành chương trình.
Kết quả trên cho thấy, các GVMG đã hoàn thành tốt chương trình
không phải chỉ đơn thuần là làm xong nhiệm vụ được giao mà họ còn là
những người rất yêu nghề, yêu trẻ. Điều này thể hiện trong quá trình
TCHĐ học cho trẻ, GV đã hiểu được năng lực, sở thích, nhu cầu, nguyện
vọng của từng cá nhân trẻ cũng như phụ huynh các cháu. Trong đó,
GVMG hiểu nhất là “Năng lực của từng trẻ”ở thứ bậc 1 với
X
= 4,43
điểm, chỉ có 2,5% GV trả lời đôi khi hiểu năng lực của từng trẻ còn lại
19
đều trả lời hiểu và rất hiểu. Tiếp theo là “Nhu cầu của từng trẻ”được GV
hiểu rõ thứ 2 với
X
= 4,41điểm. Tuy nhiên, “Xu hướng phát triển của
từng trẻ”lại là vấn đề GV hiểu thấp nhất, xếp ở bậc cuối cùng với
X
=
3,73 điểm.
3.3.2. Kết quả tổ chức hoạt động dạy của GVMG
Để tìm hiểu kết quả TCHĐ dạy của GVMG, chúng tôi tiến hành
điều tra qua câu hỏi số 8 và số 11, phiếu trưng cầu ý kiến 2. Kết quả như
sau:

= 4,30 điểm Năng lực giao
tiếp với trẻ được thể hiện ở: có 100% GVMG biết sử dụng nội dung ngôn ngữ
“Phù hợp” và “Rất phù hợp” với nội dung giao tiếp, có 100% GVMG có nét
mặt, cử chỉ, điệu bộ “Phù hợp” và “Rất phù hợp” với nội dung giao tiếp, có
82% GVMG có giọng nói “Diễn cảm” và “Rất diễn cảm”, có 85% GVMG sử
dụng cường độ, tần số lời nói “Bình thường” phù hợp với khả năng tiếp thu
của trẻ
3.3.4. Thái độ, hứng thú của GVMG đối với hoạt động dạy
20
Đa số GVMG có thái độ tích cực, rất hứng thú với hoạt động dạy của
mình ở trường; thể hiện: Có 21,5% GVMG “Rất hài lòng” về nghề nghiệp
của mình, có 59% GVMG “Hài lòng”, có 19,5% GVMG có thái độ “Bình
thường”.
Đáng mừng là không có GV nào cảm thấy “Không hài lòng” hay
“Chán ghét” công việc của mình đang làm. Điều này thể hiện qua việc trả
lời câu hỏi “Nếu bây giờ có cơ hội, chị có đổi nghề không?” thì chỉ có
8,5% (17/200GVMG) trả lời “Có”.
- Sở dĩ, GVMG có thái độ tích cực với công việc của mình là vì:
+ Thứ nhất, đa số GVMG là những người yêu trẻ, có 26,5%
(53/200GVMG) tự đánh giá là “Rất yêu trẻ”, 72% (144/200GVMG) “Yêu
trẻ”, chỉ có 1,5% (03/200GVMG) có thái độ “Bình thường” với trẻ.
+ Thứ hai, phần lớn GVMG đã nhận thức được sự cần thiết, sự
cao quí của nghề mà họ đang gắn bó. Có 80% (160/200GVMG) nhận xét
“Rất đúng” và “Đúng” qua câu nói “Dưới ánh sáng mặt trời, không có
nghề nào cao quí hơn nghề dạy học”. Có 20% (40/200GVMG) trả lời “Có
phần đúng” vì họ cho rằng nghề dạy học là nghề cao quí, song liên hệ bản
thân họ thì GVMN chưa được xã hội coi trọng, chưa có chế độ chính sách
ưu đãi, chưa quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
Tóm lại, qua 4 chỉ số nêu trên đã khẳng định rằng: trong quá trình
TCHĐ dạy, đặc biệt TCHĐ học có chủ đích cho trẻ MG, GVMG đã có các

dạy của GVMG
Hệ thống các biện pháp GVMG đưa ra khá phong phú (17 biện pháp).
Trong đó, theo họ biện pháp hữu hiệu nhất giúp họ rèn luyện và nâng cao tay
nghề là phải “Tạo điều kiện về vật chất và tinh thần cho GVMG được tiếp tục
đi học nâng cao trình độ chuyên môn” và “Quan tâm đến đời sống giáo viên”
(100% ý kiến của GVMG). Tiếp theo là biện pháp “Giảm cường độ làm việc
của GV, nếu không phải có chế độ làm ngoài giờ cho thỏa đáng với công sức
họ bỏ ra” với 51% ý kiến của GVMG. Biện pháp “Tạo điều kiện cho GV
được tiếp cận với phương pháp dạy học tích cực”và “Tạo điều kiện cho GV
được tham gia các lớp bồi dưỡng năng khiếu: âm nhạc, tin học, họa, làm đồ
dùng-đồ chơi, làm và biểu diễn rối ” có 45% ý kiến đề xuất của GVMG.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
1.1. Trong hệ thống Giáo dục quốc dân, GDMN là bậc học đầu tiên
có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn lực con người. Đội
ngũ GVMN, đặc biệt là GVMG là lực lượng cốt cán biến các mục tiêu
giáo dục thành hiện thực. Họ không những có chức năng là nhà giáo – giáo
dục trẻ mà còn là người mẹ, người thầy thuốc, người nghệ sĩ, người bạn
của trẻ mầm non – chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ trẻ, chơi mà học với trẻ.
Với những chức năng đặc thù của nghề GVMN nêu trên, họ cần được hình
thành và hoàn thiện các KN nghề, đặc biệt là KNSP trong TCHĐ dạy trẻ
lứa tuổi mầm non.
Thật cần thiết phải xác định được hệ thống các KNSP và đánh giá
được sự cần thiết của hệ thống các KNSP mầm non gồm 4 nhóm cơ bản
22
như sau: Nhóm kỹ năng nhận thức, nhóm kỹ năng thiết kế, nhóm kỹ năng
tổ chức - giao tiếp, nhóm kỹ năng chuyên biệt.
Mỗi nhóm KN bao gồm nhiều KN khác nhau. Chúng liên quan với
nhau thành một hệ thống, nếu người GVMG trong quá trình học ở trường
SP cũng như làm việc tại các trường MG nhận thức được sự cần thiết của

và GV các bậc học khác.
- Cần có các chương trình mục tiêu riêng cho GDMN như: đầu tư về
CSVC, mua sắm trang thiết bị, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ
Vì có như vậy GVMN nói chung và GVMG nói riêng có thể yên
tâm, nhiệt tình trong công tác chăm sóc-giáo dục trẻ.
2.2. Đối với Cán bộ quản lý trường Mầm non
23
- Khuyến khích GVMG áp dụng các hình thức, phương pháp tổ chức
các hoạt động khác nhau một cách sáng tạo; cho phép GVMG chủ động,
linh hoạt trong việc xác định lựa chọn và tổ chức hoạt động cho trẻ phong
phú phù hợp với nhu cầu và khả năng của trẻ, giúp trẻ hứng thú tìm hiểu
khám phá theo nhiều cách khác nhau.
- Tạo điều kiện về vật chất và tinh thần để GVMG có cơ hội tham gia
các buổi tập huấn chuyên môn, các cuộc tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm
thường xuyên với các GVMG trong và ngoài trường để GVMG mở rộng
vốn tri thức chuyên ngành, để cập nhật tri thức khoa học mới, bồi dưỡng
chuyên môn thường xuyên cho GVMG.
2.3. Đối với giáo viên mẫu giáo
- GVMG phải được đào tạo đúng chuẩn; tự học hỏi trao dồi tri thức
chuyên môn thường xuyên, liên tục để theo kịp sự phát triển của KH-KT nói
chung và khoa học GDMN nói riêng nhằm hoàn thiện và nâng cao tay nghề
của mình.
- Trong quá trình TCHĐ dạy, GVMG cần nắm vững nội dung,
phương pháp đổi mới hiện nay- phương pháp dạy học tích cực nhằm phát
huy tối đa khả năng sáng tạo của trẻ trong từng lĩnh vực sao cho phù hợp
với sở thích và năng khiếu của trẻ
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status