Các yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn phương tiện metro của người dân trên địa bàn thành phố hồ chí minh - Pdf 42

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan luận văn tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện và không sao
chép các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình. Các
số liệu và kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn chưa từng được công bố ở các
nghiên cứu khác. Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc và được
trích dẫn rõ ràng. Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản
của luận văn.

Học viên

Nguyễn Thanh Sơn


MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU .................................................................................. 1
1.1. LÝ DO NGHIÊN CỨU................................................................................. 1
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ......................................................................... 2
1.3. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU .............................................. 2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC
NGHIỆM................................................................................................................. 3
2.1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT ........................................................................ 3
2.1.1. Thuyết lựa chọn hợp lý ............................................................................. 9
2.1.2. Lý thuyết đặc tính giá trị của Lancaster ................................................. 10
2.1.3. Lý thuyết RUM ....................................................................................... 11



DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Sự khác nhau trong cách lấy mẫu của ba phương pháp lựa chọn .................. 6
Bảng 3.1. Định nghĩa các biến trong mô hình……………………………………….34
Bảng 3.2. Bảng câu hỏi phỏng vấn mẫu……………………………………………..39
Bảng 4.1. Thống kê mô tả giới tính, độ tuổi, thu nhập, số năm đi học ........................ 42
Bảng 4.2. Một số đặc điểm cá nhân trong mẫu ............................................................ 45
Bảng 4.3. Hệ số ước lượng cho sở thích của người dân đối với việc chọn phương tiện
đi lại bằng mô hình CL chuẩn ....................................................................... 47
Bảng 4.4. Hệ số ước lượng cho sở thích của người dân đối với việc chọn phương tiện
đi lại bằng mô hình CL tổng quát .................................................................. 49
Bảng 4.5. So sánh độ phù hợp của mô hình CL chuẩn và CL tổng quát...................... 52
Bảng 4.6. Tỷ lệ cá nhân chuyển sang sử dụng tàu điện ngầm...................................... 53
Bảng 4.7. Ước lượng mức sẵn lòng trả và Krinsky - Robb khoảng tin cậy 95% ......... 56
Bảng 5.1. Các tuyến Metro dự định xây dựng tại thành phố Hồ Chí Minh ................. 59


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

Hình 2.1. Các nhánh của lý thuyết xác suất lựa chọn................................................... 13
Hình 3.1. Khung phân tích của mô hình lựa chọn rời rạc……………………………30
Hình 3.2. Các thuộc tính của từng giai đoạn đi lại ....................................................... 32
Hình 4.1. Phân bổ độ tuổi trong mẫu............................................................................ 43
Hình 4.2. Phân phối thu nhập trong mẫu ...................................................................... 44
Hình 4.3. Thu nhập trung bình theo trình độ giáo dục ................................................. 44
Hình 4.4. Tỷ lệ tần suất của các mục đích đi lại của cá nhân ....................................... 46
Hình 4.5. Xác suất chọn sử dụng tàu điện ngầm theo các mức giá định theo mô hình
Conditional logit chuẩn ................................................................................. 54
Hình 4.6. Xác suất chọn sử dụng tàu điện ngầm theo các mức giá định theo mô hình

Nguồn: http://www.fetp.edu.vn/attachment.aspx?ID=8190. Bài viết: “Chống kẹt xe Hà Nội và Thành Phố
Hồ Chí Minh” của Vũ Thành Tự Anh và Đỗ Hoàng Phương, Chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright, ngày
7 tháng 1 năm 2013.
1


2

xác suất chọn sử dụng. Kết quả của nghiên cứu sẽ cung cấp các đánh giá về các yếu
tố tác động đến sự lựa chọn của người dân. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn đưa ra các
hàm ý trong quá trình xây dựng chính sách phát triển giao thông đô thị trong thời gian
tới.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này tập trung phân tích hành vi lựa chọn phương tiện đi lại, cụ thể là
tàu điện ngầm của người có nhu cầu đi lại, đồng thời nghiên cứu những yếu tố tác
động đến quyết định chọn phương tiện đi lại của người dân tại TP.HCM.
1.3. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành với phạm vi nghiên cứu được lựa chọn thực hiện tại
TP.HCM, đối với các cá nhân. Nghiên cứu dựa trên hai lý thuyết nền cơ bản cho việc
mô hình hóa sự lựa chọn, đó là: lý thuyết các đặc tính của giá trị do Lancaster xây
dựng, lý thuyết Random Utility Theory (RUT) và các nghiên cứu thực nghiệm có liên
quan để xây dựng khung phân tích – sẽ được nghiên cứu thảo luận chi tiết trong
Chương 2. Tiếp đó, Chương 3 sẽ thảo luận phương pháp luận cho nghiên cứu này,
cách thiết kế nghiên cứu và thiết kế bảng câu hỏi điều tra chi tiết sẽ được giới thiệu.


3

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN
CỨU THỰC NGHIỆM

thể đại diện mang tính phổ quát trong thị trường được nghiên cứu. Khi các quan sát
bị sai lệch theo những hàm ý trong lý thuyết về chủ thể đại diện thì các khác biệt đó
sẽ được nhà nghiên cứu tính toán vào một phần nhiễu và sai số đo lường của dữ liệu,
và không xem đó là các yếu tố không quan sát được trong hoặc khác biệt qua các cá
nhân đại diện.
Trong những năm 1960, sự gia tăng các dữ liệu khảo sát hành vi cá nhân và sự
cải tiến nhanh chóng của máy tính cá nhân đã giúp các nhà nghiên cứu phân tích được
những dữ liệu này, tập trung chủ yếu vào sự khác biệt trong nhu cầu của các cá nhân.
Việc mô hình hóa và giải thích sự khác biệt giữa các cá nhân trở nên quan trọng như
một phần của lý thuyết người tiêu dùng. Điều này đặc biệt rõ ràng đối với lựa chọn
rời rạc, ví dụ như trong lựa chọn cách thức đi lại hoặc nghề nghiệp. Những giải pháp
cho vấn đề nêu trên đã đưa đến những công cụ phân tích kinh tế lượng vi mô về hành
vi lựa chọn như hiện nay. Nguồn gốc của kỹ thuật lựa chọn bắt nguồn từ những nghiên
cứu trong ngành tâm lý học nhưng chưa thể áp dụng vào nghiên cứu thị trường và
hành vi của người tiêu dùng trong lĩnh vực kinh tế học. Vào năm 1960, Jacob
Marschak đã đưa lý thuyết trong nghiên tâm lý học của Thurstone vào các mô hình
kinh tế, bằng cách diễn giải những kích thích về mặt tâm lý theo các khái niệm của
kinh tế học, với xác suất việc lựa chọn để tối đa hóa hữu dụng mà bản thân nó chứa
đựng các yếu tố ngẫu nhiên (Kjær, 2005). Marschak gọi đó là mô hình tối đa hóa hữu
dụng ngẫu nhiên (Random Utility Maximization, RUM).
Để đo lường giá trị kinh tế, có hai cách tiếp cận được trình bày trong nghiên cứu
của Kjær (2005), Bateman và cộng sự (2002): Phương pháp tiết lộ sở thích (Revealed
Preference Method) và phương pháp phát biểu sở thích (Stated Preference Method).
Trong đó, các phương pháp có liên quan đến phát biểu sở thích bao gồm hai loại:
phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contingent valuation method, CVM) và phương
pháp thí nghiệm lựa chọn rời rạc (Discrete choice experiment, DCE).
Sự ra đời của lý thuyết RUM, cùng sự phát triển nhanh của các kỹ thuật kinh tế
lượng đã giúp cho các phương pháp liên quan đến lựa chọn trong nghiên cứu kinh tế



tuy nhiên điều này đòi hỏi các đáp viên phải có khả năng nhận thức nhiều hơn. Mức


6

độ yêu cầu đáp viên sẽ phức tạp hơn đối với phương pháp xếp hạng ngẫu nhiên khi
yêu cầu đáp viên phải đưa ra các giá trị thể hiện sở thích theo mức độ mạnh yếu cho
mỗi phương án. Phương pháp này cho phép đáp viên cùng lúc xếp hạng như nhau cho
các phương án và có thể sẽ đưa đến kết quả không có sự khác biệt giữa các phương
án. Phương pháp xếp hạng và sắp xếp ngẫu nhiên có hạn chế là đáp viên có thể không
có những trải nghiệm thực tế để thực hiện việc sắp xếp hoặc xếp hạng tất cả các
phương án hoặc có thể gặp vấn đề trong so sánh giữa các cá nhân và xuất phát từ sự
lựa chọn mà đáp viên phải đối mặt trong thực tế so với phương pháp DCE.
Bảng 2.1. Sự khác nhau trong cách lấy mẫu của ba phương pháp lựa chọn
Đối với nghiên cứu lựa chọn rời rạc (chọn duy nhất một trong các phương án
trong tập đầy đủ): Bạn chỉ được chọn phương án đi lại mà bạn thích nhất.
Phương án 1

Phương án 2

Phương án 3

Phương tiện

Xe máy

Xe buýt

Tàu điện ngầm


X

Phương án 2 được thích hơn phương án 1 và 3


7

Sắp xếp ngẫu nhiên (hoàn thành việc sắp xếp các phương án từ cao đến thấp theo
sở thích của bạn): nếu bạn sắp xếp theo trật tự sau: (A, B và C), có nghĩa là phương
án A được bạn ưa thích nhất, phương án B được ưa thích hơn phương án C và phương
án C được ưa thích ít nhất.
Phương án 1

Phương án 2

Phương án 3

Phương tiện

Xe máy

Xe buýt

Tàu điện ngầm

Thời gian trên

20 phút

25 phút


Phương án 2 được ưa thích nhất, hơn phương án 1 và phương án 3 được ưa
thích thấp nhất

Xếp hạng (biểu lộ mức độ ưa thích bằng cách xếp hạng các phương án theo thang
đo): thang đo xếp hạng có giá trị từ 1 đến 10, trong đó giá trị 0 hàm ý bạn thích
phương án đó thấp nhất, ngược lại với giá trị 10 hàm ý bạn thích phương án đó cao
nhất.


8

Phương án 1

Phương án 2

Phương án 3

Phương tiện

Xe máy

Xe buýt

Tàu điện ngầm

Thời gian trên

20 phút


3

Phương án 2 được thích hơn 1/10 so với phương án 1 và 5/10 so với phương
án 3

Bảng 2.1 đã cung cấp một ví dụ về lựa chọn cách thức đi lại, để minh hoạ cho sự
khác nhau trong cách thức thu thập dữ liệu của ba kỹ thuật nêu trên. Cách tiếp cận
liên quan đến thí nghiệm sự lựa chọn rời rạc đã được áp dụng nhiều trong các nghiên
cứu thuộc lĩnh vực kinh tế, trong khi đó cách tiếp cận theo phương pháp xếp hạng sự
ngẫu nhiên khó khăn khi áp dụng hơn. Để có được so sánh trong nghiên cứu thực
nghiệm cho ba cách tiếp cận nêu trên hãy xem chi tiết trong bài viết của Boyle và
công sự (2001). Trong đánh giá ngẫu nhiên được phân loại theo cách thiết kế đưa ra
bởi Bateman và cộng sự (2002) thì phương pháp thí nghiệm lựa chọn rời rạc có liên
quan đến phương pháp đánh giá ngẫu nhiên đó là phương pháp phân đôi lựa chọn, vì
cả hai đều liên quan đến việc người tiêu dùng quyết định lựa chọn từ một tập các lựa
chọn hàng hoá có thể thay thế cho nhau và quan trọng là đều dựa trên nền tảng RUM.


9

Trong phần tiếp theo, nghiên cứu sẽ trình bày chi tiết hai lý thuyết được xem là
nền tảng có liên quan đến phương pháp thí nghiệm lựa chọn rời rạc đó là lý thuyết
RUM và lý thuyết đặc tính giá trị sản phẩm Lancaster.
2.1.1. Thuyết lựa chọn hợp lý
Trong lược khảo của Scott (2000), thuyết lựa chọn lợp lý được phát triển đầu tiên
trong lĩnh vực xã hội học, người tiện phong là George Homans. Sau đó, các tác giả
như: Blau, Coleman, và Cook đã mở rộng khung phân tích, phát triển các mô hình
toán cho hành động hợp lý, rất nhiều nhà kinh tế học như Becker đã cho ra đời lý
thuyết về tội phạm và hôn nhân. Lý thuyết này hội tụ dần và được xem như một
nguyên lý chung trong kinh tế học vi mô để giải thích cho các phản ứng của các cá

McFadden đã chỉ ra những thách thức trong nghiên cứu liên quan đến kinh tế học
hành vi của trường phái Chicago khi giả định về sự nhận thức hợp lý không còn được
xem là một điều kiện trong nghiên cứu hành vi kinh tế. Tác giả đã chỉ ra hướng giải
quyết đối với các nhà kinh tế học theo trường phái này, nên tập trung vào cách đo
lường có cân nhắc đến những dị thường trong nhận thức của đáp viên và các phương
pháp khác nhằm hạn chế những phản ứng sai lệch của cá nhân trong tiến trình thực
hiện các nghiên cứu hành vi kinh tế, ví dụ như: lặp lại câu hỏi để đảm bảo sự chắc
chắn của đáp viên hoặc một câu nhắc nhở người trả lời đưa ra lựa chọn phù hợp
(Cheap talk) nhằm tăng tính chất nghiêm trọng và có ảnh hưởng đến lợi ích của đáp
viên.
2.1.2. Lý thuyết đặc tính giá trị của Lancaster
Theo tóm lược của Kjær (2005), lý thuyết các đặc tính giá trị của Lancaster là sự
mở rộng của lý thuyết người tiêu dùng trong kinh tế học tân cổ điển. Cách tiếp cận
của lý thuyết này có liên quan đến các thuộc tính của các đặc tính sản phẩm mang lại
cho tiêu người dùng. Trong trường hợp, có sự kết hợp của nhiều loại hàng hoá thì sẽ
cho ra một tập véc-tơ của số lượng các đặc tính của các hàng hóa đó. Những sở thích
của người tiêu dùng được xác định thông qua tập các đặc tính của sản phẩm và đường
cầu của hàng hoá là một đường cầu chuyển hoá. Sự tiêu dùng lúc này được nhìn nhận


11

là hoạt động xác định các tính chất hay thuộc tính từ hàng hoá. Cách tiếp cận của
Lancaster là cơ sở quan trọng giúp phương pháp DCE có thể ứng dụng trong nghiên
cứu thực nghiệm. Phần lớn một đặc tính xét trên một đơn vị sản phẩm là cố định,
không liên quan đến mức độ tiêu dùng hàng hoá đó hoặc những hàng hoá khác. Những
giả định dựa trên sự nhìn nhận các thuộc tính của sản phẩm là khách quan, có thể đo
lường được, thay vì mô tả mối quan hệ giữa hai sản phẩm, thì tỷ lệ thay thế biên trong
lý thuyết mô tả mối quan hệ giữa hai thuộc tính.
2.1.3. Lý thuyết RUM

Thứ ba, các phương án này phải là hữu hạn, các phương án này có thể đếm được.
Hai điều kiện đầu tiên gần giống nhau nếu một tập mà có tính chất thứ nhất thì
chắc là tập chọn đó đã đầy đủ. Ví dụ, có hai phương án là: đi bộ và đi xe buýt, sẽ
không thoả điều kiện thứ nhất bởi vì người ra quyết định có thể chọn một hình thức
kết hợp cả đi bộ và xe buýt. Như vậy, nếu người ra quyết định chọn một phương án
nằm ngoài tập này thì dẫn đến làm tập chọn không thoả điều kiện thứ hai. Trong
trường hợp này, cần xác định lại và mở rộng các phương án lựa chọn, có thể bằng
những phương án gốc thêm vào một phương án tạo ra các kết hợp, ví dụ như: thêm
vào tập phương án lựa chọn kết hợp đi bộ và xe bus. Việc đưa ra một tập các lựa chọn
thỏa hai điều kiện nêu trên có thể thông qua rất nhiều cách, tuy nhiên, còn phải tùy
vào mục tiêu nghiên cứu và dữ liệu có sẵn. Các nghiên cứu sẽ phải đánh đổi trong
việc thiết kế tập lựa chọn này: nếu thiết kế với nhiều phương án (có cả các phương
án kết hợp) sẽ giúp nắm bắt được đầy đủ các yếu tố tác động, nhưng sẽ phức tạp khi
ước lượng và dự báo so với tập có ít phương án lựa chọn hơn.
2.1.3.3. Nguồn gốc xác suất lựa chọn
Trong quá trình ước lượng, rất khó để dự đoán một cách chính xác hoàn toàn sự
lựa chọn của một cá nhân hay người tiêu dùng sản phẩm. Để giải quyết sự không chắc
chắn xung quanh việc lựa chọn của cá nhân, mỗi phương án được gắn với một xác
suất được lựa chọn riêng. Có nhiều loại mô hình lựa chọn rời rạc được áp dụng trong
những nghiên cứu ở những lĩnh vực khác nhau như: sinh học, tâm lý học và kinh tế


13

học. Nhưng tất cả các mô hình xác suất lựa chọn đều có các đặc tính theo dạng phương
trình sau (với i phương án lựa chọn):
𝑈𝑖 = 𝑉𝑖 + 𝜀𝑖

(2.1)


học và tâm lý học có sự khác nhau trong cách nhìn nhận về tiến trình ra quyết định
của con người. Trong khi các nhà tâm lý học xem xét các yếu tố mang tính tự nhiên
bên trong con người hay gọi là các biến liên quan đến tâm lý khi thực hiện nghiên
cứu, thì các nhà kinh tế học hầu như nhìn nhận thông tin như một đầu vào của lựa
chọn, dựa trên sự hợp lý và hành vi tối đa hóa hữu dụng. Tiến trình ra quyết định
trong nghiên cứu tâm lý học liên quan đến sự tương tác của các khái niệm như: nhận
thức, động cơ, thái độ và cảm xúc. Nhưng đối với các nhà kinh tế học đơn giản nó là
sở thích và tiến trình ra quyết định bên trong cá nhân nằm trong “hộp đen”. Trong
nhiều năm qua, kinh tế học hành vi đã có những khám phá rất thú vị với những đóng
góp của các nhà tâm lý học mà hai nhà nghiên cứu tiên phong: Daniel Kahneman và
Amos Tversky, với việc phát triển lý thuyết có tên gọi “Prospect Theory”. Những
nghiên cứu trong kinh tế học hành vi theo trường phái phi chính thống được thực hiện
xoay xung quanh những vấn đề có liên quan đến rủi ro và sự không chắc chắn trong
tiến trình đưa ra lựa chọn. Điều này không hoàn toàn hàm ý rằng hành vi lựa chọn
của người tiêu dùng là không hợp lý. Như đã trình bày trong phần thảo luận về thuyết
hành động hợp lý, sự sai lệch trong nhận thức có thể đến từ cách mà thông tin đi vào,
lưu trữ và xử lý. Vì vậy các nghiên cứu cần chắc chắn cung cấp thông tin một cách
rõ ràng, thì sẽ hạn chế được sự sai lệch nếu có trong quá trình nghiên cứu về hành vi.


15

Ngược lại, nhánh lý thuyết thứ hai về sự ngẫu nhiên trong thỏa dụng có thể liên
kết được với lý thuyết kinh tế học của Lancaster và kinh tế học tân cổ điển. Nguồn
gốc của xác suất lựa chọn rời rạc bắt nguồn từ nghiên cứu tâm lý học của Thurstone
(1927) với nghiên cứu có tựa đề “Law of Comparative Judgment”, với ý tưởng cho
rằng mô hình lựa chọn của cá nhân như là một kết quả của một tiến trình trong đó các
biến ngẫu nhiên được liên hệ với mỗi phương án và phương án được chọn phải được
nhận thức rõ ràng nhất. Nếu thay các kích thích thực tế trong lý giải của Thurstone
bằng cách giải thích nó như là một sự thỏa mãn hay hữu dụng thì sự lựa chọn được

thể quan sát được và phần còn lại của hàm hữu dụng không quan sát được đại diện
bởi tất cả các yếu tố có ảnh hưởng khác lên quyết định lựa chọn của người tiêu dùng.
Hàm hữu dụng (2.1) đối với cá nhân 𝑛 sẽ trở thành :
𝑈𝑖𝑛 = 𝑉𝑖𝑛 + 𝜀𝑖𝑛

(2.2)

Hanemann (1984) cho rằng Vi là thành phần có tính chất hệ thống và nhà nghiên
cứu có thể quan sát được; còn lại 𝜀𝑖 là phần nhà nghiên cứu không quan sát được và
được giả định là thành phần ngẫu nhiên. Vì vậy, phần Vi có thể giải thích cho sự khác
nhau trong lựa chọn còn đối với phần ngẫu nhiên 𝜀𝑖 thì không. Lý thuyết RUM giả
định rằng mỗi cá nhân có hành động hợp lý và dẫn đến lựa chọn phương án đem lại
mức hữu dụng cao nhất. Bởi vì khi thực hiện nghiên cứu, người nghiên cứu không
thể quan sát được hàm hữu dụng thực sự (𝑈𝑖 ), do đó một hàm hữu dụng dựa trên xác
suất được đưa ra để ước lượng. Cách giả định phân phối xác suất của phần ngẫu nhiên
sẽ quyết định dạng hàm sử dụng, những thảo luận chi tiết hơn về các mô hình dựa
trên nền tảng RUM sẽ được đưa ra trong phần tiếp theo. Giả sử cá nhận n đứng trước
việc chọn lựa giữa hai phương án i và j, xác suất để cá nhân này chọn phương án i
là:
𝑃𝑛𝑖 = 𝑃𝑟𝑜𝑏(𝑈𝑛𝑖 > 𝑈𝑛𝑗 ∀𝑗 ≠ 𝑖)
= 𝑃𝑟𝑜𝑏(𝑉𝑛𝑖 + 𝜀𝑛𝑖 > 𝑉𝑛𝑗 + 𝜀𝑛𝑗 ∀𝑗 ≠ 𝑖
= 𝑃𝑟𝑜𝑏(𝜀𝑛𝑗 − 𝜀𝑛𝑖 < 𝑉𝑛𝑖 − 𝑉𝑛𝑗 )∀𝑗 ≠ 𝑖.

(2.3)

Phương pháp thí nghiệm lựa chọn rời rạc được dựa trên việc tối đa hóa hữu dụng
và lý thuyết cầu, do vậy nhà nghiên cứu có thể ước lượng giá trị bằng tiền tệ cho các
phúc lợi, tổng hợp lại có thể ước lượng được mức sẵn lòng trả biên (MWTP); có thể



vào năm 2005, được đưa ra bởi nhà xuất bản Dover.
3


18

còn đối với trường hợp nhiều lựa chọn hơn mô hình được diễn giải như là một phân
phối có điều kiện của nhu cầu trong một tập chọn C với các tất cả các phương án có
thể (MacFadden, 2001).
Một trong những đóng góp quan trọng của McFadden đối với mô hình MNL, đó
là tìm ra mô hình xác suất của Luce phù hợp với lý thuyết RUM có phân bổ đồng
nhất, độc lập (Independently and Identically Distributed, IID) cho phần sai số ngẫu
nhiên khi và chỉ khi phần sai số ngẫu nhiên 𝜀𝑛𝑖 trong phương trình (2.3) được giả định
có phân phối Gumbel hay còn gọi là phân phối cực trị loại 1 (Extreme value type 1,
EV1) (MacFadden, 2001). Điều kiện trong giả định này là phần không quan sát được
hay phần sai số ngẫu nhiên không có tương quan với nhau ở các phương án và có
cùng phương sai cho tất cả các phương án, giả định này sẽ thuận tiện cho việc tính
toán xác suất lựa chọn và đưa đến mô hình xác suất có vi phân dạng đóng. Tất nhiên,
bất cứ mô hình lựa chọn rời rạc nào có phần hữu dụng không quan sát được thỏa điều
kiện IID thì hàm ý đã thỏa mãn điều kiện IIA (Brownstone, 2000). Để rõ ràng hơn
Bhat (2000) chia các giả định của mô hình MNL thành ba loại, bao gồm:
(1) Giả định thứ nhất của mô hình MNL, phần ngẫu nhiên trong hàm hữu dụng của
các phương án khác nhau tuân theo IID với một phân phối xác suất Gumbel.
(2) Giả định thứ hai của mô hình MNL, có sự đồng nhất trong phản ứng với các thuộc
tính của phương án qua các cá nhân hay có nghĩa là các cá nhân với các đặc tính
khác nhau nhưng phải có cùng cách lựa chọn khi đối mặt với các thuộc tính của
một sản phẩm nào đó.
(3) Giả định thứ ba của MNL, phần sai số của các phương án không tương quan và
có sai số bằng nhau qua các cá nhân khác nhau.
Phân phối xác suất theo dạng trên của phần sai số ngẫu nhiên sẽ làm phương trình

giá trị một, 𝑋𝑛𝑖 là các biến giải thích cho phần hữu dụng 𝑉𝑛𝑖 , thông thường bao gồm
các hệ số cắt đại diện cho đặc tính của phương án (ASCs), các thuộc tính của phương
án i và các đặc tính kinh tế xã hội của cá nhân n, 𝛽′ là véc-tơ hệ số hồi quy có liên hệ
với véc-tơ 𝑋𝑛𝑖 .
Mô hình MNL được sử dụng rất phổ biến trong nghiên cứu thực nghiệm thuộc
lĩnh vực kinh tế học hành vi. Tuy nhiên, không phải mô hình lý thuyết về hành vi lựa
chọn nào cũng tương ứng thỏa mãn đầy đủ theo điều kiện IIA (MacFadden, 2001).
Sự hạn chế lớn nhất của mô hình là việc ngầm giả định sở thích các cá nhân là đồng
nhất. Các giả định này không thực tế vì rất có thể yếu tố tác động làm bạn không chọn
đi xe buýt, có liên hệ chặt với yếu tố tác động làm bạn không chọn đi tàu điện ngầm
hoặc việc giả định các phương án độc lập với những phương án còn lại nhưng cũng
có thể xét trong hai khoảng thời gian thì việc lựa chọn lúc trước như đi xe buýt cũng
sẽ có ít nhiều ảnh hưởng đến phương án lựa chọn đi tàu điện ngầm giai đoạn sau. Vì
vậy, nếu ước lượng theo mô hình MNL nhưng điều kiện ràng buộc này bị vi phạm sẽ


20

dẫn đến ước lượng bị chệch và các dự báo xác suất chọn của mô hình có thể sai. Để
giải quyết những tính chất hạn chế của mô hình đơn giản MNL, một số mô hình như:
GEV (Generalized extreme value), Nested MNL và Multinomial Probit (MNP) được
phát triển dựa trên sự nới lỏng một phần trong số ba giả định của mô hình MNL. Mô
hình Mixed Multinomial logit (MMNL) rất linh hoạt khi áp dụng trong các nghiên
cứu thực nghiệm về lựa chọn rời rạc, được đưa ra trong nghiên cứu của MacFadden
và Train (2000). Mô hình MMNL tương tự như mô hình Conditional logit, tức là phần
sai số vẫn được giả định có phân phối cực trị theo IID, ngoại trừ việc để các hệ số
ước lượng thay đổi qua mỗi cá nhân. Những mô hình mở rộng nêu ra trên đây rất hữu
dụng trong các bối cảnh nghiên cứu khác nhau, nhưng vẫn hạn chế vì thiếu tính đại
diện một cách đầy đủ cho lý thuyết RUM trong nghiên cứu hành vi lựa chọn trong
kinh tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status