hững yếu tố tâm lý tác động đến việc sinh con thứ ba trở lên của người dân huyện Gia Lâm - Hà Nội - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***

NGUYỄN THỊ NGỌC PHƯƠNG NHỮNG YẾU TỐ TÂM LÝ
TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC SINH CON THỨ BA TRỞ LÊN
CỦA NGƯỜI DÂN HUYỆN GIA LÂM - HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. VŨ DŨNG
HÀ NỘI - 2009

MỤC LỤC

Ký hiệu các từ viết tắt

MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3
4. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
3
5. Phạm vi nghiên cứu
4
6. Giả thuyết khoa học
4
7. Phương pháp nghiên cứu

CHƢƠNG 2

TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
42
2.1. Nghiên cứu lý luận
42
2.1.1. Mục đích của nghiên cứu lý luận
42
2.1.2. Nội dung của nghiên cứu lý luận
42
2.1.3. Phương pháp của nghiên cứu lý luận
42
2.2. Nghiên cứu thực tiễn
43
2.2.1. Mục đích của nghiên cứu thực tiễn
43
2.2.2. Nội dung của nghiên cứu thực tiễn
43
2.2.3. Phương pháp của nghiên cứu thực tiễn
43
2.3. Vài nét về địa bàn nghiên cứu
46
2.4. Mẫu nghiên cứu
48
2.4.1. Chọn mẫu nghiên cứu
48
2.4.2. Đặc điểm mẫu nghiên cứu
49
2.5. Tiến trình nghiên cứu thực tiễn
53

123
3.4. Các nghiên cứu trƣờng hợp điển hình
130
3.4.1. Gia đình anh Nguyễn H. H.
130
3.4.2. Gia đình chị Nguyễn T. L.
133
3.4.3. Gia đình anh Nguyễn V.T.
135
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
138
1. Kết luận.
138
2. Kiến nghị
139
PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO KÝ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT - ĐTB : Điểm trung bình
- XH : Xếp hạng
- TLH : Tâm lý học
- KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình
- SCT3+ : Sinh con thứ ba trở lên
- DS : Dân số
- BPTT : Biện pháp tránh thai

đề kinh tế - xã hội hàng đầu, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống…
(3).
Sinh con là điều mong muốn của tất cả các cặp vợ chồng, tuy nhiên việc
quyết định sinh bao nhiêu con đặc biệt việc sinh nhiều lại là vấn đề quan tâm của
toàn xã hội. Thời gian vừa qua, việc sinh con thứ ba trở lên đang trở thành vấn đề
“nóng” ở Việt Nam nói chung và huyện Gia Lâm nói riêng, nó không chỉ gây ảnh
hƣởng rất lớn đến hạnh phúc mỗi gia đình mà còn ảnh hƣởng đến chất lợng cuộc
sống của toàn xã hội.
Chúng tôi muốn nhấn mạnh đến vấn đề sinh con thứ ba trở lên bởi sự tăng
mạnh nhƣ vậy trong thời gian qua không chỉ gây ảnh hƣởng rất lớn đến tình hình
xã hội nói chung và chính sách sinh đẻ của Nhà nƣớc ta nói riêng mà còn gây nên
biến động mạnh về quy mô dân số và ảnh hƣởng chung đến tình hình kinh tế, văn
hoá xã hội. Từ năm 2003 đến nay, huyện Gia Lâm cũng không tránh khỏi tình
trạng chung của cả nƣớc, tỷ lệ sinh con thứ ba tăng đột biến và có nhiều trƣờng
hợp là cán bộ công chức, giáo viên, đảng viên. Vậy đâu là nguyên nhân thực sự của
thực trạng đó, Pháp lệnh dân số ra đời là nguyên nhân chính hay chỉ là cái cớ cho
sự gia tăng dân số đột biến này? Ngay cả các nhà Dân số học đã thừa nhận không
thể cắt nghĩa đƣợc các xu thế hiện đại của dân số chỉ bằng các nhân tố lịch sử, kinh
tế xã hội và nhân khẩu, hay coi đó là kết quả của của một chính sách dân số nào
đó, vấn đề gia tăng dân số nói chung và hành vi sinh đẻ nói riêng còn chịu tác động
trực tiếp của các yếu tố tâm lý cá nhân và tâm lý xã hội.
Qua việc tìm hiểu các tài liệu và các nghiên cứu có liên quan, chúng ta thấy
những vấn đề các yếu tố tác động đến hành vi sinh đẻ, đến mức sinh và đến sự gia
tăng dân số đƣợc nghiên cứu khá nhiều ở nhiều góc độ: dân số học, xã hội học,
kinh tế học và tâm lý học…. Tuy nhiên, nghiên cứu về các yếu tố tâm lý tác động
đến việc ngƣời dân quyết định sinh con thứ ba trở lên thì chƣa có một nghiên cứu
cụ thể nào.
Xuất phát từ những vấn đề đã nêu ở trên, chúng tôi - những ngƣời nghiên
cứu khoa học rất tâm huyết với công tác Dân số/KHHGĐ- nhận thấy cần phải có
trách nhiệm góp phần vào việc nghiên cứu và kiến nghị tìm giải pháp để thực hiện

- 10 cán bộ làm công tác DS – KHHGĐ cấp xã, cấp huyện, thành phố.
5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
5.1. Về nội dung nghiên cứu
Có nhiều yếu tố tâm lý tác động đến việc sinh con thứ ba trở lên nhƣng đề
tài nghiên cứu chỉ tập trung vào các yếu tố tâm lý nhƣ : Nhận thức, thái độ và hành
vi.
5.2. Về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu tại các xã, thị trấn khác nhau trên địa bàn huyện Gia Lâm với
các đặc trƣng:
+ Thị trấn (đại diện là Thị trấn Trâu Quỳ).
+ Làng nghề (đại diện là xã Ninh Hiệp).
+ Làng thuần nông (đại diện là xã Dƣơng Quang).
5.3. Về khách thể nghiên cứu
150 ngƣời đã sinh con thứ ba trở lên trong độ tuổi sinh đẻ (từ 25 đến 49
tuổi).
6. Giả thuyết khoa học
6.1. Các yếu tố nhận thức, thái độ là những yếu tố tâm lý tác động đến hành
vi sinh con thứ ba trở lên của ngời dân huyện Gia Lâm tuy nhiên trên thực tế có
nhiều trƣờng hợp giữa nhận thức, thái độ và hành vi có khoảng cách nhất định
(nhận thức tốt, thái độ tốt nhƣng vẫn sinh con thứ ba trở lên).
6.2. Nếu chúng ta có những biện pháp tuyên truyền, giáo dục về nhận thức
cho ngƣời dân một cách phù hợp về những ảnh hƣởng tiêu cực của việc sinh con
thứ ba trở lên và có chế tài xử lý nghiêm khắc những trƣờng hợp vi phạm thì có thể
góp phần đáng kể vào việc thực hiện tốt chính sách dân số – kế hoạch hoá gia đình
trên địa bàn huyện.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi đề ra các phƣơng pháp cụ
thể bao gồm:
7.1. Phƣơng pháp nghiên cứu văn bản tài liệu.
7.2. Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi (anket).

pháp tránh thai, tỷ trọng ngƣời phụ nữ đã kết hôn, mức độ nạo hút thai tự nguyện,
mức độ vô sinh sau đẻ, khả năng sinh đẻ
Tuy nhiên, nhìn từ một góc độ khác, Kingsley Davis và Judith Blake qua các
nghiên cứu của mình lại đƣa ra mô hình có 11 biến trung gian (chia thành 3 nhóm)
ảnh hƣởng đến mức sinh. Các yếu tố xã hội sẽ thông qua các biến này để tác động
đến tất cả các giai đoạn của quá trình sinh sản: yếu tố ảnh hƣởng đến giao hợp, yếu
tố ảnh hƣởng đến thụ thai, yếu tố ảnh hƣởng đến thai nghén và sinh đẻ (18).
Với cách tiếp cận kinh tế, các nghiên cứu đều khẳng định mối tƣơng quan
nghịch giữa mức sống và sinh đẻ. Các nhà nhân khẩu học đã chứng minh rằng: đời
sống thấp thì mức sinh đẻ cao và ngƣợc lại. A. Smith cũng đƣa ra một kết luận
tƣơng tự “ Nghèo đói tạo khả năng cho sự sinh đẻ”. Còn K.Marx, khi nghiên cứu
mối quan hệ giữa thu nhập và sinh đẻ cũng khẳng định “số sinh tỷ lệ nghịch với
quy mô của cải mà người dân có” (7).
Theo quan điểm kinh tế đơn thuần, trẻ em không phải là một lĩnh vực đầu tƣ
tốt, chi phí nuôi dƣỡng cao mà lợi ích kinh tế thấp, trong đó xã hội ngày càng phát
triển thì lƣơng và trợ cấp cho ngƣời già đảm bảo và họ không cần đến con. Vì vậy,
David đã khẳng định “ Nếu kinh tế là quyết định thì có lẽ không có một ai trong xã
hội hiện đại sẽ có con nữa”. Tuy nhiên, với lý thuyết động lực kinh tế, Liebenstein
cho rằng “cha mẹ sẽ tính toán lợi ích và chi phí sinh con sau đó sẽ quyết định số
con mà họ muốn có” (38).
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên không thể cắt nghĩa đƣợc các xu thế hiện đại
của dân số chỉ bằng các nhân tố lịch sử, xã hội, kinh tế và nhân khẩu. Chủ thể và
khách thể của hành vi sinh đẻ là con ngƣời – một thực thể có ý thức và ý chí, có
những đặc điểm tâm lý nhất định, sống trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định
cho nên các nhân tố tâm lý nhƣ ý thức, nhu cầu, động cơ, thuộc tính nhân cách ảnh
hƣởng rất lớn đến hành vi sinh đẻ của con ngƣời.
J.T. Fawceet (1970) khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến sinh đẻ đã
chỉ ra các giá trị và phong cách sống của cá nhân, các chức năng của trẻ con đối
với con ngƣời ở các trình độ khác nhau của xã hội, các động cơ sinh đẻ và nhu cầu
về con cái (24, tr 25).

gia đình và chƣơng trình kế hoạch hoá gia đình đều không có ảnh hƣởng (32).
Vận dụng các quan điểm của các nhà dân số học nƣớc ngoài vào tình hình cụ
thể của địa phƣơng, các tác giả Lê Phƣớc Lộc và Nguyễn Thị Minh Huệ đã có
những đánh giá sự tác động của các yếu tố tâm lý đến mức sinh qua đề tài “Các
yếu tố chủ yếu tác động lên mức sinh ở các xã nông thôn, vùng sâu, xa của tỉnh
Cần Thơ”. Tác giả của đề tài rất chú trọng đến phụ nữ và các đặc trƣng có ảnh
hƣởng đến tâm lý ngƣời phụ nữ trong việc quyết định sinh con, đó là: nghề nghiệp,
trình độ học vấn, tình hình tham gia sinh hoạt đoàn thể, tình hình đọc báo của phụ
nữ…(16).
Đề tài “Khảo sát đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh ở một số xã
thuộc vùng công giáo huyện Kim Sơn” của hai tác giả Lê Văn Định và Vũ Mạnh
Lợi, đã chỉ ra yếu tố kinh tế, văn hoá xã hội có ảnh hƣởng rõ rệt đến hành vi sinh
sản của ngƣời phụ nữ trong đó bao gồm: trình độ học vấn, mức sống, sự hiểu biết
về các biện pháp kế hoạch hoá gia đình, sự ràng buộc của giáo lý…(9).
Nhìn nhận một cách toàn diện hơn, các tác giả thực hiện đề tài “Đo lường
ảnh hưởng của các yếu tố tới mức sinh ở Việt Nam” (Nguyễn Văn Phẩm chủ
nhiệm) đã đề cập đến rất nhiều các yếu tố nhƣ: nhân khẩu học, yếu tố sinh học, yếu
tố kinh tế – xã hội, yếu tố tập quán – tâm lý xã hội tác động đến mức sinh. Tuy
nhiên, theo kết quả đánh giá thì các tác giả chƣa nêu nổi bật yếu tố tâm lý tác động
đến mức sinh nhƣ thế nào (18).
Trong khi có tác giả tiếp cận từ góc độ sinh thái và dân số học tộc ngƣời cho
rằng quan niệm về sinh đẻ, nhận thức về số con cần thiết phải có của ngƣời dân tộc
ít ngƣời chịu sự chi phối của văn hoá truyền thống, tâm lý tộc ngƣời, trình độ dân
trí, đời sống kinh tế xã hội (4) thì ngƣời khác lại xuất phát từ quan điểm xã hội học
và giới để chứng minh chất lƣợng dân số của phụ nữ nông thôn phụ thuộc vào
điều kiện sống của hộ gia đình, vị trí và sự bình đẳng của ngƣời phụ nữ trong gia
đình, tình trạng sức khoẻ và sức khoẻ sinh sản của họ (25).
Góp phần tìm hiểu vấn đề “Các yếu tố tác động đến mức sinh ở Việt Nam”
Trung tâm Nghiên cứu dƣ luận xã hội và Truyền thông dân số đã nhấn mạnh sự tác
động đến mức sinh từ nhiều góc độ: mô hình gia đình với tƣ duy hiện đại và truyền

là có nhiều sức lao động, về già có nơi nƣơng tựa, cần có con trai để có ngƣời nối
dõi tông đƣờng, thờ cúng tổ tiên… (21).
Nghiên cứu của Trần Anh Châu đề cập trực tiếp đến tác động của các yếu tố
tâm lý đến việc sinh con cho thấy áp lực xã hội (tác động chung), mong muốn của
ông bà, họ hàng, mong muốn của vợ chồng (tác động từ gia đình) và tác động của
yếu tố kinh tế có ảnh hƣởng tới số con trong gia đình (5).
Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng: vấn đề mức sinh và hành vi sinh đẻ
đƣợc quan tâm nghiên cứu rất nhiều và từ nhiều góc độ, tuy nhiên chủ yếu đƣợc
tiếp cận từ góc độ xã hội học và nhân khẩu học, còn khi xem xét dƣới góc độ tâm
lý học, các tác giả dƣờng nhƣ mới chỉ dừng lại ở việc nêu ra hiện trạng, chƣa có
đƣợc những phát hiện quan trọng liên quan đến việc gia tăng dân số đặc biệt là
hiện tƣợng sinh con thứ ba trở lên.
Từ việc tham khảo công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau,
chúng tôi nhận thấy rằng chủ thể và khách thể của hành vi sinh đẻ là con ngƣời –
một thực thể có ý thức và ý chí, có những đặc điểm tâm lý nhất định, sống trong
một hình thái kinh tế xã hội nhất định cho nên hành vi sinh con thứ ba trở lên là
hành vi có ý thức và đƣợc hiểu là một hệ thống các hành động và thái độ có
nguyên nhân từ xã hội và gia đình hƣớng vào việc quyết định sinh con thứ ba trở
lên.
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÁC YẾU TỐ TÂM LÝ TÁC
ĐỘNG ĐẾN VIỆC SINH CON THỨ BA TRỞ LÊN
1.2.1. Nhận thức về vấn đề sinh con thứ ba trở lên
1.2.1.1. Khái niệm nhận thức về vấn đề sinh con thứ ba trở lên
a. Khái niệm nhận thức
Nhận thức là một trong 3 mặt cơ bản của đời sống tâm lý con ngƣời (nhận
thức, tình cảm, hành động). Nhận thức là sự phản ánh chủ quan về thế giới khách
quan trong đầu óc con ngƣời. Trong quá trình hoạt động, con ngƣời phải nhận
thức, hiểu biết, phản ánh hiện thực xung quanh và cả hiện thực bản thân mình, trên
cơ sở đó, con ngƣời tỏ thái độ, tình cảm và hành động.
Trong quá trình nhận thức thế giới, con ngƣời có thể đạt tới những mức độ

quá trình từ biết (nhận biết, ghi nhớ, nhắc lại), đến hiểu (có thể áp dụng kiến thức
vào giải quyết tình huống mới). Quá trình nhận thức vận động, phát triển liên tục
không ngừng, mang bản chất xã hội, lịch sử. Kết quả cuối cùng của quá trình nhận
thức cho ta hiểu biết và kiến thức giúp con ngƣời ngày càng tiếp cận hiện thực, tiếp
cận chân lý. Kiến thức là những hiểu biết của con ngƣời về thế giới tự nhiên và xã
hội, nhờ học tập trong trƣờng và từng trải trong thực tế cuộc sống mà có. Kiến thức
của loài ngƣời là kết quả của quá trình nhận thức. Kiến thức phong phú và đa dạng
vì nó phản ánh đúng sự vật hiện tƣợng và các quan hệ có tính quy luật của hiện
thực khách quan, nhƣng cũng chứa đựng những hiểu biết nông cạn không thật
chính xác (23, tr.9).
Các nhà tâm lý học theo quan điểm nhận thức là hành động cho rằng họat động
nhận thức có hai dạng: Hoạt động nhận thức cảm tính và hoạt động nhận thức lý tính.
Hoạt động nhận thức cảm tính bao gồm hoạt động cảm giác, tri giác cho ta hình ảnh
cảm tính, họat động nhận thức lý tính bao gồm hoạt động tƣ duy, tƣởng tƣợng cho ta
khái niệm. Hoạt động nhận thức cảm tính và hoạt động nhận thức lý tính có quan hệ
chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, chi phối lẫn nhau trong cùng một hoạt động
nhận thức thống nhất của con ngƣời (11, tr. 98).
Tâm lý học xem nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý
con ngƣời. Nhận thức có mối quan hệ với thái độ và hành vi. Trong đó nhận thức
vừa là cơ sở, vừa là điều kiện, tiền đề, phƣơng tiện hình thành thái độ và hành vi.
Nhận thức đúng là cơ sở của thái độ đúng và hành vi đúng. Nhận thức là một hoạt
động gồm nhiều quá trình khác nhau, biểu hiện ở những mức độ khác nhau và
mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan. Nhận thức bao gồm
các quá trình cảm giác, tri giác, trí nhớ, tƣ duy, tƣởng tƣợng. Quá trình này phản
ánh và tái tạo lại hiện thực ở trong tƣ duy của con ngƣời. Nhƣ vậy, quá trình nhận
thức đƣợc hiểu là quá trình tiếp cận, tiến gần đến chân lý nhƣng không bao giờ
ngừng ở một trình độ nào vì không bao giờ nắm hết toàn bộ hiện thực. Quá trình
này diễn ra liên tục và không bao giờ ngừng bởi hiện thực khách quan là vô cùng
và luôn luôn phát triển.
Trong quá trình nhận thức, cá nhân không chỉ nắm vững kiến thức mà còn

ra trong một thời gian dài, mỗi thành viên (vợ hoặc chồng) đều đã có thời gian để
kiểm nghiệm vai trò, vị trí, tình cảm của mình, cộng thêm dƣ luận xã hội, chính sách
dân số của nhà nƣớc có thể là thuận lợi có thể là ngƣợc lại, làm cho việc thực hiện
mong muốn có đứa con thứ ba phải đƣợc cân nhắc rất kỹ, nói cách khác họ nhận
thức rõ việc làm của mình.
Vậy nhận thức về việc sinh con thứ ba trở lên đƣợc hiểu nhƣ sau:
Nhận thức về việc sinh con thứ ba trở lên là sự hiểu biết của các cặp vợ chồng
về chính sách dân số, việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình, quyền sinh sản của các
cặp vợ chồng và giá trị của con cái ở các mức độ khác nhau, làm cơ sở cho việc
định hướng và điều chỉnh thái độ, hành vi sinh con thứ ba trở lên của họ.
1.2.1.2. Những biển hiện nhận thức về vấn đề sinh con thứ ba trở lên
a. Các mức độ nhận thức trong tâm lý học
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong Tâm lý học về mức độ nhận thức.
Căn cứ vào tính chất phản ánh, các nhà Tâm lý học Mác xít chia toàn bộ
hoạt động nhận thức thành nhiều mức độ khác nhau, từ thấp lên cao, từ đơn giản
đến phức tạp, từ nông đến sâu, từ hiểu biết chƣa đầy đủ đến đầy đủ, từ nhận thức
cảm tính đến nhận thức lý tính.
Nhận thức cảm tính:
Là quá trình nhận thức đầu tiên, ở mức độ thấp nhất, sơ đẳng nhất trong toàn bộ
hoạt động nhận thức của con ngƣời. Đặc điểm chủ yếu của nhận thức cảm tính là
chỉ phản ánh những thuộc tính bề ngoài, cụ thể của sự vật, hiện tƣợng đang trực
tiếp tác động vào giác quan của con ngƣời.
Nhận thức cảm tính bao gồm 2 quá trình là cảm giác và tri giác. Cảm giác là
hình thức phản ánh thấp nhất, khởi đầu, là hình thức định hƣớng đầu tiên của cơ
thể trong thế giới. Trên cơ sở nảy sinh các cảm giác ban đầu mà có tri giác. Tri
giác là hình thức phản ánh cao hơn trong cùng bậc thang nhận thức cảm tính. Cảm
giác và tri giác có mối quan hệ chặt chẽ và tri phối lẫn nhau trong mức độ nhận
thức “trực quan sinh động” thế giới.
Sản phẩm hoạt động nhận thức cảm tính là những hình ảnh cụ thể, trực quan về
thế giới, chứ chƣa phải là những khái niệm và quy luật về thế giới. Mặc dù vậy,

niệm, nội dung các định luật…
Mức 2: Hiểu (Comprehension) có thể thuyết minh, giải thích, chứng minh
những kiến thức đã lĩnh hội (phục hồi ngữ nghĩa thông tin trong những đối tƣợng
khác nhau, thiết lập liên hệ ở những đối tƣợng khác nhau).
Mức 3: Vận dụng (Application) có thể áp dụng kiến thức vào những tình huống
mới, khác với trong bài học (sử dụng các quy tắc, nguyên tắc, những phác đồ giải
quyết một vấn đề nào đó).
Mức 4: Phân tích (Analysis) biết phân chia một toàn thể thành các bộ phận, một
vấn đề lớn thành những vấn đề nhỏ hơn, làm sáng tỏ những mối quan hệ giữa các
bộ phận (đồng nhất những bộ phận tạo nên cái tổng thể, từ đó phân biệt các ý
tƣởng trong đối tƣợng đó).
Mức 5: Tổng hợp (Synthesis) biết sắp xếp các bộ phận thành toàn thể thống
nhất, ghép các vấn đề nhỏ thành các vấn đề lớn hơn, tạo thành một tổng thể mới
liên kết tất cả các bộ phận tạo nên tổng thể).
Mức 6: Đánh giá (Evaluation) có thể nhận định, phán đoán về giá trị, ý nghĩa
của mỗi kiến thức (tạo thành những phán đoán về số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng
thao tác tạo nên chất lƣợng của trí tuệ).
Hai mức đầu là nhận thức ở mức thấp. Bốn mức sau gọi là nhận thức ở mức
cao, vì chúng đề cập đến các thao tác tƣ duy phức tạp hơn, huy động 3 thao tác
phân tích, tổng hợp, đánh giá.
Hạn chế của cách phân loại của B.S.Bloom là 3 mức phân tích, tổng hợp, đánh
giá rất khó tách bạch trong nhận thức vì vậy rất khó đo đâu là phân tích, tổng hợp,
đánh giá mặc dù Bloom có giới thiệu cách đánh giá mục tiêu nhận thức (2, tr.86).
b. Những biển hiện nhận thức về vấn đề sinh con thứ ba trở lên
Trong nghiên cứu này, căn cứ vào các mức độ nhận thức của các cặp vợ chồng
về vấn đề sinh con thứ ba trở lên chúng tôi chia ra bốn mức độ sau: nhận thức sai;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status