NHỮNG YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC MỞ ĐƯỜNG BAY SÀI GÒN –THƯỢNG HẢI - Pdf 27

LỜI MỞ ĐẦU
Đề án mở đường bay quốc tế Sài Gòn – Thượng Hải là bước đột phá
chiến lược nhằm vào hai mục tiêu: thứ nhất, tiếp tục phát triển mạng bay tới
Trung Quốc, một thị trường du lịch, hàng không lớn, có tốc độ phát triển cao
nhất trên thế giới trong thập niên đầu thế kỷ 21; thứ hai, tăng cường khai thác
khách thương quyền qua Việt Nam. Cho đến thời điểm này, các yếu tố khách
quan và chủ quan đã chín muồi để Việt Nam Airlines có thể thực hiện được
bước đột phá chiến lược này.
Về điều kiện khách quan, trước hết phải kể đến tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao của cả hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Đồng thời, tốc độ tăng trưởng
khách du lịch đi, đến châu Á nói chung và đặc biệt là đi, đến Trung Quốc và
Việt Nam sẽ đạt mức cao nhất thế giới trong những năm đầu thập niên của thế
kỷ 21. Tiếp theo, việc bình thường hoá quan hệ Việt –Trung vào năm 1991 và
các bước phát triển vượt bậc trong quan hệ giữa hai nước về biên giới, quan
hệ chính trị, kinh tế, văn hoá là một điều kiện khách quan thuận lợi, đồng thời
là một cơ hội để Việt Nam Airlines phát triển sang thị trường Trung Quốc.
Trong các quan hệ hợp kinh tế giữa hai nước, quan hệ về du lịch đã có một
bước phát triển vượt bậc đánh dấu bằng việc Trung Quốc công nhận Việt Nam
là điểm đến cho công dân Trung Quốc vào cuối năm 2000. Trước thời điểm
này, lượng khách du lịch giữa hai nước cũng đã đạt số lượng và tốc độ phát
triển đột biến mặc dù những hạn chế về xuất nhập cảnh.
Về điều kiện chủ quan Việt Nam Airlines cũng đã đạt đến độ chín trong
sự phát triển cả về tiềm lực kinh tế cũng như trình độ, kinh nghiệm của lực
lượng cán bộ, nhân viên để có thể tham gia vào những thị trường có tốc độ
cạnh tranh khốc liệt. Sau thời kì 15 năm phát triển liên tục với tốc độ cao,
vượt qua những cuộc khủng hoảng tài chính khu vực và cùng với sự trợ giúp
của chính phủ, Việt Nam Airlines đã có được một cơ sở vật chất kĩ thuật, đội
bay tương đối khá và đội ngũ nhân viên trưởng thành. Mặt khác cũng sau giai
đoạn phát triển liên tục này, Việt Nam Airlines đã gặp các khó khăn về thị
trường nếu chỉ tập trung khai thác thị trường khách thương quyền 3,4 và đến
lúc cần điều chỉnh cơ cấu mạng bay và thị trường để có thể phát triển theo

Năm 1995, Tổng công ty hàng không Việt Nam được thành lập với tư
cách là một tập đoàn kinh doanh vận tải hàng không có quy mô lớn của nhà
nước. Tổng công ty có chức năng nhiệm vụ kinh doanh, dịch vụ, phục vụ về
vận tải hàng không đối với hành khách, hàng hóa ở trong nước và nước ngoài,
trong đó có xây dựng kế hoạch phát triển, đầu tư, xây dựng, tạo nguồn vốn,
thuê và mua sắm tầu bay, bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị, xuất nhập khẩu vật
tư thiết bị, phụ tùng, nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ cho hoạt động kinh
doanh của Tổng công ty; liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế trong
nước và nước ngoài. Từ đó đến nay, Việt Nam Airlines đã đạt được sự tăng
trưởng vững chắc trong kinh doanh vận chuyển hành khách và các loại hình
dịch vụ khác
Trong 3 năm trở lại đây, Vietnam Airlines không ngừng phát triển mạng
bay và tiếp tục mở thêm nhiều đường bay mới quốc tế và nội địa. Hiện nay,
Việt Nam Airlines khai thác và hợp tác đến 18 thành phố trong nước và 38
thành phố trên thế giới ở châu Âu, châu Á, châu Úc và Bắc Mỹ.
Năm 2006, Vietnam Airlines đã vận chuyển được gần 6,8 triệu hành
khách trong đó có gần 3,1 triệu khỏch trờn cỏc chuyến bay quốc tế, và 3,7
triệu khỏch trờn cỏc chuyến bay nội địa. Ngoài ra, Vietnam Airlines cũng
chuyên chở được khoảng 106 nghìn tấn hàng hoá.
Để làm cho sản phẩm của Vietnam Airlines đa dạng, phong phú và tiện
lợi hơn đối với hành khách, Việt Nam Airlines đã liên danh liên kết với nhiều
đối tác trên thế giới thông qua các hợp tác liên doanh; liên danh trao đổi chỗ
và các hợp đồng trao đổi; chia chặng đặc biệt
1.2. Nhiệm vụ chức năng của công ty Việt Nam Airlines
Hiện nay, phạm vi kinh doanh của Tổng công ty Hàng không Việt Nam
bao gồm những lĩnh vực sau: Kinh doanh, dịch vụ và phục vụ vận tải hàng
không đồng bộ đối với hành khách, hàng hóa ở trong nước và nước ngoài.
Bên cạnh đó, Tổng công ty Hàng không Việt Nam còn kinh doanh một số
ngành nghề khác như: Xăng dầu, các dịch vụ thương mại tại các cảng hàng
không, dịch vụ ủy thác xuất – nhập khẩu, các dịch vụ thương mại tổng hợp,

Biên, Nà Sản, Huế, Nha Trang. Từ Đà Nẵng cú cỏc đường bay thẳng đi Hà
Nội, Hải Phòng, Vinh, Nha Trang. Từ thành phố Hồ Chí Minh cú cỏc đường
bay đến Playku, Buôn Ma Thuột, Đà Lạt, Phú Quốc, Rạch Giá. Các đường
bay này đã liên kết với nhau tạo thành một mạng lưới giao thông thuận tiện
phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân trong nước.
Thị trường hàng không nội địa của Việt Nam Airlines tăng trưởng rất
nhanh qua các năm. Năm 1991 là năm mà kinh tế Việt Nam bắt đầu tăng
trưởng thì lúc đó cả nước mới có 9 đường bay nội địa, vận chuyển được
250.000 lượt khách và 2,4 nghìn tấn hành hoá. Đến năm 1993 mạng nội địa
đã bao phủ cả nước với 18 đường bay. Trong năm 1993 này tổng công ty
hàng không Việt Nam đã tập trung củng cố mạng bay thông qua điều chỉnh cơ
cấu đường bay, lịch khai thác và tăng tần suất. Nhờ những nỗ lực đó cho đến
nay Việt Nam Airlines đó cú một mạng bay nội địa hệ thống hoá theo hướng
trục nan, đáp ứng được nhu cầu đi lại và nối chuyến thuận lợi.
Mạng đường bay nội địa hiện nay đã khai thác được 17 điểm, 23 đường
bay nối ba trung tâm chính là Hà Nội, Sài Gòn và Đà Nẵng, lấy 3 trung tâm
này làm trục. Năm 1993, tải hành khách là 65.000. Từ đó đến nay thị trường
hàng không tăng trưởng rất nhanh, vận tải hành khách tăng trung bình
25%/năm, hàng hoá trung bình tăng 30%/năm. Năm 2001, tổng lượt khách
nội địa là 2,2 triệu lượt, khách nước ngoài chiếm 28%, tổng sản lượng hàng
hoá vận chuyển lên đến 35000 tấn, chiếm 85% thị phần hành khách và 75%
thị phần hàng hoá. Năm 2002, lượng khách vận chuyển trên mạng nội địa đã
tăng lên 20%, hàng hoá vận chuyển đã tăng 26% so với cựng kỡ năm ngoái.
Mười năm sau khi tiến hành thực hiện tổng cải cách 1993-2004, lượng khách
vận chuyển tăng lên gấp 4 lần, thị phần đạt 88%. Năm 2005, tổng lượng
khách quốc tế, nội địa đã đạt 10.038.206 khách, tăng 17,8% so với năm 2004.
Trong đó khách quốc tế đạt 6.306.185 khách, tương đương với mức tăng là
116,8%, khách nội địa đạt 3.732.021 khách, đạt mức tăng trưởng là 119,6%
so với cựng kỡ năm 2004. Số ghế luân chuyển tăng lên 16,9%, ghế suất đạt
69,4%, thị trường tăng lên 3,9 điểm. Trong đó mạng nội địa tăng 19,6%, thị

Hiện nay Vietnam Airlines đã ký 89 Hợp đồng công nhận chứng từ vận
chuyển với các hãng hàng không quốc tế và 10 Hợp đồng Liên danh khai thác
với các đối tác lớn trong khu vực là Cathay Pacific, Korean Air, Singapore
Airlines, China Airlines, China Southern Airlines, Japan Airlines, Philippine
Airlines, Malaysia Airlines, Laos Airlines và American Airlines. Việt Nam
Airlines tiếp tục duy trì và củng cố quan hệ hợp tác lâu dài và liên doanh với
các hãng, trao đổi về việc thay đổi lịch bay và số chỗ, mua bán chỗ phù hợp
với kế hoạch khai thác, khả năng bán và quyền lợi mỗi bờn. Trong tình hình
cạnh tranh gay gắt hiện nay thì việc nâng cao chất lượng sản phẩm và thực
hiện hợp tác quốc tế là điều Việt Nam Airlines không thể tránh khỏi nếu
muốn giữ được thị phần đáng kể như hiện nay.
1.4. Trung Quốc
1.4.1. Vị trí địa lý, dân số
Trung Quốc nằm ở phía Đông của Châu Á, có đường biên giới bộ với
Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG), Mông Cổ, Triều Tiên, Ấn Độ,
Pakistan, Lào, Việt Nam v.v , biên giới biển với biển Nam Trung Quốc (biển
Đông), Vịnh Triều Tiên, Hoàng Hải. Trung Quốc cú diện tích là 9,6 triệu Km
2
(chiếm 1/5 diện tích đất trên toàn thế giới) là nước lớn thứ 3 trên thế giới; có
thủ đô là Bắc Kinh. Trung Quốc được chia làm 23 tỉnh, 5 vùng tự trị, 4 đặc
khu kinh tế và hai đặc khu hành chính là Hồng Kụng và Ma Cao. Trung Quốc
có 663 thành phố, trong đó có 16 thành phố trên hai triệu dân ( thống kê của
năm 2005 ).
Với dân số gần 1.6 tỷ, Trung Quốc là nước đông dân nhất trên thế giới
gồm có 56 dân tộc khác nhau, trong đó người Hán chiếm tới 91%. Tiếng phổ
thông là quốc ngữ dùng trong giao tiếp và là một trong 5 ngôn ngữ chính của
Liên Hợp Quốc. Trung Quốc có nhiều tôn giáo khác nhau, trong đó các tôn
giáo chính là Phật Gớao, Thiên Chúa Gớao, Tin lành, đạo Lão, đạo Hồi. Như
vậy Trung Quốc là một quốc gia có vị trí địa lý thuận tiện cho việc đi lại với
rất nhiều các quốc gia cả bằng đường hàng không, đường thuỷ hay đường bộ.

kỷ 20, Trung Quốc đó vươn lên vị trí dẫn đầu thế giới về tốc độ tăng trưởng
kinh tế, xếp thứ hai về đầu tư nước ngoài và dự trữ ngoại tệ, xếp thứ 7 về
GDP, xếp thứ 8 về doanh thu du lịch và xếp thứ 10 về ngoại thương Thị
trường vận chuyển hàng hoá của Trung Quốc cú quy mô rất lớn và ngày càng
tăng trưởng mạnh. Trung Quốc đó xuất ra các nước khác rất nhiều hàng hoá
từ những nguyên vật liệu thô, rau quả cho đến các sản phẩm máy móc tinh vi
khác. Những hàng hoá này được vận chuyển không chỉ bằng đường thuỷ,
đường bộ mà còn được vận chuyển bằng đường sắt, đường hàng không,
nguồn hàng vận chuyển rất dồi dào và ổn định.
Kinh tế ngày càng phát triển nhanh làm cho thu nhập của người dân
Trung Quốc được tăng lên khá nhiều trong thời gian qua. Mức sống của đại đa
số tầng lớp dân cư được nâng cao hơn, đời sống của người dân được cải thiện
đáng kể. Khác với trước đõy, những dịch vụ xa xỉ như du lịch được người dân
Trung Quốc sử dụng ngày càng nhiều, cả du lịch trong nước lẫn du lịch quốc
tế. Tổng lượng khách du lịch Trung Quốc chiếm khoảng 13% số khách du lịch
thế giới và khoảng 30% khách du lịch đến Việt Nam. Các quốc gia Đông Nam
Á là những điểm du lịch thu hút người dân Trung Quốc đi đến nhiều nhất do
giao thông thuận tiện, giá cả phù hợp với khả năng chi trả của họ. Việc di
chuyển bằng đường hàng không khi đi du lịch được đa số người dân lựa chọn
do tính tiện dụng của nó mang lại. Hơn nữa hiện nay chính phủ Trung Quốc
đang hạn chế công dân nước mình xuất nhập cảnh sang các nước láng giềng
bằng đường bộ nên số lượng khách du lịch chọn máy bay làm phương tiện di
chuyển của mình ngày càng tăng lên. Số lượng khách du lịch Trung Quốc đến
Việt Nam bằng đường hàng không tăng khoảng 23,7% mỗi năm. Trung bình
một năm, số người dân Trung Quốc sử dụng dịch vụ đi lại bằng đường hàng
không tăng lên khoảng từ 9-11%. Như vậy thị trường các dịch vụ đi lại của
Trung Quốc nhất là các dịch vụ di chuyển bằng đường hàng không đang tăng
trưởng rất nhanh. Đây chính là một cơ hội lớn cho các nhà khai thác dịch vụ
hàng không nói chung và Việt Nam Airlines nói riêng
1.4.3. Đầu tư

ra nước ngoài dưới hình thức đi chủ trì các hội nghị và viếng thăm. Năm
1978, Trung Quốc đó tiếp nhận 700.000 du khách và thu được 260 triệu USD,
chỉ đứng thứ 41 trên thế giới.
+ Giai đoạn thứ hai (1978 -1988): Du lịch Trung Quốc đó tự mở cửa ra
thế giới. Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện chính sách khuyến khích các tổ
chức và các cá nhân, trong và ngoài nước tham gia phát triển công nghiệp du
lịch. Nhờ những nỗ lực bền bỉ đó, công nghiệp du lịch Trung Quốc đó tăng
trưởng tốc độ cao. Trung Quốc đã tham gia Tổ chức du lịch thế giới vào năm
1983. Những mục tiêu nhằm vào khách du lịch và thu nhập từ ngoại hối bắt
đầu được kết hợp chặt chẽ trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội quốc gia
từ năm 1986. Đây là một bước ngoặt lịch sử khi công nghiệp du lịch Trung
Quốc trở thành một phần của nền kinh tế. Hơn 4,3 triệu du khách đã được xắp
xếp để thăm quan Trung Quốc và đã đem lại khoản thu nhập là 2,24 tỷ USD
trong năm 1988.
+ Giai đoạn thứ ba (1989-1990) :Năm 1989, do sự kiện Thiên An Môn,
một số quốc gia phương Tây đã lợi dụng để thiết lập lệnh cấm vận lên ngành
du lịch Trung Quốc. Để đối phó, Trung Quốc đó đấu tranh để duy trì ngành
công nghiệp này và ngăn chặn sự giảm tốc độ nghiêm trọng chỉ trong vòng có
2 năm. Năm 1990, du lịch Trung Quốc đó thu được 2,21 tỷ USD, xấp xỉ với
mức thu của năm 1988.
+ Giai đoạn thứ tư (bắt đầu từ năm 1991): Đó cú một sự tăng trưởng
mạnh mẽ trong ngành công nghiệp du lịch Trung Quốc. Năm 1991, du lịch
Trung Quốc đó cú một cuộc cải cách về quản lý, phương pháp thu hút khách
du lịch, cải tiến chất lượng dịch vụ và thu được nhiều ngoại tệ hơn. Kết quả là
đã có được sự hồi phục và phát triển toàn diện hơn trong ngành du lịch Trung
Quốc. Trong những năm tiếp theo, Nhà chức trách du lịch quốc gia Trung
Quốc (NTA) và các tổ chức khỏc đó tổ chức thành công nhiều chiến dịch xúc
tiến du lịch theo chủ đề như: thăm quan hữu nghị 1992, thăm quan phong
cảnh 1993 và thăm quan thành thị, nông thôn của Trung Quốc. Cỏc hoạt động
này đã đóng góp vai trò quan trọng trong việc tăng cường và cải thiện cơ cấu

64 triệu đến 71 triệu người và khách nội địa đạt 2 đến 2,5 tỷ người. Nguồn thu
ngoại tệ từ du lịch quốc tế đạt 38 đến 43 tỷ USD và từ du lịch trong nước đạt
1 đến 1,05 nghìn tỷ nhân dân tệ.
CHƯƠNG II: NHỮNG YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG
TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC MỞ ĐƯỜNG BAY SÀI GềN –
THƯỢNG HẢI.
2.1 Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có quan hệ truyền thống
lâu đời và hơn 1.400 km đường biên giới trên đất liền và biên giới phân định
trên biển ở Vịnh Bắc Bộ. Hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao
ngày 18/01/1950. Sau sự kiện bình thường hoá quan hệ Việt- Trung (1991),
quan hệ giữa hai nước đã bước sang giai đoạn phát triển mới. Trong cuộc gặp
lịch sử ở Bắc Kinh giữa Tổng bí thư Giang Trạch Dân và Nguyên Tổng bí
thư Lê Khả Phiêu, phương châm chỉ đạo quan hệ giữa hai Đảng hai nước đã
được khắc ghi bằng 16 chữ vàng: “Lỏng giềng hữu nghị.Hợp tác toàn diện.
Ổn định lâu dài. Hướng tới tương lai”.
Sự hợp tác giữa hai nước trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương
mại, du lịch v.v. đều đang phát triển mạnh mẽ, mang lại hiệu quả thiết thực
đáng khích lệ. Nổi bật là việc hai nước đã ký Hiệp ước về biên giới trên đất
liền tháng 12/1999 và dự kiến sẽ kí kết chính thức hiệp định nghề cá trên
Vịnh Bắc Bộ trong thời gian tới. Trong những năm 2000, dự tính kim ngạch
thương mại giữa hai nước đạt 2,5 tỷ USD. Về hợp tác đầu tư, Trung Quốc đã
cho Việt Nam vay ưu đãi tổng cộng 280 triệu NDT. Việt Nam đã cấp giấy
phép cho 63 dự án đầu tư của Trung Quốc với tổng số vốn đầu tư 132 triệu
USD. Mối quan hệ hữu nghị của hai quốc gia đã đem lại rất nhiều thuận lợi
cho việc phát triển du lịch giữa hai nước. Về du lịch, trong năm 2006, số
khách du lịch Trung Quốc đến Việt Nam đã đạt khoảng gần 1 triệu lượt khách
( chủ yếu là du lịch qua biên giới sử dụng giấy thông hành ), tăng gần 30% so
với năm 2000 và chiếm khoảng 30% tổng khách du lịch nước ngoài đến Việt
Nam.

0
10’ – 10
0
38 vĩ độ bắc và 106
0
22’ – 106
0
54

kinh độ đông. Phía Bắc
giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp
tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp
tỉnh Long An và Tiền Giang.
Thành phố Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội gần 1.730km đường bộ, nằm
ở ngã tư quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ éụng
sang Tây, là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á. Trung tâm thành phố cách
bờ biển Đông 50 km đường chim bay. Đây là đầu mối giao thông nối liền các
tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế . Với hệ thống cảng và sân bay lớn nhất
cả nước, cảng Sài Gòn với năng lực hoạt động 10 triệu tấn /năm. Sân bay
quốc tế Tân Sơn Nhất với hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành phố
7km.
Thành phố thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm văn hoá, kinh tế chính trị
lớn nhất cả nước. Thành phố chiếm 0.6% diện tích và 6.6% dân số so với cả
nước, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là trung tâm kinh tế của
cả nước, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Thành phố là nơi hoạt động kinh tế
năng động nhất, đi đầu trong cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nếu như
năm 2001 tốc độ tăng GDP của thành phố là 7,4 % thì đến năm 2005 tăng lên
12,2%. Phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao đã tạo ra mức đóng góp
GDP lớn cho cả nước. Tỷ trọng GDP của thành phố chiếm 1/3 GDP của cả
nước. Có thể nói thành phố là hạt nhân trong vùng Kinh tế trọng điểm phía

lên trung bình khoảng 15% mỗi năm, trong đó khách Trung Quốc là tăng
nhanh nhất, 38% một năm. Thị trường khách Trung Quốc tăng trưởng nhanh
như vậy là một điều kiện thuận lợi cho việc mở đường bay mới từ Việt
Nam đến Trung Quốc, nhất là đến một thành phố lớn như Thượng Hải. Khi
đường bay Sài Gòn – Thượng Hải được mở chắc chắn thị trường khách du
lịch Trung Quốc sẽ là thị trường tiềm năng cho Việt Nam Airlines khai thác.
Doanh thu ngành du lịch của thành phố thành phố Hồ Chí Minh năm
2006 đạt 13.250 tỷ đồng, tăng 23% so với năm 2005. Công tác xúc tiến,
quảng bá du lịch đã phát huy các phương tiện thông tin đại chúng, nâng cao
chất lượng chuyên mục du lịch trờn cỏc bỏo lớn, truyền hình, tăng cường
và nâng cao hiệu quả các đợt tham dự hội chợ du lịch chuyên nghiệp khu
vực và các thị trường trọng điểm. Triển khai chương trình xét chọn và công
nhận 100 điểm mua sắm đạt chuẩn du lịch. Đến nay, có 142 khách sạn được
xếp hạng, trong đó 35 khách sạn 3 đến 5 sao với 5.740 phòng và 346 doanh
nghiệp lữ hành đủ điều kiện kinh doanh. Thành phố thành phố Hồ Chí Minh
đã và đang trở thành một điểm đến hấp dẫn đối với khách du lịch quốc tế
nói chung và khách Trung Quốc nói riêng. Hoạt động quản lý du lịch đã
được các nhà lãnh đạo thành phố chú trọng và phát triển. Cơ sở hạ tầng
phục vụ du lịch của thành phố đã và đang được nâng cấp, hoạt động du lịch
cũng trở nên chuyên nghiệp hơn trước rất nhiều. Các hoạt động quảng bá du
lịch cũng được lãnh đạo thành phố hết sức chú trọng. Những lễ hội lớn như
lễ hội hoa quả, lễ hội bánh tét, lễ hội đặc sản miền sông nước đã được tổ
chức ngày càng nhiều thu hút được rất nhiều du khách tham gia. Thị trường
khách du lịch, nhất là thị trường khách du lịch đi bằng đường hàng không
đến thành phố tăng lên nhanh chóng sẽ là một thị trường lớn cho Việt Nam
Airlines. Trong tương lai khi các đường bay thẳng mới như đường bay Sài
Gòn – Thượng Hải được mở thì sẽ là một cơ hội lớn cho việc phát triển cả
thị trường hàng không và thị trường du lịch của nước ta nói chung và thành
phố thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
2.3 Thành phố Thượng Hải

2
có phong cảnh rất hữu tình. Ven biển thành phố có các đảo lớn như
Sùng Minh, Trường Hưng, trong đó đảo Sùng Minh có diện tích 1.083 km
2
, là
đảo lớn thứ ba của Trung Quốc.
-Đơn vị hành chính:
Thành phố Thượng Hải phân thành 18 khu và 1 huyện: Các khu Hoàng
Phố, Phố Đông, Sạp Bắc, Trường Ninh, Dương Phố, Phổ Đà, Lô Loan, Tịnh
An, Bảo Sơn, Từ Hối, Hồng Khẩu, Gia Định, Mân Hàng, Tùng Giang, Kim
Sơn, Thanh Phố, Nam Hối, Phụng Hiền và một huyện Sùng Minh.
- Lịch sử:
Thượng Hải có tên gọi tắt là “Hộ” hoặc “Thõn”. Cách đây khoảng 6.000
năm về trước, vùng phía tây Thượng Hải bây giờ đã hình thành, cũn vựng
phía Đông có lịch sử hình thành ngắn hơn, vào khoảng 2000 năm. Vào thời
Xuân Thu Chiến Quốc, Thượng Hải là đất phong của Xuõn Thõn Quõn
Hoàng Yết nước Sở, do vậy Thượng Hải còn có tên là “Thõn”. Vào thời nhà
Tấn (thế kỷ IX, V trước Công nguyên), các cư dân ở vùng vùng Tùng Giang
đa phần sinh sống bằng nghề đánh cá, họ chế tạo một công cụ đánh cá làm
bằng nan tre gọi là “hộ”, từ đó cả vùng này còn có tên là “Hộ”.
Năm 751 vào thời nhà Đường, khu vực Thượng Hải thuộc huyện Hoa
Đình, phạm vi từ phía bắc đến vùng Hồng Khẩu ngày nay, phía nam giáp
biển, phía đông đến Hạ Sa.
Năm 1267 vào thời nhà Nam Tống, bờ tây Thượng Hải Phố bắt đầu xây
dựng thị trấn, đặt tên là trấn Thượng Hải. Năm 1292, nhà Nguyờn tỏch trấn
Thượng Hải khỏi huyện Hoa Đình, thành lập huyện Thượng Hải, đánh dấu
lịch sử bắt đầu xây dựng thành phố Thượng Hải.
Từ thế kỷ XV thời nhà Minh, Thượng Hải trở thành trung tâm thủ công
nghiệp của cả nước. Năm 1658, vua Khang Hy nhà Thanh thiết lập hải quan
Thượng Hải. Đến giữa thế kỷ XIX, Thượng Hải trở thành hải cảng tập trung

hàng đầu cả nước. Ngành luyện kim, tơ sợi, sản xuất ụtụ, điện khí gia dụng…
có quy mô sản xuất lớn. Ngành công nghiệp dệt may của Thượng Hải cũng rất
phát triển, chiếm khoảng 60% hàng xuất khẩu của thành phố này.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, thu nhập tài chính của
thành phố liên tục tăng trưởng với mức tăng bình quân mỗi năm 18,5%. Năm
2005, Thượng Hải hoàn thành mức thu tài chính 409,6 tỷ NDT. GDP tăng
nhanh cũng làm cho mức sống của người dân tăng lên nhanh chóng. Thượng
Hải được coi là thành phố có mức sống cao nhất Trung Quốc, cỏc dịch vụ xa
xỉ được người dân sử dụng rất nhiều. Tỷ lệ người dân Thượng Hải sử dụng
dịch vụ đi lại bằng đường hàng không tăng lên nhanh hơn mức tăng trung
bình của người dân Trung Quốc là 4% tương đương với 13-17% mỗi năm.
Việt Nam cũng là một trong những địa điểm được người dân Thượng Hải ưa
thích khi đi du lịch do chi phí không cao lắm, phù hợp với khả năng chi trả
của đại đa số người dân.
Thượng Hải có 16 di tích bảo vệ trọng điểm cấp quốc gia, 114 di tích bảo
vệ cấp thành phố, 29 di tích kỉ niệm. Thượng Hải giữ được nhiều di tích, nhà
vườn đặc sắc thời Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Các danh thắng nổi
tiếng cú chựa cổ Tịnh An được xây dựng từ thời Tam Quốc, chùa cổ Long
Hoa, chùa Ngọc Phật, Dự Viên, Khổng Miếu Gia Định, hồ Túy Bạch. Các
thắng cảnh hiện đại có Bến Thượng Hải, tháp truyền hình Đông Phương…
Với rất nhiều cảnh đẹp như vậy Thượng Hải đã thu hút được hàng triệu khách
du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa mỗi năm. Năm 2005, doanh thu về du
lịch đạt 58,5 tỷ NDT, tăng 15,8% so với năm trước, chiếm 6,4% GDP toàn
thành phố, đón tiếp 5,714 triệu lượt khách quốc tế với doanh thu 3,608 tỷ
USD; đón 90,12 triệu lượt khách nội địa với doanh thu 13,084 tỷ NDT, tăng
7,6%. Thượng Hải cũng là địa danh được người dân Việt Nam ưa thích khi đi
du lịch Trung Quốc, nhất là trong thời gian gần đây số tour du lịch Trung
Quốc trong đó có Thượng Hải là một trong những điểm đến đã tăng vọt,
khoảng 40% một năm. Thị trường khách du lịch Việt Nam đến Thượng Hải
đang tăng lên rất nhanh, nhất là thị trường khách du lịch đi bằng đường hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status