ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----***-----
NGUYỄN THỊ NGỌC PHƢƠNG
NHỮNG YẾU TỐ TÂM LÝ
TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC SINH CON THỨ BA TRỞ
LÊN
CỦA NGƢỜI DÂN HUYỆN GIA LÂM - HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI - 2009
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dân số và sự gia tăng dân số từ lâu đã trở thành mối quan tâm của nhiều
quốc gia trên thế giới, đặc biệt đối với các nước đang phát triển có tốc độ gia tăng
dân số nhanh. Các vấn đề thuộc về dân số luôn đi liền với các vấn đề về phát triển
bền vững của các quốc gia, tương lai của dân tộc phụ thuộc vào ý thức trách nhiệm
và sự nỗ lực của mỗi cá nhân. Việt Nam sẽ sống trong nghèo đói hay phồn vinh,
trong bất công hay bình đẳng, trong bệnh tật hay khỏe mạnh, trong môi trường suy
thoái, cạn kiệt hay môi trường mà con người và thiên nhiên được sống trong sự
phát triển bền vững… điều đó liên quan chặt chẽ đến sự quan tâm của chúng ta tới
công tác dân số/KHHGĐ. Như một nhà hiền triết đã từng nói “Trái đất này không
phải chúng ta thừa hưởng của các bậc tiền bối mà chúng ta mượn trước của thế hệ
mai sau, làm tốt công tác dân số có nghĩa là chúng ta để lại cho con cháu chúng ta
một trái đất xanh tươi, nơi mà con người và thiên nhiên phát triển một cách hài
hòa và cân đối”.
thể cắt nghĩa được các xu thế hiện đại của dân số chỉ bằng các nhân tố lịch sử, kinh
tế xã hội và nhân khẩu, hay coi đó là kết quả của của một chính sách dân số nào
đó, vấn đề gia tăng dân số nói chung và hành vi sinh đẻ nói riêng còn chịu tác động
trực tiếp của các yếu tố tâm lý cá nhân và tâm lý xã hội.
Qua việc tìm hiểu các tài liệu và các nghiên cứu có liên quan, chúng ta thấy
những vấn đề các yếu tố tác động đến hành vi sinh đẻ, đến mức sinh và đến sự gia
tăng dân số được nghiên cứu khá nhiều ở nhiều góc độ: dân số học, xã hội học,
kinh tế học và tâm lý học…. Tuy nhiên, nghiên cứu về các yếu tố tâm lý tác động
đến việc người dân quyết định sinh con thứ ba trở lên thì chưa có một nghiên cứu
cụ thể nào.
Xuất phát từ những vấn đề đã nêu ở trên, chúng tôi - những người nghiên
cứu khoa học rất tâm huyết với công tác Dân số/KHHGĐ- nhận thấy cần phải có
trách nhiệm góp phần vào việc nghiên cứu và kiến nghị tìm giải pháp để thực hiện
công tác Dân số/KHHGĐ tốt hơn. Trong giới hạn nghiên cứu, chúng tôi chọn đề
tài là “Những yếu tố tâm lý tác động đến việc sinh con thứ ba trở lên của người
dân huyện Gia Lâm”. Với mong muốn từ kết quả thu được không chỉ có ý nghĩa
khảo sát thực tiễn mà còn giúp những người làm công tác dân số – KHHGĐ nhận
thức được những yếu tố tâm lý thực sự tác động đến người dân trong việc quyết
định sinh thêm con thứ ba trở lên, từ đó đề ra được những kiến nghị về giải pháp
nhằm hạn chế được mức sinh con thứ ba trở lên cao trên cơ sở tác động tích cực
vào những yếu tố tâm lý đó. Ngoài ra, chúng tôi còn hy vọng qua nghiên cứu này
góp phần bổ xung cơ sở lý luận của một hướng nghiên cứu mới cho phân ngành
tâm lý học dân số.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những yếu tố tâm lý: nhận thức, thái độ và hành vi
sinh con thứ ba trở lên của người dân huyện Gia Lâm, đề tài đề xuất một số kiến
nghị và giải pháp nhằm góp phần làm giảm và hạn chế việc sinh con thứ ba trở lên
trên địa bàn huyện.
150 người đã sinh con thứ ba trở lên trong độ tuổi sinh đẻ (từ 25 đến 49
tuổi).
6. Giả thuyết khoa học
6.1. Các yếu tố nhận thức, thái độ là những yếu tố tâm lý tác động đến hành
vi sinh con thứ ba trở lên của ngời dân huyện Gia Lâm tuy nhiên trên thực tế có
nhiều trường hợp giữa nhận thức, thái độ và hành vi có khoảng cách nhất định
(nhận thức tốt, thái độ tốt nhưng vẫn sinh con thứ ba trở lên).
6.2. Nếu chúng ta có những biện pháp tuyên truyền, giáo dục về nhận thức
cho người dân một cách phù hợp về những ảnh hưởng tiêu cực của việc sinh con
thứ ba trở lên và có chế tài xử lý nghiêm khắc những trường hợp vi phạm thì có thể
góp phần đáng kể vào việc thực hiện tốt chính sách dân số – kế hoạch hoá gia đình
trên địa bàn huyện.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi đề ra các phương pháp cụ
thể bao gồm:
7.1. Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu.
7.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (anket).
7.3. Phương pháp phỏng vấn sâu.
7.4. Phương pháp xin ý kiến chuyên gia.
7.5. Phương pháp nghiên cứu trường hợp.
7.6. Phương pháp thống kê toán học.
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Sinh đẻ là yếu tố chính cho sự thay thế sinh học để duy trì xã hội loài người.
Việc dân số được thay thế thông qua hành vi sinh đẻ là một quá trình phức tạp và
sống thấp thì mức sinh đẻ cao và ngược lại. A. Smith cũng đưa ra một kết luận
tương tự “ Nghèo đói tạo khả năng cho sự sinh đẻ”. Còn K.Marx, khi nghiên cứu
mối quan hệ giữa thu nhập và sinh đẻ cũng khẳng định “số sinh tỷ lệ nghịch với
quy mô của cải mà người dân có” (7).
Theo quan điểm kinh tế đơn thuần, trẻ em không phải là một lĩnh vực đầu tư
tốt, chi phí nuôi dưỡng cao mà lợi ích kinh tế thấp, trong đó xã hội ngày càng phát
triển thì lương và trợ cấp cho người già đảm bảo và họ không cần đến con. Vì vậy,
David đã khẳng định “ Nếu kinh tế là quyết định thì có lẽ không có một ai trong xã
hội hiện đại sẽ có con nữa”. Tuy nhiên, với lý thuyết động lực kinh tế, Liebenstein
cho rằng “cha mẹ sẽ tính toán lợi ích và chi phí sinh con sau đó sẽ quyết định số
con mà họ muốn có” (38).
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên không thể cắt nghĩa được các xu thế hiện đại
của dân số chỉ bằng các nhân tố lịch sử, xã hội, kinh tế và nhân khẩu. Chủ thể và
khách thể của hành vi sinh đẻ là con người – một thực thể có ý thức và ý chí, có
những đặc điểm tâm lý nhất định, sống trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định
cho nên các nhân tố tâm lý như ý thức, nhu cầu, động cơ, thuộc tính nhân cách ảnh
hưởng rất lớn đến hành vi sinh đẻ của con người.
J.T. Fawceet (1970) khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sinh đẻ đã
chỉ ra các giá trị và phong cách sống của cá nhân, các chức năng của trẻ con đối
với con người ở các trình độ khác nhau của xã hội, các động cơ sinh đẻ và nhu cầu
về con cái (24, tr 25).
K.Lungwitz (CHDC Đức) đã liệt kê các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sinh
đẻ bao gồm: sự không thỏa mãn về các điều kiện nhà ở, phạm vi sinh hoạt làm tăng
thêm sự sử dụng một cách có ý thức các phương pháp tránh thai, sự mâu thuẫn
giữa các quyền lợi xã hội và cá nhân về dân số những nguyên nhân làm giảm tỷ lệ
sinh đẻ không mang tính chất nhân khẩu (24, tr 21).
Nhà nghiên cứu người Hungari R.Andoocka coi giáo dục và tôn giáo thuộc
những hiện tượng tâm lý xã hội ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh đẻ (28).
Cần Thơ”. Tác giả của đề tài rất chú trọng đến phụ nữ và các đặc trưng có ảnh
hưởng đến tâm lý người phụ nữ trong việc quyết định sinh con, đó là: nghề nghiệp,
trình độ học vấn, tình hình tham gia sinh hoạt đoàn thể, tình hình đọc báo của phụ
nữ…(16).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Đặng Nguyên Anh (2007), Xã hội học dân số, NXB KHXH, Hà Nội.
2. B.S.Bloom và cộng sự (1975), “Hệ phân loại mục tiêu sư phạm, lĩnh vực nhận thức” Tạp chí Đại học
(10).
3. Ban chấp hành trung ương Đảng (1993), Nghị quyết Trung ương 4 Khoá VII ngày 14/01/1993 về chính
sách Dân số & KHHGĐ.
4. Trần Bình (2002), “Một số vấn đề về số con trong các gia đình dân tộc ít người”, Tạp chí Dân số và
phát triển (9) tr. 24-28.
5. Trần Anh Châu (2005), “Một số yếu tố tâm lý tác động đến việc sinh con”, Tạp chí tâm lý học (7)
6. Chính phủ (2003) Nghị định 104/2003/NĐ- CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Pháp lệnh Dân số
7. Phạm Đại Đồng (2002), “Một số phân tích về ảnh hưởng phát triển kinh tế đến mức sinh” Tạp chí Dân
số và phát triển (10), tr. 27-29.
8. PGS.TS Trần Thị Minh Đức (chủ biên), Hoàng Xuân Dung, Đỗ Hoàng (2006), Định kiến và phân biệt
đối xử theo giới: lý thuyết và thực tiễn, NXB ĐHQG Hà Nội.
9. Lê Văn Định,Vũ Mạnh Lợi (2002), Khảo sát đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh ở một số xã
thuộc vùng công giáo huyện Kim Sơn.
10. Phạm Minh Hạc (1999), Tâm lý học tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội.
11. Phạm Minh Hạc (chủ biên) (1998), Giáo trình tâm lý học, NXB giáo dục, Hà Nội.
12. Phạm Minh Hạc (chủ biên) Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành (2001), Tâm lý
học đại cương, NXB ĐHQG HN.
13. Phạm Minh Hạc (chủ biên) (2004), Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách, NXB Chính trị quốc gia.
30. Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá XI (2003) Pháp lệnh dân số .
31. Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá XII (2008) Pháp lệnh dân số sửa đổi.
32. Uỷ ban quốc gia dân số – kế hoạch hoá gia đình (2000), Chuyển đổi mức sinh và yếu tố ảnh hưởng
đến quá trình giảm sinh, NXB thống kê, Hà Nội.
33. V.I.Lênin (1980), Toàn tập, NXB Tiến bộ Matxcơva
34. Nguyễn Khắc Viện (2001) Từ điển Tâm lý học, NXB Thế giới, Hà Nội.
35. Viện Xã hội học và Tâm lý lãnh đạo quản lý, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Tiếng Anh
36. Corsini, Raymond J., Auerbach, Alan J. (1996), Concise encyclopedia of psychology, John Wiley and
Sons, USA.
37. Feldman, Robert S. (1997), Essentials of Understanding psychology, The McGraw Hill Companies,
Inc, USA.
38. Liebenstein (1957), Economic Backwardness and economic growth: Studies in the Theory of
Economic Development.
39. Các website điện tử