Vấn đề sinh con thứ 3+ trở lên, thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và đề xuất các giải pháp - Pdf 26

Líp Bồi dưỡng kiến thức DS-KHHGĐ Trường Đại Học Kinh tế Quốc dân
LỜI NÓI ĐẦU
Dân số là một trong những những yếu tố quyết định hành đầu cho sự phát triển
bền vững của đất nước. Hiện nay vấn đề dân số đang là mối mối quan tâm của nhiều
Quốc gia trên Thế giới và thực tế đang trở thành vấn đề có tính toàn cầu, sự gia tăng
dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân tạo ra sức Ðp cho sự phát triển
nền kinh tế xã xã hội, kìm hãm sự phát triển của đất nước.
Công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình luôn được đảng và nhà nước quan
tâm, coi đó là một trong nhiêm vụ quan trọng của chiến lược phát triển đất nước. Do
vậy Đảng và nhà nước ta đã sớm có chủ trương chính sách liên quan đến công tác
dân số từ năm 1961 trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ tổ quốc đến nay các chủ
chương chính sách ngày càng được bổ xung và hoàn thiện hơn.
Đảng ta đã khảng định tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khoá VII) "
Công tác dân số – Kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận quan trong của chiến lược
phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế xã hội hàng đầu của đất nước
ta là yếu tố cơ bản, để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng từng gia đình và của
toàn xã hội. Sù gia tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân quan
trọng cản trở tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện
đời sống, hạn chế điều kiện phát triển về mặt trí tuệ, văn hoá và thể lực giống nòi.
Nếu xu hướng này cứ tiếp tục diễn ra thì trong tương lai không xa đất nước ta sẽ
đứng trước những khó khăn rất lớn, thẩm chí nguy cơ về nhiều mặt ".
Bước vào những năm đầu thế kỷ 21 Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt chiến
lược dân số Việt nam giai đoạn 2001 – 2010 với mục tiêu là “ Thực hiện gia đình Ýt
con và khoẻ mạnh, tiến tới ổn định Quy mô dân số ở mức hợp lý để có cuộc sôngs
Êm no hạnh phúc” và cụ thể là “ Duy trì su thế giảm sinh một cách vững chắc để đạt
mức sinhthay thế bình quân trong toan quốc nhất vào năm 2005, ở vóng sâu vùng xa
vùng nghèo chậm nhất vào năm 2010”
Hiện nay mục tiêu đã và đang được cả nước phấn đấu và thực hiện đã đạt được
một số kết quả nhất định. Kết quả giảm sinh chưa thực sự vững chắc song thực tế
hiện nay tỷ lệ sinh con thứ 3
+

Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô, đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành bài
khoá luận này. Mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong việc thu thập số liệu, hoàn chỉnh
khoá luận nhưng chắc chắn vẫn còn sai sót nhiều. Rất mong nhận được sự đóng góp
chỉ bảo của các thầy, các cô và đồng nghiệp.
Em xin trân trọng cảm ơn!

Khoá luận cuối khoá K15 Hoàng Công Mú
Líp Bồi dưỡng kiến thức DS-KHHGĐ Trường Đại Học Kinh tế Quốc dân
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
“ Công tác Dân số kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến
lược phát triển đất nước, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng
từng gia đình và của toàn xã hội”
Chiến lược dân số việt nam giai đoạn 2001 – 2010
Trong thời gian qua từ năm 1961 Chính phủ việt nam đã ban hành quyết định
216/CP về việc sinh đẻ có kế hoạch hướng dẫn, tiếp theo là nhiều Chỉ thị, Nghị định
được ban hành và đặc biệt là nghị quyết số 4 của Ban Chấp hành Trung ương đảng
khoá VII về chính sách Dân số – Kế hoạch hoá gia đình điều đó đã khảng định quyết
tâm của đảng, nhà nước ta trong việc thực hiện công tác Dân sè - KÕ hoạch hoá gia
đình, tiên tới ổn định quy mô dân số.
Sau gần 10 năm thực hiện chính sách dân số đã đi vào cuộc sống và đã đạt được
nhiều thành tựu đó là: Quy mô gia đình có 1 hoặc con đã được chấp nhận ngày cằng
rộng rãi, nhịp độ gia tang dân số nhanh đã được khống chế, số con trung bình của một
phụ nữ từ 3,9 con vào năm 1992 xuống còn 2,07 con vào năm 2007. Những kết quả
trên đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu nhập đầu
người hàng năm, xoá đói giảm nghèo và tăng mức sống của nhân dân, cuộc sống văn
hoá tinh thần được cải thiện.
ơ
Từ năm 2001 đến năm 2004 tỷ lệ phát triển dân số cao hơn đặc biệt là tình hình
sinh con thức 3

so với cùng kỳ.
Từ thực tế nêu trên cho chóng ta thấy tỷ lệ sinh con thứ 3
+
trở lên cao là một
trong nhng yếu tố làm tăng dân số ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của nhân dân, tình
trạng thiếu văn hoá, tỷ lệ hộ nghèo cao, cơ sở vật chất trường học thiếu thốn, trạm y
tế quả tải về giường bệnh, trẻ em suy dinh dưỡng, mất cân bằng giới tính khi sinh, vệ
sinh môi trường bị ô nhiễm, tệ nạn xã hội mại dâm, ma tuý, cờ bạc, số đề…….gia
tămg đang là vấn đề đặt ra cho tất cả chúng ta và đặc biệt là cấp Uỷ đảng, Chính
quyền địa phương .
Về vấn đề sinh con thứ 3
+
trở lên là hết sức cần thiết chính vì vậy tôi chọn đề tài
này làm khoá luận cho chương trình học tập tại địa phương.
2. Mục tiêu: Tìm ra những nguyên nhân dẫn tới tình hình sinh con thứ 3
+
trở lên
tăng cao, hậu quả của vấn đề sinh con thức 3
+
.
Từ đó đưa ra những giải pháp can thiệp hữu hiệu, phù hợp hất với tình hình thực
tế tại địa phương, nhằm kiểm soát được tỷ xuất sinh và hạn chế được tình hình sinh
con thứ 3
+
trở lên tăng cao trên địa bàn huyện Bắc Sơn.
3. Kết cấu : Khoá luận gồm 3 phần:
Khoá luận cuối khoá K15 Hoàng Công Mú
Líp Bồi dưỡng kiến thức DS-KHHGĐ Trường Đại Học Kinh tế Quốc dân
- Phần mở đầu.
- Phần nội dung.

/ người, với mức thu nhập đầu
người là 6.651000
đồng
/người/năm. Đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, sè hé
nghèo 245 hé của huyện chiếm tỷ lệ 17.67%. ( So với tiêu chí nghèo cũ năm 2005)
3. Đặc điểm vÒ giáo dục:
Khoá luận cuối khoá K15 Hoàng Công Mú
Líp Bồi dưỡng kiến thức DS-KHHGĐ Trường Đại Học Kinh tế Quốc dân
Toàn Huyện có 2 trường Trung học Phổ thông, 20 trường Trung Học cơ sở, 19
trường Tiểu học, 5 trường Mần non, nền giáo dục đang trên đà phát triển cả về chất
lượng, lẫn số lượng thu hót học sinh. Hàng năm tỷ lệ trẻ em vào líp 1 đạt 100%, tỷ lệ
trẻ em tèt nghiệp đạt 98,5%, đã phổ cập Trung học cở sở vào năm 2005, hiện nay đã
có 3 trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia, 3 trường Trung học cơ sở đạt chuẩn quốc
gia, chất lượng dạy và học từ bặc học mầm non đến phổ thông Trung học được nâng
cao, tỷ lệ các em học sinh thi đậu vào các trường đại học và cao đẳng hành năm từ 10
– 15% cơ sở vật chất trường líp, đồ dùng thiết bị dạy và học dược đầu tư mua
sắm đáp ứng yêu cầu hiện nay.
Tuy nhiên các cơ sở hạ tầng, trang thiết bị đều được đầu tư và nâng cấp song
bàn ghế chưa được đạt chuẩn, nhất là những líp nhá tuổi, líp ghép, các tiêu chuẩn
điều kiện, quy định của một líp học chưa được đảm bảo, điều này ảnh hưởng đến tư
thế và thể lực của trẻ, cơ sở vật chất phục vụ cho vui chơi giải trí còn nhiều hạn chế,
huyện chưa có khu vui chơi giải trí cho trẻ em nào cả.
4. Đặc điểm vÒ lĩnh vực y tế:
Toàn huyện có 01 Trung tâm y tế huyện, hiện nay đang xây dựng mới thêm 2
khu nhà 4 tầng đó là khu hành chính, khu tiếp nhận bệnh nhân và khoa dược, còn lại
nâng cấp thêm khu nhà cũ làm khu điều trị cho bệnh nhân, hiện nay huyện Bắc Sơn
Trung tâm y tế dự phòng chưa được tách riêng vẫn hoạt động lồng gép với bệnh
viện , có 03 phòng khám đa khoa khu vực, 20 trạm y tế xã, thị trấn, đội ngò cán bộ
được đào tạo chuyên sâu, có tâm huyết nghề nghiệp và trách nhiệm cao, thiết bị y tế
được mua sắm đầu tư tương đối đầy đủ với cấp huyện, đối với trạm y xã 17/20 xã có

TRỞ LÊN
A. Thực trạng công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình huyện Bắc Sơn:
Ngay từ khi thành lập Trung tâm Dân số – Kế hoạch hoá gia đình là đơn vị sự
nghiệp của ngành y tế trược thuộc Chi cục Dân số – Kế hoạch hoá gia đình tỉnh.
Về cơ cấu: Có 2 ban.
- Ban hành chình tổng hợp.
- Ban truyền thông giáo dục sức khoẻ.
Có 01 giám đốc, 01 phó giám đốc và 3 chuyên viên, năm 2009 tỉnh giao 10 biên
chế cho mét trung tâm nhưng hiện nay chỉ mới có 5 cán bộ.
Về mạng lưới cở có 20 cán bộ chuyên trách, 224 cộng tác viên dân số, 17/20
được lồng gép công tác viên Dan số vào y tế thôn bản, trình độ học vấn không đồng
đều , lực lượng này chưa được đào tạo về trường líp nào về kiến thức dân số, chỉ
được trang bị rất Ýt về kiến thức dân số- Kế hoạch hoá gia đình qua khi tuyển dụng
vào làm chuyên trách, nhưng yêu cầu của công việc đòi hỏi khá cao phải làm và theo
Khoá luận cuối khoá K15 Hoàng Công Mú
Líp Bồi dưỡng kiến thức DS-KHHGĐ Trường Đại Học Kinh tế Quốc dân
dõi , thu thập thông tin đầy đủ về để cập nhập sổ hộ gia đình, yêu cầu cập nhập phải
chính xác số chuyển đi, chuyển đến, kết hôn, ly hôn, số sinh số chết, báo cáo hàng
tháng báo cáo quý. Đặc biệt là công tác tuyên truyền vận động cho các đối tượng.
Trong những năm qua thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước từ
Trung ương đến địa phương. Huyện Bắc Sơn đã triển khai các Chỉ thị, Nghị
quyết…… liên quan đến công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình đã có nhiều cố
gắng trong công tác tham mưu cho Uỷ ban nhân dân Huyện và sự phối kết hợp với
các cơ quan,ban, ngành
và các đoàn thể, tuyên truyền lồng ghép chương trình Dân số – Kế hoạch hoá gia
đình vào tổ chức như Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp Phụ nữ, Hội nông dân, Tư pháp,
Giáo dục……. Nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ sinh sản, cho các bà
mẹ, chăm sóc sức khoẻ sinh sản vị thành niên và thành niên tại các trường học, hoạt
động tín dụng vào các hội phụ nữ, hội nông dân…., chú trọng đến công tác dịch vụ kế
hoạch hoá gia đình, đặc biệt là đa dạng hoá các phương tiện tránh thai đảm bảo tính

2006
Năm
2007
Năm
2008
1 Dân sè Người 65.096 65.482 66.164 66.576
2 Tổng sè sinh Người 658 839 954 878
3 Tỷ xuất sinh thô %0 10,1 12,8 14,4 13,2
4 Số chết Người 246 269 321 330
5 Tỷ xuất chết thô %0 3,8 4,1 4,8 4,9
4 Sè sinh con thư 3
+
Người 41 58 36 39
5 Tỷ lệ sinh con thứ 3
+
% 6,2 6,9 3,8 4,44
(Nguồn số liệu báo trung tâm DS-KHHGĐ, cơ quan Thống kê huyện)
Tuy nhiên thực tế cho thấy từ năm 2005 tỷ lệ sinh con thứ 3 của huyện tăng nhanh
tập chung chủ yếu vào những gia đình có thu nhập cao, thậm chí có những gia đình
có đủ cả gái, cả trai nhưng họ vẫn để thêm vì vẫn có tư tưởng “trời sinh voi, trời sinh
cỏ”
Căn cứ vào bảng số liệu trên cho ta thấy tỷ xuất sinh thô hành năm có giảm
Năn 2005 là: 10,1 %0
Năm 2006 là:12,8 %0
Năm 2007 là:14,4 %0
Năm 2008 là:13,2%0
Nhìn vào những kết quả trên cho chóng ta thấy số sinh hành năm không cao
lắm, nhng không đồng đều tỷ xuất sinh thô vào năm 2005 giảm nhng đến năm 2006
tăng dần 12,8 %0 , đến năm 2007 là 14,4% năm 2008 giảm 13,2%0 không đngs kể,
thực tế mức sinh không bền vững nguy cơ sẽ tăng trở lại. Nếu tỷ lệ sinh con thứ 3

dân số và các chính sách, quy định không còn phù hợp với tiêu chuẩn mỗi cặp vợ
chồng chỉ có 1 đến 2 con; Hệ thống tổ chức làm công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia
đình thiếu tính ổn địn, tạo nên nhận thức không đúng của cả cán bộ và nhân viên và
nhân dân về về chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác Dân số – Kế hoạch
hoá gia đình.
Hiện nay tổ chưcs bộ máy mới được củng cố, nhưng vẫn chưa ổn định; nguồn lực
đầu tư chưa đáp ứng yêu cầu, cơ chế quản lý kinh phí chưa phù hợp với tính chất đặc
thù của công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình.
• Nguyên nhân thứ 2:
Bắc Sơn là một huyện vùng cao nền kinh tế nông nghiệp; Tâm lý, tập quán của
người dân trong xã hội nông nghiệp, chịu ảnh hưởng sâu rộng của tư tưởng phong
Khoá luận cuối khoá K15 Hoàng Công Mú
Líp Bồi dưỡng kiến thức DS-KHHGĐ Trường Đại Học Kinh tế Quốc dân
kiến về việc sinh con, muốn có đông con và phải có con trai nỗi dõi tông đường còn
rất nặng nề. Cho nên có gia đình đã có cả trai lẫn gái họ vẫn sinh thên con thứ 3, thẩm
chí con thứ 4, thứ 5.
• Nguyên nhân thứ 3:
Tư tưởng trọng nam hơn nữ tại đại phương vẫn còn rất nặng nề đã ăn sâu vào
trong tiềm thức của mỗi người dân, mỗi gia đình và mỗi dòng họ, điều thể hiện rất rõ
trong các tiệc cỗ, tiệc cưới hỏi dựng vợ gả chồng, tổ chức họp dòng họ vào những
ngày cuối năm. những người không có con trai phải ngồi khác mâm hoặc mâm dưới,
chỉ những người có con trai mới được coi là người trong dòng họ, người để nỗi dõi
tông đường.
Chính vì điều này là mét trong những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng không nhỏ tới việc
sinh thêm con trai, mặc dù có thể đó là con thứ 3, thứ 4 thẩm chí cả đứa thứ mấy đi
chăng nữa….
• Nguyên nhân thứ 4:
Khi pháp lệnh dân số ra đời năm 2003 tại điều 10 mỗi cặp vợ chồng cá nhân có
quyền “ Quyết định về thời gian sinh con, sè con và khoảng cách các lần sinh, phù
hợp với lứa tuổi tình trạng sức khoẻ, điều kiện học tập lao động công tác, thu nhập và

• Nguyên nhân thứ 5:
Đây là một trong những nguyên nhân hết sức quan trọng không thể thiếu đó là:
Đội ngò Cán bộ chuyên trách và cộng tác viên làm công tác dân số – Kế hoạch hoá
gia đình từ xã đến thôn bản, trình độ văn hoá thấp .Trình độ văn hoá của đội ngò
chuyên trách không đồng đều, đối tượng học hết Trunh học phổ thông cơ cấu vào để
có chê cơ hội chuyển sang công chức xã làm công tác khác có việc làm và có thu
nhập ổn định, có trường hợp chỉ học hết líp 5 không qua đào đạo trường líp gì nhưng
lại nhiệt tình, năng lực chuyên môn lại yếu, do vậy không đáp ứng được chức năng
tham mưu cho lãnh đạo về công tác quản lý và phân loại đối tượng, chính vì vậy việc
tuyên truyền vận động, truyÒn thông thay đổi hành vi đạt hiệu quả không cao.
Trong khi đó chi phí thù lao cho chuyên trách và cộng tác viên thông bản là
quá thấp, yêu cầu công việc đòi hỏi lại khá cao. Phải theo dõi cụ thể, cập nhập thông
tin hàng ngày, hàng tháng, hàng quí đầy đủ và phải thật chính xác, biểu mẫu báo cáo
thì nhiều và nhiều chi tiết tỷ mỷ đòi hỏi phải chính xác. Hiện nay mặc dù thông tư 05
đã ra đời, sớm và đưa đội ngò này trở thành cán bộ viên chức của trạm y tế, nhng
đến nay vẫn chưa thực hiện. Thù lao cho cộng tác viên không được tăng.
Khoá luận cuối khoá K15 Hoàng Công Mú
Líp Bồi dưỡng kiến thức DS-KHHGĐ Trường Đại Học Kinh tế Quốc dân
Chính những bất cập đó đã làm cho đội ngò chuyên trách, cộng tác viên thiếu
nhiệt tình, chán nản, hiệu quả công việc không cao.
• Nguyên nhân thứ 6:
Sự phối kết hợp giữa cơ quan Dân số- Kế hoạch hoá gia đình với các cơ quan ban,
ngành, đoàn thể chưa đồng bé, thiếu chặt chẽ và chưa toàn diện, đặc biệt đối với một
số, cấp Uỷ đảng, Chính quyền địa phương chưa quan tâm còn cho rằng công tác Dân
sè – Kế hoạch hoá gia đình là riêng cho ngành dân sè, chưa tạo tạo điều kiện cho cán
bộ dân số xã công tác.
• Nguyên nhân thứ 7:
Kinh phí đầu tư cho công tác Dân sè - Kế hoạch hoá gia đình con hạn hẹp, chủ
yếu do Trung ương cấp, huy động các nguồn lực khác từ địa phương hầu như chưa
có.

nẩy sinh ý định sinh con thứ 3 trong nhân dân ngày càng rộng, đặc biệt là các cặp vợ
chồng sinh con một bề.
- Sinh con thứ 3 ảnh hưởng đến sự gia tăng dân số của huyện như: Mức sinh
tăng, tỷ lệ phát triển dân số tăng, gây khó khăn trong việc thực hiện các chương trình
mục tiêu dân số, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
- Sinh con thứ 3 cao ảnh hưởng đến tất cả các vấn đề xã hội nh: Giáo dục, y tế,
tài nguyên và môi trường, việc làm chiến lược dân sè - kế hoạch hoá gia đình
1999-2000 có đề cập " Gia tăng dân số quá nhanh là nguyên nhân làm cho đất canh
tác ngày càng thu hẹp, rừng bị tàn phá nghiêm trọng, nguồn nước ngày càng bị ô
nhiễm và khan hiếm, thiên tai hạn hán thường xuyên xẩy ra, nạm thất nghiệp, thất
học, thiếu chăm sóc y tế, suy dinh dưỡng, tệ nạn xã hội gia tăng, hạn chế điều kiện
phát triển trí tuệ, văn hoá, thể lực, giống nòi, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội".
C. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM GIẢM TỶ LỆ SINH CON THỨ 3
+
TRỞ LÊN Ở ĐỊA PHƯƠNG.
Để tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết 47-NQ/TW, Bộ chính trị, và của uỷ
ban nhân dân tỉnh về “ Tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa về chính sách Dân số – Kế hoạch
hoá gia đình giai đoạn 2005-2010” yêu các các cấp uỷ đảng chính quyền, các ban,
ngành, đoàn thể tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp mà Nghị quyết 47 đã đề
ra.
Từ những thự trạng nguyên nhân, hậu quả về việc sinh con thứ 3
+
trở lên trong
những năm gần đây, việc giảm tỷ lệ này hiện nay đang là một vấn đề hêt sức quan
trọng và cần thiết, bởi nó góp phần rất lớn vào việc nâng cao chất lượng dân số, phù
hợp với phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
Khoá luận cuối khoá K15 Hoàng Công Mú
Líp Bồi dưỡng kiến thức DS-KHHGĐ Trường Đại Học Kinh tế Quốc dân
Để đạt được mục tiêu giảm sinh con thứ 3
+

lao
động đào tạo nghề …. phát triển dịch vụ xã hội thích ứng với giai đoạn cơ cấu của địa
phương hiện nay và trong giai đoạn tới.

1. Nâng cao hiệu quả công tác truyền thông giáo dục chuyển đổi hành vi.
Duy trì ban dân số – Kế hoạch hoá gia đình phối hợp liên ngành. Tăng cường
tuyên truyền giáo dục, hướng dẫn thực hiện tốt chính sách dân sè.
Khoá luận cuối khoá K15 Hoàng Công Mú
Líp Bồi dưỡng kiến thức DS-KHHGĐ Trường Đại Học Kinh tế Quốc dân
Tuyên truyền rông rãi Pháp lệnh dân số đặc biệt chú ý điều 10 pháp lệnh đã
được sửa đổi, tuyền truyền các Chỉ thị, Nghị quyết ……các kiên thức dân số và phát
triển, thường xuyên phổ biến các thông tin về công tác dân số – Kế hoạch hoá gia
đình bằng nhiều hình nội dung đa dạng và phong phú trên các phương tiện truyền
thanh, truyền hình của huyện, của các xã thị trấn, thường xuyên cải tiến nội dung, lẫn
hình thức, phương pháp truyền thông phải phù hợp với đặc điểm của từng địa phương
và từng dân téc, từng nhóm đối tượng tập chung vào các địa bàn trọng điểm. Sản
phẩn truyền thông nội dung phải ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ để mọi người dân đều
được trang bị những kiến thức, về sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, quan hệ
tình dục an toàn, giảm mắc các bệnh lây truyền qua đường sinh sản, kiến thức về kế
hoạch hoá gia đình với phát triển kinh tế gia đình, dân số ảnh hưởng đến phát tiển
kinh tế gia đình và xã hội.
Trang bị kiến thức cho đội ngò chuyên trách, cộng tác viên dân số – Kế hoạch
hoá gia đình nâng cao hiệu quả các biện pháp truyền thông, vận động trực tiếp đến
từng đối tượng.
Trong công tác Dân số – Ké hoạch hoá gia đình, vấn đề xây dựng mô hình là
rất quan trọng, nhưng để đạt được hiệu quả của mô hình là vấn đề đóng vai trò quyết
định phải xây dựng mô hình truyền thông cho phù hợp đồng thời duy trì có hiệu quả
để các hôi viên giúp nhau làm kinh tế cụ thể như:
- Phối hợp với Hội phụ nữ thành lập mô hình câu lạc bé“ Phụ nữ không sinh
con thứ 3

gia đình:
Đối với ngành y tế cần nâng cao chất lượng dịch vụ kế hoạch hoá gia đìnhđưa
dịch vị chăm sóc sức khoẻ sinh sản đến tận người dân, kịp thời giải quyết những khó
khăn, đảm bảo đầy đủ, kịp thời, đa dạng các biện pháp tránh thai theo yêu cầu của các
đối tượng, giám sát đôi tượng thực hiện vỡ kế hoạch , đối tượng sinh con một bề
nhằm nâng cao số đối tượng sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại.
Tổ chức tốt hệ thống mạng lưới cung ứng các biện pháp tránh thai cho mọi đối
tượng thực hiện kế hoạch hoá gia đình trên các kênh Y tế- Dân số tăng các dịch vụ
tiếp thị xã hội, , nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp cho đội ngò cán bộ cung cấp
dịch vô, hàng năm đầu tư cho mua sắm trang thiết bị thay cũ không đảm bảo chất
lượng, nâng cấp cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho người dân tiếp nhận. dịch vụ tránh
thai thuận tiện, đảm bảo an toàn chất lượng không gây phiền hà.
Tăng cường quản lý theo dõi những đối tượng đã thực hiện, bá cuộc, biện pháp
khác hoặc chưa thực hiện các biện pháp tránh thai, được thể hiện trên sổ hộ gia đình,
Khoá luận cuối khoá K15 Hoàng Công Mú
Líp Bồi dưỡng kiến thức DS-KHHGĐ Trường Đại Học Kinh tế Quốc dân
báo cáo hàng tháng, hàng quý. Hàng năm tổ chức triển khai chiến dịch 12 lần/năm
cho 20 xã, thị trấn.
4. Kiện toàn và nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngò làm công tác
Dân số – Kế hoạch hoá gia đình:
Đối với Trung tâm Dân số – Kế hoạch hoá gia đình huyện 100% cán bộ được
đào tạo qua líp bồi dưỡng cơ bản về công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, 3năm
phải được 4 năm phải được đào tạo tập huấn một lần để cập nhập những thông tin
kiến thức mới về dân số và phát triển- Kế hoạch hoá gia đình.
Đối với đội ngò chuyên trách dân số xã và cộng tác viên dân số kế hoạch hoá
gia đình 100% cần được đào tạo tập huấn về chương trình cơ bản về Dân sè - Kế
hoạch hoá gia đình, tổ chức thực hiện các hoạt động truyền thông và các kỹ năng cơ
bản về tư vấn sức khoẻ sinh sản/KHHGĐ., tiếp tục thực hiện mô hình truyền thông
dân số lồng ghép với dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản kế hoạch hoá gia đình các
xã nghèo các xã có mức sinh cao, tỷ lệ sinh con thứ 3

quyết hậu quả vi phạm sai lầm của mình bằng can thiệp dịch vụ kế hoạch hoá gia
đình.
Đối với cán bộ công chức cơ quan trực tiếp quản lý đưa ra kiểm điểm, kỷ luật
tại cơ quan, hạ một bậc lương, chuyển công tác khác. đối với cán bộ lãnh đạo thôi giữ
chức vụ Lãnh đạo và chuyển công tác khác.
Đối với các thành viên nằmg trong các Hội nh : Như Hội phụ nữ, Hội nông
dân……Không được hố trợ vốn để phát triển kính tế gia đình.
Đối với nhân dân Trưởng thôn tổ chức họp kiểm điểm trước thôn bản. làng
xóm, áp dụng theo quy ước, hương ước, của làng, của dòng họ mà xử lý.
Sau khi vận động, tác động đối tượng vi phạm. Chính quyền địa phương tiến
hành ra quyết định xử phạt trên cơ sở căn cứ pháp lệnh dân số, và Quyết định 47/QĐ-
BTV TƯ ngày 25/5/2005 của ban thường vụ tỉnh Lạng sơn về tăng cường công tác
lãnh đạo chỉ đạo công tác Dân cố - KHHGĐ trên địa bàn tỉnh.
- Xử lý nhiêm cán bộ, Đảng viên vi phạm chính sách dân sè - KHHGĐ theo
Nghị quyết hội nghị Trung ương khoá 4 và Chỉ thị 05/CT-TW ngày 6/3/1995 của Ban
bí thư Trung ương khoá VII.
Đối với cán bộ dân số – Kế hoạch hoá gia đình từg huyện đến xã phường thôn
bản, phải thực hiện theo dõi sát sao, báo cáo hàng tháng với Chính quyền UNND,
trực tiếp chỉ đạo Dân số – Kế hoạch hoá gia đình huyện, Ban chỉ đạo dân sè - Kế
hoạch hoá gia đình xã, phải làm rõ việc vi phạm của từng đối tượng, UBND huyện ra
quyết định định kỷ luật, đình chỉ công tác, hạ một bậc lương và chuyển công tác khác
hoặc buộc phải thôi việc đối với cán bộ công chức vi phạm.
Phối hợp với hội viên, người có uy tín trong cộng đồng tại đại bàn đối tượng vi
phạm để ngăn ngõa đối tượng chuẩn bị vi phạm đi giải quyết hậu quả bằng dịch vô
KHHGĐ.
Trên đây là những giải pháp mà theo tôi là thực sự cần thiết tronh tình hình
hiện nay của huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, nếu những giải pháp đó được áp dung
một cách tích cực thì đó sẽ là một yếu tố tác động tới việc giảm tỷ lệ sinh con thứ 3
+
trở lên tại địa phương, góp phần vào công tác xoá đói giảm nghèo cho cá nhân gia

đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm mục đích giảm được rõ người sinh cơn tứ 3
+
trở
lên tại địa bàn huyện.
Tôi tin tưởng rằng công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình của Huyện Bắc
Sơn những năm tới sẽ gặt hái được nhiều kết quả theo chiều hướng tích cực, góp
phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nâng cao cải thiện đời sống
của nhân dân, tiến tới ổn định vÒ quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số được nâng cao,
đạt mục tiêu chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010.
Đây là mmọt đề tài rất rộng , khi đặt vấn đề nghiên cứu đề tài này, bản thân tôi
vừa chuyển sang làm công tác Dân số – Kế hoạch gia đình, chưa có kinh nghiệm
trong công tác, chắc chắn những vấn đề đề cập trong đề tài chưa thoả mãn được hết
những yêu cầu của thực trạng việc sinh con thứ 3 tăng trở lại như hiện nay.
RÊt mong được sự đóng góp của Thầy, cô và các bạn đồng nghiệp để bản thân
tôi làm tốt hơn nữa trong công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình.
Xin chân thành cảm ơn ./.

Khoá luận cuối khoá K15 Hoàng Công Mú
Líp Bồi dưỡng kiến thức DS-KHHGĐ Trường Đại Học Kinh tế Quốc dân
TÀI LIỆU TAM KHẢO
1. Báo cáo năm 2005 Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em Huyện.
2. Báo cáo 2006 Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em Huyện.
3. 2007 Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em Huyện.
4. 2008 Trung tâm Dân số – Kế hoạch hoá gia đình Huyện.
5. Số liệu Tổng hợp Phòng Thống kê Huyện.
6. Báo cáo năm 2008 của Uỷ ban nhân dân Huyện
7. Chiến lược dân số việt nam giai đoạn 2001-2010.
8. Dân số và phát triển ( Tài liệu dùng cho líp bồi dưỡng cán bộ dân số).
9. Dân số học( Tài liệu bồi dưỡng cán bộ dân số), Hà Nội.
10. Nghị quyết hội Nghị trung ương 4 ( khoáVII).

những kiến thức và kinh nghiệm đó khi trở về công tác tại địa phơng với khả năng
của mình, em sẽ cố gắng làm tốt nhiệm vụ để đóng góp một phần nhỏ bé của mình
vào công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình, nhằm ổn định dân số, phát triển kinh tế
– Xã hội của địa phương.
Em xin kính chúc các thầy, các cô của viện Dân số và các Vấn đề xã hội luôn
luôn mạnh khoẻ công tác tốt .
Xin trân trọng cảm ơn!
Khoá luận cuối khoá K15 Hoàng Công Mú


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status