Tài liệu: Updatebook.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
LỜI NÓI ĐẦU
Do đặc tính đất đai là không di rời được, và việc sử dụng bất động sản
của con người là một nhu cầu thực tiễn đòi hỏi có sự điều chỉnh của pháp
luật. Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề phát sinh từ tính chất tự
nhiên ấy của bất động sản và hậu quả của việc dịch chuyển, phân chia, sáp
nhập bất động sản. Đây là một chế định “dẫn xuất” của chế định về quyền sở
hữu, quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề mới xuất hiện trong pháp
luật dân sự nước ta với đặc thù là không thừa nhận quyền sở hữu tư nhân với
đất đai. Trong khi Hiến pháp vẫn quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân thì
luật đất đai nước ta quy định người sử dụng đất có quyền chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng đất. Việc thực hiện những
quyền này phải theo quy định của BLDS và pháp luật về đất đai.
Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề cũng là một quyền dân sự,
một quan hệ pháp luật dân sự, nó phát sinh, thay đổi, chấm dứt khi có các sự
kiện pháp lý. Và được xác lập hay chấm dứt theo thoả thuận hoặc quy đinh
của pháp luật. đi vào tìm hiểu sâu, ta còn thấy được các căn cứ làm phát
sinh, chấm dứt quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề còn có những
đặc thù riêng biệt.
Bài làm của em còn nhiều thiếu xót, rất mong các thầy cô trong tổ bộ
môn góp ý thêm.
Em xin chân thành cảm ơn !
Tài liệu: Updatebook.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
Cấu trúc bài làm:
I/ Các khái niệm chung về quyền sử dụng hạn chế bất động sản (BĐS) liền
kề
1. Khái niệm về BĐS
2. Khái niệm về BĐS liền kề
3. Vấn đề ranh giới giữa các BĐS liền kề
4. Khái niệm về quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề
II/ Các căn cứ phát sinh, chấm dứt quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề
lý sâu sắc.
Tài sản được coi là BĐS trong hệ thống pháp luật nước ta được chuyển
hoá từ cách liệt kê thuần tuý những tài sản được coi là BĐS đến việc phân
Tài liệu: Updatebook.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
định thông qua việc mô tả tính chất của tài sản được coi là BĐS và kết hợp
với việc liệt kê cùng mô tả tính chất chung của BĐS .
2, Khái niệm BĐS liền kề
Một BĐS được phân lập với các BĐS khác qua ranh giới của các BĐS
ấy. Tuy nhiên không phải giữa tất cả các BĐS đều tồn tại một ranh giới, mà
chỉ có các BĐS thuộc bản chất không di rời được mới tồn tại ranh giới, và
khi tồn tại ranh giới mới có khái niệm BĐS liền kề.
Như vậy BĐS được coi là liền kề với một BĐS khác và có thể phải chịu
sự hạn chế về quyền với BĐS khi chúng thuộc BĐS không di rời được, cùng
loại và giữa chúng có một ranh giới về địa lý cũng như pháp lý.
BĐS liền kề là BĐS có sự tiếp giáp nhau về ranh giới giữa các BĐS. Và
hai BĐS liền kề có thể lập quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề khi chúng có
chủ sở hữu khác nhau. Từ việc xác định các BĐS liền kề mới có thể xác định
được các hạn chế mà chủ sở hữu hay người sử dụng phải chịu để thuận lợi
cho chủ sở hữu BĐS khác. Sự hạn chế trên một BĐS là một dạng quyền của
người khác trên một BĐS không thuộc sở hữu của mình.
3. Vấn đề ranh giới giữa các BĐS liền kề
Ranh giới giữa các BĐS liền kề là để phân lập BĐS này với BĐS khác,
là để xác định quyền sử dụng của chủ sở hữu BĐS đó, nên việc xác định
ranh giới là vấn đề quan trọng để giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng
BĐS.
Việc xác định ranh giới có cơ sở chung là diện tích, hình dáng, kích
thước của BĐS. Việc này do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định.
Việc xác định ranh giới cũng có thể do thoả thuận của các chủ sở hữu với
nhau. Điều 265 khoản 1_ BLDS 2005 đã chỉ rõ: “Ranh giới giữa các BĐS
liền kề được xác định theo thoả thuận của các chủ sở hữu hoặc theo quyết
• Căn cứ phát sinh quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề
Quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề là một quyền, tuy là một quyền
khách quan nhưng vẫn là dạng quyền thuộc năng lực pháp luật của chủ thể
mà không phải là một quyền dân sự chủ quan. Để một quyền khách quan
thành một quyền dân sự cụ thể phải có những điều kiện nhất định. Bởi ứng
với mỗi một quyền dân sự của một chủ thể bao giờ cũng tồn tại nghĩa vụ với
chủ thể khác, và điều này được thấy rõ ở quyền sử dụng hạn chế BĐS liền
kề. Nếu như một chủ sở hữu bị vây bọc muốn mở một lối đi trên BĐS của
chủ sở hữu liền kề, mà điều này là hợp lý, thì chắc chắn chủ sở hữu của BĐS
đó phải có nghĩa vụ trong việc thoả mãn quyền này của chủ sở hữu liền kề.
Điều 274 _ BLDS 2005 có quy định về xác lập quyền sử dụng hạn chế
BĐS liền kề như sau:
1. Quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề được xác lập theo thoả thuận hoặc
theo quy định của pháp luật.
2. Trong trường hợp quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề đã được xác lập cho
chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất thì người dược chuyển giao nhà, quyền sử
dụng đất cũng được hưởng quyền đó.
Theo quy định trên ta thấy rằng: Quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề
không tồn tại mặc nhiên do sự liền kề giữa các BĐS , mà phải dựa trên cơ
sở nhất định và với những điều kiện nhất định. Pháp luật chỉ quy định những
cơ sở làm phát sinh quyền của các chủ thể cùng những điều kiện về mặt
khách quan. Để tạo ra quyền về mặt chủ quan cần có những hành vi cụ thể
Tài liệu: Updatebook.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
cùng với những điều kiện nhất định. Và những hành vi và điều kiện này phải
phù hợp với yêu cầu của của pháp luật chứ không thể tuỳ tiện.
1.1. Quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề được xác lập theo thoả thuận.
Trong quan hệ dân sự thì tự do, tự nguyện cam kết là những nguyên tắc
cơ bản mang tính bản chất. Nguyên tắc này quy định cho các chủ thể trong
quan hệ tuỳ theo ý chí và nguyện vọng của mình để tạo lập các quyền và
nghĩa vụ dân sự cho chính mình. Khi điều 273 – BLDS 2005 quy định: “
cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết để phù hợp quyền lợi chính
đáng của mình. Căn cứ vào yêu cầu của chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất
này, và các điều kiện thực tế của các bên, toà án sẽ quyết định cuối cùng và
các bên phải chấp nhận với cách giải quyết của toà án. Quyết định của toà án
có thể là bác bỏ hoặc chấp nhận yêu cầu đó bằng một bản án. Trong trường
hợp toà án chấp nhận yêu cầu của bên có quyền thì toà án có thể đưa ra các
quyết định sau: Nếu chưa có quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề thì quyết
định cho phép chủ sở hữu nhà, người sử sụng đất có được quyền đó, đồng
thời toà án sẽ xác định giới hạn của quyền đó, cách thức tạo lập cùng
phương thức xác định giới hạn của quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề cùng
với khoản đền bù phù hợp cho chủ sở hữu BĐS liền kề. Các thủ tục giải
quyết tuân theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
1.2. Xác lập quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề theo quy định của pháp
luật.
Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì thực tế mọi quyền dân sự nói chung và
quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề nói riêng, đều được xác lập theo quy
Tài liệu: Updatebook.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
định của pháp luật. Bởi vì về mặt lý luận chỉ khi pháp luật điều chỉnh một
quan hệ xã hội thì quan hệ đó mới trở thnàh quan hệ pháp luật, và các quyền
và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ này mới trở thành một quyền dân sự, một
nghĩa vụ dân sự và được pháp luật bảo vệ. Với ý nghĩa này thì việc thoả
thuận để tạo lập quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề cũng được coi là căn
cứ do pháp luật quy định.
Vậy những căn cứ do pháp luật quy định được đề cập ở đây là những căn
cứ không do các bên tạo lập theo thoả thuận mà phát sinh trực tiếp từ các
quy định của pháp luật khi thoả thuận không thành. Tuy nhiên, pháp luật
nước ta cũng mới chỉ quy định các căn cứ làm phát sinh quyền chủ thể, còn
căn cứ để phát sinh quyền chủ quan thì cần có những điều kiện nhất định.
Theo đó các căn cứ do pháp luật quy định sẽ bao gồm:
1.2.1. Sự chuyển giao BĐS đã xác lập quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề.
hữu của các BĐS . Và quan điểm về việc chuyển giao BĐS chịu quyền sử
dụng hạn chế đồng thời với việc chuyển giao quyền sử dụng hạn chế BĐS
liền kề, cũng như BĐS hưởng quyền này cũng được thừa nhận trong pháp
luật của các nước trên thế giới.
1.2.2. Việc xác lập quyền sử dụng hạn chế BĐS liền kề theo thời hiệu.
Khoản 1 điều 247 _ BLDS 2005 có quy định về việc xác lập quyền sở
hữu theo thời hiệu như sau:
“Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật
nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm với động sản,
ba mươi năm với BĐS thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt