MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Mác và Ăng-ghen khi nghiên cứu lịch sử tiến hoá của xã hội loài
người đã dựa trên quan điểm duy vật khẳng định vai trò của gia đình trong sự
phát triển của xã hội: "Những trật tự xã hội của con người ở một thời đại
lịch sử của một quốc gia do hai yếu tố con người quyết định. Đó là, trình độ
phát triển của lực lượng lao động và trình độ phát triển của gia đình”.[30]
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Rất quan tâm đến gia đình là đúng
và nhiều gia đình cộng lại thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình tốt, gia đình
tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chớnh vỡ muốn xây
dựng chủ nghĩa xã hội phải chú ý hạt nhân cho tốt” [10;22]
Tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình đã được thể hiện trong các nghị
quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Từ đó, các ngành, các cấp, các
đoàn thể và tổ chức xã hội ra sức chăm lo gia đình và tạo cơ hội để gia đình
góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ở bất kỳ thời đại nào gia đình đều giữ vai trò là tế bào của xã hội, là
một trong những nhân tố quyết định sự hưng thịnh của một quốc gia. Trong
những năm qua, cùng với các chủ trương phát triển kinh tế, chính trị, an sinh
xã hội cũng được chú trọng. Vấn đề phụ nữ, giới và bình đẳng giới ngày
càng được quan tâm. Đối tượng là phụ nữ ngày càng được tín nhiệm, đề cử
vào các vị trí quan trọng trong xã hội.Trong mỗi gia đình, người phụ nữ luôn
đóng vai một vai trò quan trọng để tạo lập nên hạnh phúc gia đình. Xã hội đã
phát triển kéo theo sự thay đổi vai trò của người phụ nữ ở xã hội nói chung,
trong gia đình nói riêng, nam nữ được đối xử công bằng, ít còn tư tưởng
“trọng nam khinh nữ” nữa. Bên cạnh đó vẫn còn hiện tượng phụ nữ bị ngược
đãi nhất là trong gia đình. Bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một hiện tượng
xảy ra hầu như ở khắp các nơi trên thế giới và trong mọi nền văn hoá. Bạo
lực gia đình đã tàn phá, hủy hoại sự bình yên của nhiều gia đình, làm băng
GVHD: ThS. Nguyễn Thu Trang SVTH: Vũ Thị Thảo
- 5709149
1
- 5709149
2
nhưng tôi mong muốn sẽ mang đến cái nhìn sâu sắc, sự nhận thức về nghề
nghiệp tương lai của một nhân viên công tác xã hội thông qua mô hình trợ
giúp, can thiệp mang “chất” công tác xã hội. Tôi hi vọng sự phát triển của
đất nước có phần không nhỏ sự trợ giúp, can thiệp của công tác xã hội để các
gia đình Việt Nam ngày càng hạnh phúc, bình yên.
Mặc dù đã rất nỗ lực cố gắng song do thời gian hạn hẹp và khả năng
còn hạn chế nên trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu
sót. Vì vậy tụi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô giáo để khóa
luận được hoàn thiện hơn.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Trước đây, hầu hết các Chính phủ coi bạo lực đối với phụ nữ là vấn đề
riêng tư thì ngày nay nhiều nghiên cứu quốc tế đã cho thấy bạo lực đối với
phụ nữ trong gia đình là hệ thống có tính toàn cầu, tác động trong khoảng
20-50% số phụ nữ trên thế giới.[25]
Bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình đã trở thành một nội dung quan
trọng trong. Tuyên bố hành động của Hội phụ nữ thế giới lần thứ IV tại Bắc
Kinh năm 1995 và trong các văn bản của tổ chức Liên hợp quốc.
Từ ngày 4 – 6/12/2001, tại Phnụmpờnh Campuchia đã diễn ra Hội
nghị về luật pháp phòng chống bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình ở vùng
tiểu Mờkụng, Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam. Hội nghị được tổ chức
và tài trợ bởi một số tổ chức quốc tế lớn như: Diễn đàn Châu Á (Forum Asia)
về quyền con người và phát triển, Diễn đàn Châu Á – Thái Bình Dương về
phụ nữ, Luật pháp và phát triển (APWLD); Quỹ phát triển của Liên hợp
quốc (UNIFEM); Đại sứ quán Hà Lan tại Băng Kốc…
Hội nghị diễn ra với 5 mục tiêu:
- Tăng cường cải thiện về Luật pháp cho sự tiến bộ về quyền con
người của phụ nữ ở các nước Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam.
- Xây dựng những hiểu biết chung về vấn đề bạo lực gia đình và khả năng
viện xã hội học) thực hiện công luận mới bắt đầu thừa nhận nó như một hiện
tượng phổ biến ở tất cả cỏc vựng miền trong nhiều gia đình thuộc tất cả cỏc
nhúm xã hội. Có một số công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề này như:
GVHD: ThS. Nguyễn Thu Trang SVTH: Vũ Thị Thảo
- 5709149
4
* Năm 1997, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiến hành nghiên cứu
bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng số liệu
thứ cấp lấy từ báo chí và các cơ quan khác tại 3 tỉnh Hà Nội, Hà Tây (cũ),
Thái Bình là cơ sở để phân tích. Kết quả nghiên cứu cho thấy bạo lực đối với
phụ nữ trong gia đình là khá phổ biến. Tuy nhiên nghiên cứu này vẫn chưa
cung cấp đầy đủ được một bức tranh toàn diện về bạo lực trên cơ sở giới.
* Năm 1999, Lê Thị Phương Mai đã nghiên cứu về “Bạo lực và hậu
quả đối với sức khoẻ sinh sản: Hiện trạng của Việt Nam”. Nghiên cứu tập
trung vào tìm hiểu các nguyên nhân và các loại bạo lực. Trong báo cáo bao
gồm các trường hợp. Bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình chủ yếu phỏng vấn
phụ nữ đến Tư vấn ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả nhận thấy: Bạo lực đối
với phụ nữ trong gia đình có thể xảy ra ở mọi gia đình và mọi tầng lớp xã hội.
* Bạo lực trên cơ sở giới: trường hợp ở Việt Nam, TS Vũ Mạnh Lợi,
TS Vũ Tuấn Huy, TS Hữu Minh, Jennifer Clenment thực hiện tại cuộc
nghiên cứu thăm dò cởi mở đối với người Việt Nam về thực trạng bạo lực
chống lại phụ nữ ở cỏc xó phường…
* Báo cáo về bạo lực với phụ nữ trong gia đình ở Việt Nam (1999), TS
Lê Thị Quý. Tác giả Lê Thi Quý đã xác định 4 nguyên nhân của bạo lực đối
với phụ nữ trong gia đình là kinh tế, học vấn, thói quen văn hoá - xã hội và
bệnh thần kinh của người có hành vi bạo lực. Đồng thời tác giả còn nêu rõ
hậu quả của nạn bạo lực.
Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu khác liên quan như: Bình
đẳng giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản và chống bạo lực gia
đình(2002) của Hội kế hoạch hoá gia đình Việt Nam; Phụ nữ và bình đẳng
pháp như: công tác xã hội cá nhân, công tác xã hội nhóm, phát triển cộng
đồng. Trong phạm vi của khóa luận chỉ tập trung vào việc nghiên cứu cách
thức vận dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp nạn
nhân là phụ nữ bị bạo lực gia đình.
- Không gian nghiên cứu: Địa bàn xã Ngọc Quan - Đoan Hùng -
Phỳ Thọ.
GVHD: ThS. Nguyễn Thu Trang SVTH: Vũ Thị Thảo
- 5709149
6
- Thời gian nghiên cứu: Từ 15/1/2011 - 1/4/2011
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua sự trợ giúp của công tác xã hội những phụ nữ bị bạo lực gia
đình nói chung và phụ nữ bị bạo lực gia đình tại địa phương tôi nói riêng sẽ
tự giải quyết được vấn đề khó khăn, có niềm tin vào khả năng và sức mạnh
của bản thân, xây dựng hạnh phúc gia đình, ổn định cuộc sống.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống các khái niệm và vấn đề liên quan về bạo lực gia đình.
- Tóm lược thực trạng bạo lực gia đình trên thế giới và Việt Nam hiện nay.
- Khảo sát thực trạng bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình tại xã
Ngọc Quan - Đoan Hùng - Phú Thọ.
- Đánh giá hiệu quả các biện pháp can thiệp, giải quyết và phòng
chống bạo lực gia đình tại địa bàn nghiên cứu.
- Vận dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp
một trường hợp nạn nhân cụ thể là phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Ngọc
Quan - Đoan Hùng - Phú Thọ.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác phòng chống
bạo lực gia đình với phụ nữ và trợ giúp nạn nhân bị bạo lực.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập thông tin và phân tích tài liệu
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Giúp sinh viên công tác xã hội hiểu rõ hơn về thực trạng phụ nữ bị bạo
lực gia đình tại địa phương. Từ đó vận dụng kiến thức đã học trong việc trợ
giúp nạn nhân bị bạo lực. Qua việc trợ giúp cụ thể cho thấy hiệu quả của
GVHD: ThS. Nguyễn Thu Trang SVTH: Vũ Thị Thảo
- 5709149
8
phương pháp Công tác xã hội trong việc trợ giúp nạn nhân bị bạo lực gia đình
đồng thời đề xuất những giải pháp thực tế giúp phòng chống bạo lực gia đình.
7. Kết cấu của khoá luận
Khóa luận có kết cấu ba phần: Mở đầu, Nội dung và Kết Luận. Trong
đó phần Nội dung gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Thực trạng bạo lực gia đình với phụ nữ tại xã Ngọc
Quan - Đoan Hùng - Phú Thọ.
Chương 3: Mô hình vận dụng phương pháp công tác xã hội cá
nhân trong việc trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Ngọc Quan -
Đoan Hùng - Phú Thọ.
GVHD: ThS. Nguyễn Thu Trang SVTH: Vũ Thị Thảo
- 5709149
9
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIấ̃N CỦA Đấ̀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm Bạo lực gia đình và các vấn đề liên quan
1.1.1.1 Khái niệm Bạo lực gia đình
Có nhiều khái niệm khác nhau về bạo lực gia đình. Theo Tổ chức Liên
hợp quốc, khái niệm bạo lực gia đình được hiểu là ‘‘bất kì hành động bạo
lực nào dẫn đến hoặc có thể dẫn đến những tổn thất về thân thể, tâm lí hay
tình dục hay những đau khổ của phụ nữ bao gồm cả sự đe dọa có những
tình trạng phụ thuộc về tài chính;
i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.[19]
1.1.1.2 Các hình thức bạo lực gia đình
* Phân loại theo hình thức:
Theo nghiên cứu của Viện khoa học xã hội, bạo lực gia đình gồm có
các hình thức sau:
- Bạo lực về thể chất: Biểu hiện cụ thể ở các hành vi như đánh đập,
hành hạ nhằm gây thương tích trên cơ thể cho nạn nhân.
- Bạo lực về tinh thần: Biểu hiện cụ thể ở việc bắt nạn nhân sống trong
bầu không khí căng thẳng sợ hãi, khủng bố nạn nhân khiến hoảng loạng tâm
thần như: nhục mạ trước đám đông, dùng lời lẽ chỉ trích quá đáng gõy tổn
thương về cảm xúc, tinh thần.
- Bạo lực về tình dục: Biểu hiện ở việc ép bạn đời quan hệ tình dục
khi không mong muốn, có hành vi cưỡng bức bạn đời và đánh đập sau khi
quan hệ tình dục, cưỡng ép mang thai hoặc nạo phá thai và nhiều hành vi
tương tự khác…
- Bạo lực về kinh tế: Biểu hiện ở việc bao vây kinh tế, kiểm soát tiền
bạc, bắt bạn đời lệ thuộc vào tiền nong, không cho giữ tiền, bắt phải hỏi xin
tiền và chứng minh mọi mua sắm, chi tiêu.
- Bạo lực về xã hội: Biểu hiện ở việc cô lập bạn đời bằng cách cắt đứt
mọi mối quan hệ , giao lưu với xã hội như nhốt trong nhà, không cho giao
GVHD: ThS. Nguyễn Thu Trang SVTH: Vũ Thị Thảo
- 5709149
11
tiếp với bất cứ ai, không cho nghe điện thoại, cắt đứt liên lạc với người nhà,
người thân hay bạn bè.
* Phân chia theo đối tượng:
- Bạo lực vợ - chồng: trong đó người chồng là đối tượng gây ra bạo
lực cho người vợ hoặc ngược lại
- Bạo lực bố mẹ - con cái: trong đó bố mẹ là đối tượng gõy ra bạo lực
thương và bình yên trong gia đình còn người phụ nữ hy vọng rằng
người chồng của họ sẽ thay đổi.
Sau khoảng thời gian êm đẹp, sự căng thẳng bắt đầu dần hình
thành trở lại. Người phụ nữ và những thành viên trong gia đình cảm
thấy boăn khoăn lo lắng bạo lực sẽ diễn ra trở lại. Trong suốt quãng
thời gian này, người phụ nữ thường cố gắng làm người đàn đông nguôi
ngoai và duy trì sự bình thường trong gia đình. Song trạng thái có thể bị
phá vợ bằng những hành động bạo lực tiếp theo. Dạng này thường được
lặp đi lặp lại trừ khi nó bị phá vỡ.
Trong những mối quan hệ bạo lực lâu dài, quãng thời gian trong chu kỳ
ngắn hơn, chính vì vậy có những cặp trải qua toàn bộ chu kỳ trong vòng một
ngày.
1.1.2 Một số lí thuyết liên quan
1.1.2.1 Thuyết hệ thống sinh thái
Lí thuyết hệ thống và sinh thái giúp cho những người thực hành
công tác xã hội phân tích thấu đáo sự tương tác trong các hệ thống xã
hội và hình dung những tương tác này ảnh hưởng ra sao tới hành vi con
người.
Lí thuyết hệ thống sinh thái chỉ ra sự tác động mà các tổ chức, các
chính sách, cộng đồng và nhóm ảnh hưởng lên cá nhân. Mục đích của
công tác xã hội cá nhân là cải thiện mối tương tác giữa thân chủ và hệ
thống.
GVHD: ThS. Nguyễn Thu Trang SVTH: Vũ Thị Thảo
- 5709149
13
Các nghiên cứu chỉ ra rằng mạng lưới xã hội gồm bạn bè, người
thân, láng giềng, bạn đồng nghiệp và cả con vật cưng chiều giúp giảm
thiểu tác động tai hại của những căng thẳng trong cuộc sống. Trái lại,
người thiếu mạng lưới xã hội đáp ứng với những căng thẳng trong cuộc
sống bằng trầm cảm, dùng ma tuý hay uống rượu, có hành vi bạo lực
phù hợp với những thay đổi xảy ra.[5;34]
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng bạo lực gia đình trên thế giới
Bạo lực gia đình đặc biệt là bạo lực đối với phụ nữ ở khắp mọi nơi
trên thế giới với nhiều dạng thức tinh vi không phân biệt dân tộc, màu
da, tầng lớp, lứa tuổi, trình độ văn hoá, địa vị xã hội. Ngay ở những
nước được coi là phát triển và văn minh ở Châu Âu, Châu Mĩ vẫn có
không ít người phải chịu đựng nạn này.
Theo số liệu điều tra năm 2001, hơn 1/2 triệu phụ nữ Mĩ (588.490 phụ
nữ) chết do bạo lực gia đình bởi người chồng của họ.Cú khoảng 85% nạn nhân
của bạo lực gia đình là nữ và chỉ xấp xỉ 15% nạn nhân là nam. Trong năm 2001,
bạo lực gia đình gây tội nghiêm trọng của chồng đối với vợ tăng 20%, số vụ
bạo lực của vợ đối với chồng tăng 3% trong tổng số các vụ nghiêm trọng đối
với đàn ông. Trung bình mỗi ngày có hơn 3 phụ nữ bị giết bởi chồng hoặc bạn
trai của mình.
Ở Pháp điều tra mới đây cho thấy tỉ lệ phụ nữ bị chồng ngược đãi
là 2,5% tức là khoảng 1,5 triệu người. Theo “Liên đoàn đoàn kết phụ nữ
quốc gia Phỏp” nhận định: Chỉ riêng tại Paris , Kinh đô ánh sáng của
văn minh nhân loại có 60 phụ nữ bị chồng hay người tình đánh giết mỗi
năm”. Trên cả nước Pháp có 450 phụ nữ chết do bạo lực thể xác hay bạo
lực tinh thần trong gia đình. Trong tài liệu công bố tại hội nghị Châu Âu
lần thứ nhất về phòng chống thương tích và nâng cao an toàn tại Viên,
Áo từ ngày 25 - 27/6/2000 cũng đưa ra những số liệu đáng quan tâm về
GVHD: ThS. Nguyễn Thu Trang SVTH: Vũ Thị Thảo
- 5709149
15
nạn bạo lực gia đình: bạo lực giữa các đôi lứa chiếm 40%-70%, án mạng
ở phụ nữ, cứ 4 phụ nữ thì có 1 phụ nữ đã từng bị bạo lực tình dục (tỉ lệ
này là 1/20 ở nam) trong cuộc đời, 4%-6% người già sống trong gia đình
đã từng bị đối xử tệ. [20]
Bạo lực tinh thần và kinh tế cũng không kém phần quan trọng so với
bạo lực tình dục và thể xác và thường ảnh hưởng đến phụ nữ nhiều hơn
bạo lực tình dục và thể xác. Tuy nhiên, trong khuôn khổ một cuộc khảo sát
thì khó có thể xác định những loại hình bạo lực này và câu hỏi đặt ra chỉ
bao phủ một số giới hạn các hành vi lạm dụng có thể xảy ra đối với phụ
nữ. Tuy vậy, kết quả chỉ ra rằng tỷ lệ bị bạo lực tinh thần rất cao: 54% phụ
nữ cho biết đã phải chịu bạo lực tinh thần trong đời và 25% cho biết đã bị
bạo lực tinh thần trong 12 tháng qua. Tỷ lệ bị bạo lực về kinh tế trong đời
là 9%. [14,6]
* Bạo lực kết hợp các hình thức thể chất, tình dục và tinh thần do
chồng gây ra
GVHD: ThS. Nguyễn Thu Trang SVTH: Vũ Thị Thảo
- 5709149
17
Tại Việt Nam cũng như nhiều nước khác phụ nữ cho biết bị bạo lực
tỡnh dục cũng cho biết bị bạo lực thể xác. Tỷ lệ bạo lực tình dục hoặc thể
xác hoặc cả hai trong đời và hiện thời trên toàn quốc lần lượt là 34% và 9%.
[15;19]
Hình 1.1 Bạo lực chồng chất trong đời , bạo lực thể xác, bạo lực tình dục
và bạo lực tinh thần do người chồng gây ra đối với phụ nữ đã lập gia đình
ở Việt Nam; 2010 (N = 4561)
[15; 17]
Khi kết hợp ba loại bạo lực chính: thể xác, tình dục và tinh thần do
chồng gây ra đã có hơn nửa phụ nữ (58%) trả lời từng bị ít nhất một trong ba
loại bạo lực này trong cuộc đời. Tỷ lệ này trong 12 tháng qua là 27%. Có sự
liên hệ chặt chẽ giữa ba loại bạo lực và đánh giá sự đan xen chỉ ra rằng luôn
có một phụ nữ vừa bị bạo lực tình dục hoặc thể xác vừa bị lạm dụng tinh thần.
1.2.2.2 Nguyên nhân
GVHD: ThS. Nguyễn Thu Trang SVTH: Vũ Thị Thảo
- 5709149
có hành vi bạo lực đối với vợ và con cái.
- Nhận thức không đầy đủ:
Nhận thức không đầy đủ về bạo lực gia đình và bình đẳng giới khiến
việc tiếp cận với các đối tượng gây và bị bạo lực trong gia đình trở nên khó
khăn. Trong nhiều đề tài nghiên cứu về bạo lực gia đình, đa số những người
được hỏi đều cho rằng chỉ có sự hành hạ về thể xác mới cấu thành hành vi
bạo lực do tính chất nghiêm trọng của nó, còn những hình thức như bạo lực
tinh thần, bạo lực tình dục mặc dù khá phổ biến nhưng ít khi được nhìn nhận
vì đó là ‘‘bạo lực không nhìn thấy được“và cũng khó tìm được chứng cứ rõ
ràng. Điều này xuất phát từ sự thiếu hiểu biết của người dân về luật pháp của
Nhà nước liên quan đến đời sống xã hội và mối quan hệ bình đẳng.
Ngoài ra, nhận thức không đầy đủ còn thể hiện ở quan niệm về hành vi
bạo lực của chính đối tượng và nạn nhân. Quan niệm dùng bạo lực để “dạy vợ
và thể hiện bản lĩnh đàn ông của các ông chồng và sự cam chịu, nhẫn nhịn của
các chị phụ nữ vô tình tiếp tay cho những hành động vũ phu, gây bạo lực.
- Thiờ́u trách nhiệm của cộng đồng
GVHD: ThS. Nguyễn Thu Trang SVTH: Vũ Thị Thảo
- 5709149
19
Một trong những nguyên nhân khiến cho bạo lực gia đình vẫn tiếp
diễn là sự thiếu trách nhiệm của cộng đồng. Từ trước tới nay, mọi người vẫn
có quan niệm “đốn nhà ai nhà ấy rạng”, chuyện chồng đánh vợ chỉ là chuyện
bình thường trong lúc nóng giận, hay đơn giản là họ đang “dạy vợ”, người
ngoài không nên can thiệp. Tai hại hơn họ sợ đụng chạm, sợ bị liên luỵ, sợ
rây vào rồi “khụng phải đầu cũng phải tai”…
Hơn nữa, các cơ quan chức năng ở địa phương, các hội đoàn thể chưa
quan tâm thấu đáo. Thực tế ở nhiều nơi chỉ khi xảy ra sự cố, người bị hại
phải đi cấp cứu hoặc điều trị tại các trung tâm y tế thì các cơ quan chức năng,
các hội đoàn thể mới vào cuộc. Hay có những trường hợp các cơ quan chức
năng biết được một số vụ việc về bạo lực gia đình lại xem đó là chuyện đằng
lực gia đình là người vợ bị tàn tật, ốm đau, thậm chí có trường hợp tử vong.
Đối với hình thức bạo hành tinh thần bao gồm chửi bới, lăng mạ, xỉ
nhục, gây ức chế…dự không để lại vết thương trên cơ thể, nhưng lại làm cho
người phụ nữ tê liệt về tinh thần, bị trầm cảm kéo dài, tổn hại nghiờm trọng
đến thần kinh và thể xác.
- Ảnh hướng tới các mối quan hệ gia đình
Bạo lực gia đình là một trong những nguyên nhân lớn dẫn đến tan vỡ
gia đình. Theo thống kê chưa đầy đủ, ở Mỹ, cứ 100 vụ ly hôn thì có trên 90%
là nguyên nhân do bạo hành, tỷ lệ này ở Thái Lan là 76%, Hà Nội là 51%,
TP. Hồ Chí Minh là 56%. [25]
Một lần nữa, người phụ nữ lại chịu hậu quả nhiều nhất sau khi ly hôn
khi không chỉ bị thiệt thòi về mặt kinh tế mà còn bị thiệt thòi về mặt tinh
thần, chịu nhiều áp lực của dư liệu xã hội.
- Hậu quả xấu tới trẻ em
Nói tới nạn nhân của bạo lực gia đình đối với phụ nữ, người ta không
thể không kể đến ảnh hưởng của nó tới trẻ em. Trẻ em là đối tượng yếu đuối
và dễ tổn thương nhất trong gia đình. Những đứa trẻ trong gia đình thường
GVHD: ThS. Nguyễn Thu Trang SVTH: Vũ Thị Thảo
- 5709149
21
xuyên có cảnh bạo lực sẽ có những biểu hiện rỗi nhiễu tâm lý, trầm cảm, sợ
hãi, mất ngủ, thiếu tự tin và thất vọng.
Cũng theo số liệu của Ủy ban dân số, gia đình và trẻ em (trước kia),
80% trẻ em bỏ nhà đi lang thang hoặc phạm pháp là do thường xuyên phải
chứng kiến cảnh mâu thuẫn, bạo lực trong gia đình. Các em khi bỏ nhà đi sẽ
phải chịu nhiều thiệt thòi như bị bóc lột sức lao động, bị xua đuổi, không có
chỗ ở ổn định, có thể bị lạm dụng tình dục, sử dụng ma túy và phạm pháp.
- Hậu quả đối với cộng đồng
Chi phí cho các dịch vụ hỗ trợ của y tế, luật pháp, công an, tòa án và
xã hội, kể các các dịch vụ bảo vệ trẻ em và xử phạt những kẻ phạm tội là rất
làng bằng thụn.Ngọc Quan nằm trong liên xã Tây Sơn gồm các xã Tây Quan,
Ngọc Lũ, Tây Cục, Ca Đình, Yên Kiện.Thỏng 8/1964 xã Tây Sơn được đổi
thành xã Ngọc Quan cho tới nay. Ngày 26/11/1968 Uỷ ban thường vụ Quốc
hội quyết định sát nhập hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú,
xã Ngọc Quan thuộc huyện Đoan Hùng, tỉnh Vĩnh Phú. Tháng 7/1977, hội
đồng chính phủ quyết định hợp nhất hai huyện Đoan Hùng và Thanh Ba và
24 xã tả ngạn sông Hồng của huyện Hạ Hoà và 7 xã của huyện Phù Ninh
thành huyện Sông Lô, xã Ngọc Quan thuộc huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh
Phỳ.Ngày 22/12/1980 huyện Sông Lô giải thể, huyện Đoan Hùng tái lập gốm
23 xã cũ và thêm 4 xã của huyện Phù Ninh, xã Ngọc Quan nằm trong địa
phận huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Tháng 1/ 1997, tỉnh Vĩnh Phú giải
thể, tỉnh Phú Thọ tái lập, xã Ngọc Quan là 1 trong 27 xã của huyện Đoan
Hùng, tỉnh Phú Thọ.
GVHD: ThS. Nguyễn Thu Trang SVTH: Vũ Thị Thảo
- 5709149
23
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
Ngọc Quan có địa hình tương đối phức tạp, nhiều đồi núi cao,
địa hình thấp dần từ Tây sang Đụng.Cú dải núi Đẫu, núi Mản, núi Ninh, nỳi
Tớch xen giữa đồi núi là những cánh đồng với diện tích nhỏ.
- Phía Đông giáp thị trấn Đoan Hùng.
- Phía Tây giỏp xó Tõy Cốc và xã Ca Đình.
- Phía Nam giỏp xó Yờn Kiện.
- Phía Bắc giỏp xó Phong Phú.
Là xã miền núi nhưng rất thuận tiện về giao thông, địa bàn xó cú quốc
lộ 70 đi qua với chiều dài 4,5km đi Yờn Bỏi, Lào Cai và các tỉnh phía Tây
của Tổ Quốc nối với quốc lộ 2 xuôi Hà Nội, ngược Tuyờn Quang.Xó cú hơn
20 km đường liên xã, liờn thụn. Đõy chớnh là điều kiện thuận lợi cho việc đi
lại, quan hệ giao lưu phát triển kinh tế của nhân dân. Đặc biệt trên địa bàn xó
cú cỏc cơ quan, đơn vị đúng trờn địa bàn như: Xưởng X78, hạt I giao thông,
2.2 Thực trạng bạo lực gia đình với phụ nữ tại địa phương
2.2.1 Tình hình bạo lực gia đình với phụ nữ tại địa phương
* Số lượng các vụ bạo lực gia đình tăng, giảm phức tạp qua các năm
Những năm gần đây, dù đã có sự quan tâm của chính quyền địa
phương trong công tác tuyên truyền, vận động phòng, chống bạo lực gia đình
nhưng thực trạng đó vẫn diễn biến phức tạp, để lại hậu quả nghiêm trọng cho
gia đình và xã hội. Bạo lực gia đình không chỉ xảy ra công khai mà còn tồn
tại âm thầm trong nhiều gia đình gây tổn hại nặng nề về tinh thần, thể chất,
thậm chí gây nên những cái chết thương tâm cho nhiều phụ nữ.
Trên địa bàn xã Ngọc Quan, tình hình bạo lực gia đình trong những
năm trở lại đây có sự diễn biến phức tạp, số lượng các vụ bạo lực gia đình có
sự tăng, giảm không ổn định qua các năm. Trong vòng ba năm trở lại đây
(2008 – 2010) thực trạng bạo lực gia đình nhìn chung có sự giảm dần về số
lượng các vụ bạo lực tuy nhiên sự giảm đó không được ổn định giữa các năm
và giữa các thời kì trong một năm.
GVHD: ThS. Nguyễn Thu Trang SVTH: Vũ Thị Thảo
- 5709149
25