Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trường Đại học Ngoại thương
Đề tài:
VAI TRÒ CỦA ODA
ĐỐI VỚI
CÁC NƯỚC ĐANG VÀ KÉM PHÁT TRIỂN
LIÊN HỆ THỰC TẾ TẠI VIỆT NAM Giáo viên hướng dẫn: Phạm Thành Hiền Thục
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 5 năm 2012
2.2.4 Tăng khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và tạo điều
kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước ở các nước đang và chậm phát
triển…………………………………………………………………………………….16
2.2.5 Giúp xóa đói, giảm nghèo cải thiện sự chênh lệch đời sống của người
dân ở các nước đang và kém phát triển………………………………………………17
2.2.6. ODA giúp các nước đang phát triển tăng cường năng lực thể chế….17
CHƯƠNG 3: THỰC TẾ ODA TẠI VIỆT NAM………………………………… 18
3.1. Thực trạng thu hút và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam……………………18
3.2. Vai trò của vốn ODA đối với sự phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam… 22
3.2.1. ODA là nguồn vốn quan trọng bổ sung cho đầu tư phát triển…… 22
3.2.2. ODA giúp cho việc tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ
hiện đại và phát triển nguồn nhân lực…………………………………………… 23
3.2.3. ODA giúp cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế……………………….23
3.2.4. ODA góp phần tăng khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện để mở
rộng đầu tư phát triển……………………………………………………………….24
3.3. Đề xuất……………………………………………………………………… 25
3.3.1. Cần có các giải pháp để thu hút mạnh mẽ hơn nữa nguồn vốn
ODA………………………………………………………………………………… 25
3.3.2. Cần có các giải pháp để sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA……… 26
KẾT LUẬN………………………………………………………………………… 29
DANH MỤC THAM KHẢO……………………………………………………… 30
3
LỜI NÓI ĐẦU
Đối với các quốc gia đang phát triển, vốn có vai trò đặc biệt quan trọng và cần
thiết trong quá trình phát triển kinh tế, cũng như giải quyết các vấn đề văn hóa, chính
trị, xã hội. Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó, viện trợ ODA hay “hỗ trợ phát triển chính
thức” ra đời nhằm giúp các nước nghèo giải quyết tình trạng thiếu vốn. Nguồn vốn này
chủ yếu được đầu tư vào những lĩnh vực giữ vai trò đầu tàu của nền kinh tế, từ đó kéo
theo sự phát triển mạnh của các ngành khác. Trên thực tế vai trò của ODA hết sức quan
tố không hoàn lại phải đạt 25% trở lên).
1.2. Phân loại ODA
Tuỳ theo phương thức phân loại mà ODA được xem có mấy loại:
1.2.1. Phân theo phương thức hoàn trả
ODA có 3 loại.
- Viện trợ không hoàn lại: bên nước ngoài cung cấp viện trợ (mà bên nhận không
phải hoàn lại) để bên nhận thực hiện các chương trình, dự án theo sự thoả thuận trước
giữa các bên.Viện trợ không hoàn lại thường được thực hiện dưới các dạng:
Hỗ trợ kỹ thuật.
Viện trợ bằng hiện vật.
- Viện trợ có hoàn lại: nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản tiền (tuỳ theo
một quy mô và mục đích đầu tư) với mức lãi suất ưu đãi và thời gian trả nợ thích hợp.
Những điều kiện ưu đãi thường là:
Lãi suất thấp (tuỳ thuộc vào mục tiêu vay và nước vay).
Thời hạn vay nợ dài (từ 20 - 30 năm)
Có thời gian ân hạn (từ 10 - 12 năm)
- ODA cho vay hỗn hợp: là các khoản ODA kết hợp một phần ODA không hoàn
lại và một phần tín dụng thương mại theo các điều kiện của tổ chức Hợp tác kinh tế và
phát triển.
5 1.2.2. Phân loại theo nguồn cung cấp
ODA có hai loại:
- ODA song phương: Là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này đến nước kia
thông qua hiệp định được ký kết giữa hai Chính phủ.
- ODA đa phương: là viện trợ chính thức của một tổ chức quốc tế (IMF, WB1 )
hay tổ chức khu vực (ADB, EU, ) hoặc của một Chính phủ của một nước dành cho
Chính phủ của một nước nào đó, nhưng có thể được thực hiện thông qua các tổ chức đa
phương như UNDP (Chương trình phát triển Liên hiệp quốc), UNICEF (quĩ nhi đồng
nhận về địa điểm chi tiêu. Ngoài ra mỗi nước cung cấp viện trợ cũng đều có những
ràng buộc khác và nhiều khi các ràng buộc này rất chặt chẽ đối với nước nhận.
Khi nhận viện trợ cácnước nhận cần cân nhắc kỹ lưỡng những điều kiện của các
nhà tài trợ không vì lợi ích trước mắt mà đánh mất những quyền lợi lâu dài. Quan hệ
hỗ trợ phát triển phải đảm bảo tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp
vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi.
1.3.3. ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ
Khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nặng nợ
thường chưa xuất hiện. Một số nước do không sử dụng hiệu quả ODA có thể tạo nên
sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có
khả năng trả nợ. Do đó, trong khi hoạch định chính sách sử dụng ODA phải phối hợp
với các nguồn vốn để tăng cường sức mạnh kinh tế.
7
CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA ODA
ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG VÀ KÉM PHÁT TRIỂN
2.1. Thực trạng ODA ở các nước đang phát triển và kém phát triển
2.1.1. Xu hướng phát triển ODA trên thế giới
Quá trình phát triển ODA trên thế giới hiện có các xu hướng chủ yếu sau đây:
- Một là, trong tổng cơ cấu tổng ODA của thế giới tỷ trọng ODA song phương có
xu hướng tăng lên, ODA đa phương có xu hướng giảm đi. Xu hướng này hình thành
dưới tác động của 2 nhân tố chủ yếu sau đây:
Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới và xu thế hội nhập đã tạo
điều kiện cho quan hệ ODA trực tiếp giữa các quốc gia.
Hiệu quả hoạt động của một số tổ chức đa phương tỏ ra kém hiệu quả làm
cho một số nhà tài trợ ngần ngại đóng góp cho các tổ chức này. Trong tổng
số ODA của thế giới thỉ tỷ trọng viện trợ song phương đã tăng rất đáng kể
trong khi đó tỷ trọng viện trợ đa phương giảm đi.
- Hai là, mức độ cạnh tranh thu hút ODA đang tăng lên giữa các nước đang phát
triển. Theo Ngân hàng thế giới thì trong giai đoạn 1995-2004, các nước đang phát triển
năm 2006 và giảm 8,4% trong năm 2007. Sự sụt giảm này chủ yếu là do sự kết thúc
thời gian dài gia tăng viện trợ nợ từ năm 2002.
Mặc dù cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm gần đây, dòng ODA tiếp tục
tăng từ năm 2008. Dòng ODA đạt mức cao nhất 128,7 tỷ USD năm 2010 tăng 6,5% so
với năm 2009. Đây là mức ODA thực tế đạt kỷ lục từ trước tới nay, vượt cả khối lượng
ODA cung cấp trong năm 2005 khi mức viện trợ nợ tăng bất thường. Tỷ lệ ODA ròng
trong tổng thu nhập quốc dân (GNI) đạt 0,32%, tương đương năm 2005 và cao nhất
trong các năm từ 1992 tới nay. Tuy nhiên sự gia tăng này còn cách xa so với mục tiêu
0.7% vào năm 2015.
ODA đa phương (Multilateral ODA)
Biểu đổ 2:
10 Nguồn: 2010 DAC Report on Multilateral Aid
Biểu đồ 3:
11 Đơn vị: Tỷ USD
Nguồn: OECD, 2010 DAC Report on Multilateral Aid
Biểu đồ trên cho chúng ta thấy tổng ODA cung cấp bởi các nước thành viên
DAC trong 2 thập kỷ qua. Trong khi ODA song phương sụt giảm trong giai đoạn 1991-
1997 thì ODA đa phương khá ổn định. Trong vòng 20 năm, ODA đa phương đã tăng
thêm khoảng 50%, từ 23 tỷ USD năm 1989 lên 35 tỷ USD năm 2008 (xét theo giá cả
và tỷ giá năm 2008).
Năm 2008, tỷ lệ ODA đa phương chiếm 28% tổng ODA. Trong suốt giai đoạn,
tỷ lệ ODA đa phương trong tổng giá trị ODA tương đối ổn định, dao động trong
khoảng từ 27% - 33%, không kể đến cứu trợ nợ. Tuy nhiên, tỷ lệ viện trợ từ các nước
thành viên DAC chuyển thông qua hệ thống đa phương rất khác nhau. Nếu không xét
1,8
4.Palestin
3
14.Kenya
1,8
5.Tanzania
2,9
15.Nigeria
1,7
6.Iraq
2,8
16.Ghana
1,6
7.Pakistan
2,7
17.Thổ Nhĩ Kỳ
1,4
8.India
2,4
18.Zambia
1,3
9.Bờ Biển Ngà
2,4
19.Bangladesh
1,2
13
10.Congo
2,3
20.Trung Quốc
Nguồn:
http://stats.oecd.org/qwids/#?x=2&y=6&f=3:51,4:1,1:1,5:3,7:1&q=3:51+4:1+1:1+5:3+
7:1+2:262,240,241,242,243,244,245,246,249,248,247,250,251,231+6:2002,2003,2004,
2005,2006,2007,2008,2009
Dựa vào biểu đồ trên, ta có thể thấy quy mô nguồn vốn ODA hỗ trợ cho các
quốc gia đang phát triển trên thế giới có xu hướng tăng mạnh qua từng năm. Trong 7
năm (2002-2009), tổng vốn ODA đã tăng gấp đôi từ 62 tỷ lên tới 125 tỷ USD.
Những năm gần đây, vốn ODA song phương và đa phương vẫn được ưu tiên
dành cho châu Phi và châu Á. Viện trợ dành cho châu Phi đạt mức 47 tỉ USD năm
2009, tăng 7,6% so với năm 2008, trong đó 42,3 tỉ USD được dành cho khu vực Nam
15
Xahara. Trong khi đó, lượng ODA tại châu Á đạt 38,6 tỷ USD năm 2009, tập trung chủ
yếu tại khu vực Nam Trung Á (18,5 tỷ USD) và Trung cận Đông (10,8 tỷ USD).
Lâu nay, viện trợ vẫn là vấn đề nhức nhối đối với các nước đang và kém phát
triển tại 2 châu lục này. Các chương trình viện trợ phát triển trên thực tế đã mang lại
không ít quyền lợi cho các nhà tài trợ và đôi khi nước nhận viện trợ còn bị thiệt thòi
nếu như không sử dụng một cách hiệu quả các khoản viện trợ này. Vì đói nghèo, châu
Phi buộc phải nhận nhiều viện trợ và cũng phải lệ thuộc quá nhiều vào sự can thiệp từ
bên ngoài.
2.2. Vai trò của ODA đối với các nước đang và kém phát triển
2.2.1. Bổ sung cho nguồn vốn trong nước
Đối với các nước đang phát triển, các khoản viện trợ và cho vay theo điều kiện
ODA là nguồn tài chính quan trọng giữ vai trò bổ sung vốn cho quá trình phát triển.
ODA là nguồn vốn bổ sung giúp cho các nước nghèo đảm bảo chi đầu tư phát
triển, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Vốn ODA với đặc tính ưu việt là thời
hạn cho vay dài thường là 10 - 30 năm, lãi suất thấp khoảng từ 0,25% đến 2%/năm.
Chỉ có nguồn vốn lớn với điều kiện cho vay ưu đãi như vậy Chính phủ các nước đang
phát triển mới có thể tập trung đầu tư cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế như
đường sá, điện, nước, thuỷ lợi và các hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế. Những cơ sở hạ
đó ổn định đồng bản tệ.
Bên cạnh đó, việc chuyển chính sách kinh tế nhà nước đóng vai trò trung tâm
sang chính sách khuyến khích nền kinh tế phát triển theo định hướng phát triển khu
vực kinh tế tư nhân cần phải có một lượng vốn lớn, do vậy mà các chính phủ lại dựa
vào nguồn hỗ trợ ODA.
2.2.4. Tăng khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và tạo điều
kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước ở các nước đang và chậm phát triển
17
ODA được sử dụng có hiệu quả sẽ trở thành nguồn lực bổ sung cho đầu tư tư
nhân. Ở những quốc gia có cơ chế quản lý kinh tế tốt, ODA đóng vai trò như nam
châm “hút” đầu tư tư nhân theo tỷ lệ xấp xỉ 2 USD trên 1 USD viện trợ. Đối với những
nước đang trong tiến trình cải cách thể chế, ODA còn góp phần củng cố niềm tin của
khu vực tư nhân vào công cuộc đổi mới của Chính phủ.
Mặt khác, để có thể thu hút được các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài bỏ vốn đầu
tư vào một lĩnh vực nào đó, thì tại các quốc gia đó phải đảm bảo cho họ có một môi
trường đầu tư tốt (cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, hệ thống chính sách, pháp luật ổn
định…), đảm bảo đầu tư có lợi với phí tổn đầu tư thấp, hiệu quả đầu tư cao. Việc sử
dụng nguồn vốn ODA để đầu tư cải thiện sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong
nước tập trung đầu tư vào các công trình sản xuất kinh doanh có khả năng mang lại lợi
nhuận.
2.2.5 Giúp xóa đói, giảm nghèo cải thiện sự chênh lệch đời sống của người
dân ở các nước đang và kém phát triển
Xoá đói nghèo là một trong những tôn chỉ đầu tiên được các nhà tài trợ quốc tế
đưa ra khi hình thành phương thức hỗ trợ phát triển chính thức. Mục tiêu này biểu hiện
tính nhân đạo của ODA. Trong bối cảnh sử dụng có hiệu quả, tăng ODA một lượng
bằng 1% GDP sẽ làm giảm 1% nghèo khổ, và giảm 0,9% tỷ lệ tỷ vong ở trẻ sơ sinh. Và
nếu như các nước giầu tăng 10 tỷ USD viện trợ hằng năm sẽ cứu được 25 triệu người
thoát khỏi cảnh đói nghèo.
2.2.6. ODA giúp các nước đang phát triển tăng cường năng lực thể chế
6,000
7,000
8,000
9,000
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
biểu đồ ODA cam kết, ký kết và giải ngân (1993-2011)
cam kết ODA (triệu USD)
kí kết (triệu USD)
giải ngân ODA ( triệu USD)
19
Đáng chú ý, trong khi tỷ lệ vốn vay tăng từ 80% (1993 - 2000) lên mức 81%
Cơ cấu ODA theo ngành và lĩnh vực giai đoạn 2006- 2010
Ngành, lĩnh vực
ODA ký kết 2006-2010
Số vốn (tỷ USD)
Tỷ lệ %
Nông nghiệp và phát triển nông
thôn, kết hợp xóa đói giảm nghèo
2,89
15,90
Năng lượng và công nghiệp
3,36
22,97
Giao thông vận tải, bưu chính viễn
thông, cấp thoát nước và phát triển
đô thị
6,62
38,32
Y tế, môi trường, giáo dục đào tạo,
khoa học kĩ thuật và các ngành
khác
4,4
25,48
Tổng
17,28
100
ở vị trí thứ ba và thứ tư với các dự án nhiệt điện trọng điểm như: Nhiệt điện Nghi Sơn,
Phú Mỹ, Phả Lại. Các dự án xây dựng giao thông nông thôn 1, 2 và 3…
22
Tỷ lệ phân bổ ODA theo vùng lãnh thổ
Nguồn: http://www.mpi.gov.vn/
Từ bảng trên cho thấy nguồn vốn ODA phân bổ không đồng đều giữa các vùng.
Thật vậy ODA đầu tư vào các vùng Tây Nguyên, Trung du và miền núi phái bắc là rất
thấp trong khi các vùng này thật sự cần vốn để phát triển kinh tế xã hội và xóa đói
giảm nghèo. Chính vì thế việc phân bộ lại các nguồn vốn ODA để tạo điều kiện phát
triển đồng đều giữa các vùng kinh tế là thách thức cần phải giải quyết của Chính Phủ
trong thời gian sắp tới.
3.2. Vai trò của vốn ODA đối với sự phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam
3.2.1. ODA là nguồn vốn quan trọng bổ sung cho đầu tư phát triển
Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa vì thế cần nhiều nguồn lực khác
nhau để có thể khai thác tối đa tiềm năng kinh tế của đất nước, trong đó nguồn lực về
tài chính là một điều không thể không nhắc tới. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào sức lực
trong nước thì chúng ra khó mà có thể đạt được những thành tích hiện nay của đất
Vùng trung du và
miền núi phía bắc
5%
Vùng đồng bằng
sông Hồng
51%
thành tựu khoa học công nghệ hiện đại – một nhân tố không thể thiếu cho quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vì thế chúng ta phải lựa chọn phương thức “Đi tắt, đón
đầu”, tiếp thu những thành tựu của thế giới một cách nhanh nhất có thể. Cùng với các
dự án ODA, nguồn nhân lực của Việt Nam được nâng cao về trình độ khoa học công
nghệ thông qua các tài liệu chuyên ngành, các cuộc hội thảo có sự tham gia trực tiếp
của các kỹ sư nước ngoài, sự tiếp xúc và học hỏi lẫn nhau với các kỹ sư nước bạn khi
họ sang Việt Nam thực hiện các dự án, cơ hội ra nước ngoài học tập và tham quan các
mô hình làm việc và quản lý tại các nước phát triển, các phương tiện kỹ thuật hiện đại
được mang đến Việt Nam. Lượng chất xám mà chúng ta có được sau những sự hợp tác
này chính là cái mà chúng ta nhắm đến và chú trọng nhằm phục vụ một mục đích lâu
dài là xây dựng và phát triển nền kinh tế nước nhà.
3.2.3. ODA giúp cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế
24
Đầu tư vào cơ sở hạ tầng và phát triển kỹ thuật thường mất nhiều vốn và thời
gian thu hồi vốn khá là lâu, vì vậy các nhà đầu tư tư nhân ít khi đầu tư vào các lĩnh vực
này, họ chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp chế biến, du lịch. Điều này có thể
dẫn đến sự mất cân bằng trong cơ cấu kinh tế của Việt Nam vì các ngành công nghiệp
nặng chính là nền tảng cho tất cả các ngành công nghiệp khác.
Nguồn vốn ODA vào Việt Nam chủ yếu được đầu tư vào cơ sở hạ tầng và phát
triển kinh tế khiến cho các ngành công nghiệp này dành được sự quan tâm nhất định,
có nguồn lực để phát triển, từ đó làm nền tảng cho các ngành công nghiệp khác.
Thêm vào đó, việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo khu vực địa lý cũng là một vai
trò của vốn ODA, tuy không rõ ràng như việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo ngành như
trên, ta cũng có thể thấy được, với những khu vực tiềm năng phát triển công nghiệp
chưa rõ ràng, hoặc chưa được phát hiện hết, nguồn vốn ODA sẽ phần nào giúp các khu
vực này phát triển mạnh mẽ hơn như khu vực Bắc trung Bộ và Duyên hải Nam Trung
Bộ, Tây Nguyên hay khu vực Trung du và miền núi phía Bắc, thu hẹp khoảng cách về
phát triển với các khu vực khác trong cả nước.
3.2.4. ODA góp phần tăng khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện để mở