tiểu luận Lịch sử nhà nước và pháp luật - Pdf 26

ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ - LUẬT
BÀI THẢO LUẬN
Môn: Lịch sử nhà nước và pháp luật
Nhóm : 7
Lớp : 1402BLAW2411
Giáo viên hướng dẫn : Phạm Minh Quốc
Hà Nội, ngày 4 tháng 6 năm 2014
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 7
STT HỌ VÀ TÊN CHỨC VỤ ĐIỂM CHỮ KÍ
HS tự
đánh giá
GV
đánh giá
61 Nguyễn Thị Thùy Linh
62 Võ Thị Khánh Linh
63 Vũ Thị Diệu Linh
64 Phan Thị Loan
65 Đỗ Hoàng Long
66 Bùi Thảo Ly
67 Lý Hoàng Hương Ly
67 Nguyễn Thị Khánh Ly
69 Vũ Thị Khánh Ly Thư kí
70 Bùi Việt Hà Mi Nhóm trưởng
2
2
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
* * *
BIÊN BẢN HỌP NHÓM
Học phần: Lịch sử nhà nước và pháp luật

Câu 1: Anh (chị) hãy trình bày những đặc trưng cơ bản của Bộ luật Hammurabi
ở Lưỡng Hà cổ đại luật và quan điểm của anh (chị) về những đặc trưng trên.
Nền kinh tế của Lưỡng Hà phát triển chủ yếu là kinh tế nông nghiệp. Tuy vậy,
kinh tế hàng hoá phát triển, dẫn đến nhu cầu cần phải có quy định để giải quyết các
tranh chấp trong quan hệ dân sự. Người Lưỡng Hà phát hiện chữ viết (văn tự) từ rất
sớm (giữa thiên niên kỷ thứ 4 trước CN). Tiền lệ pháp, tập quán pháp đã được sử dụng
rất rộng rãi trước khi Bộ luật này ra đời.
Về mặt nguồn gốc: Bộ luật Hammurabi được xây dựng trên cơ sở pháp điển
hoá nhiều văn bản trước đó và trên cơ sở kế thừa luật lệ của người Xu-me, người
Amôrít. Bộ luật Hammurabi được phát hiện năm 1901 của đoàn khảo cổ người Pháp,
khắc trên đá bazan cao 2,25 m và dựng tại quảng trường thành phố cho nhân dân đọc
mà thi hành. Bộ luật Hammurabi là Bộ tương đối hoàn chỉnh thời kỳ cổ đại, gồm 282
điều (hiện chỉ đọc được 247 điều) bao gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và
kết luận. Đây là một bộ luật tổng hợp, được xây dựng dưới dạng luật hình, bao gồm
các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực và đều có chế tài, chủ yếu điều
chỉnh những quan hệ xã hội liên quan đến lợi ích của giai cấp thống trị. Phần mở đầu,
Vua Hammurabi tuyên bố rằng các vị thần đã trao đất nước cho nhà vua thống trị để
làm cho đất nước giàu có, nhân dân no đủ. Ở phần kết luận Hammurabi tuyên bố sẽ
trừng trị tất cả những ai xem thường và định huỷ bỏ đạo luật. Tác giả bộ luật đã ý thức
sâu sắc kết hợp thần quyền, vương quyền, và pháp quyền, khiến bộ luật trở nên được
“thiêng hoá” nhằm đạt được mục đích cai trị dân chúng.
Vượt ra khỏi hạn chế lịch sử, giá trị xã hội của Bộ luật: được hiện rõ ngay từ
mục đích của Bộ luật, thể hiện ở phần mở đầu của Bộ luật:“Vì hạnh phúc của loài
người, thần Anu và thần Enlin đã ra lệnh cho trẫm – Hammurabi, một vị quốc vương
quang vinh và ngoan đạo, vì chính nghĩa, diệt trừ những kẻ gian ác không tuân theo
pháp luật, làm cho kẻ mạnh không hà hiếp người yếu, làm cho trẫm giống như thần
Samát sai xuống dân đen, tỏa ánh sáng khắp muôn dân.” Về kĩ thuật lập pháp, tuy
không phân chia thành các ngành luật nhưng bộ luật cũng được chia thành nhóm các
điều khoản có nội dung khác nhau. Phạm vi điều chỉnh của bộ luật là những quan hệ
xã hội rộng, bao quát lên toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội như hôn nhân gia

họ và dần dần được chuyển về gia đình có quyền thừa kế và thành tài sản chung
của gia đình. Đó là cách thừa kế theo pháp luật. Thừa kế theo di chúc: Bộ luật
đã hạn chế quyền tự do của người viết di chúc như qui định người cha không
được tước quyền thừa kế của con trai nếu người con mới phạm lỗi lần đầu và
6
6
lỗi không nghiêm trọng. Con trai, con gái đều được hưởng quyền thừa kế ngang
nhau.
b. Về lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Theo xu hướng củng cố địa vị của người chồng, người cha nên trách nhiệm và
nghĩa vụ thuộc về người vợ và con cái. Nếu không có con, người chồng có quyền ly dị,
bán vợ hoặc lấy vợ lẽ. Nếu bắt được vợ ngoại tình thì chồng có quyền trói vợ và nhân
tình của vợ ném xuống sông cho chết. Ngược lại nếu vợ bắt được chồng ngoại tình, chỉ
có quyền ly dị mà thôi. Điểm tiến bộ là đã có quy định kết hôn phải có giấy tờ, ở mức
độ nào đó có quy định bảo vệ người phụ nữ (người vợ có quyền ly hôn khi người
chồng đi khỏi nhà không có lý do, chồng có quan hệ ngoại tình hay vu cáo vợ ngoại
tình). Có một quy định rất nhân đạo nếu đặt trong hoàn cảnh lúc bấy giờ là: ”Người
chồng không được bỏ vợ khi biết người vợ mắc bệnh phong hủi.”
c. Về hình sự
Lĩnh vực Hình sự là lĩnh vực thể hiện rõ nhất tính giai cấp và sự bất bình đẳng.
Một nguyên tắc xuyên suốt và thể hiện rõ trong Bộ luật là nguyên tắc bảo vệ quyền
lợi, địa vị của người chồng, người cha trong gia đình. Thí dụ, nếu không có con, người
chồng có quyền ly dị hoặc bán vợ hoặc lấy vợ lẽ; nếu bắt được vợ ngoại tình thì chồng
có quyền trói vợ và nhân tình của vợ ném xuống sông cho chết. Ngược lại nếu vợ bắt
được chồng ngoại tình, chỉ có quyền ly dị mà thôi. Điều 129 quy định : "Nếu vợ của
dân tự do ngủ với người đàn ông khác mà bị bắt, thì phải trói cả hai người này lại và
ném xuống sông" Tàn dư của xã hội nguyên thuỷ rất rõ là nguyên tắc trả thù ngang
bằng, thậm chí còn cho phép trừng trị cả những người không liên quan đến tội phạm.
Nguyên tắc này chỉ căn cứ vào hậu quả xảy ra trên thực tế để áp dụng trách nhiệm
pháp lí, chứ không xét trên phương diện mức độ lỗi và chủ thể thực hiện hành vi vi

và thói quen cầu viện công lý đã ăn sâu vào tác phong sinh hoạt của người dân nơi đây.
Thứ hai, về hình thức xét xử Nếu một người kiện một người khác, bị đơn sẽ phải đi
đến một dòng sông và nhảy xuống, nếu anh ta chìm, bị dòng nước cuốn đi, nguyên đơn
sẽ sở hữu nhà của bị đơn. Nhưng ngược lại, nếu dòng sông chứng minh rằng bị đơn là
không có tội, tức là anh ta còn sống sót, thì nguyên đơn sẽ bị giết chết, và bị đơn sẽ sở
hữu nhà của nguyên đơn.
Có một thực tế là người cổ đại bất lực trước tự nhiên, bất lực trước việc giải thích
các hiện tượng tự nhiên và xã hội, hơn nữa không phải lúc nào cũng dễ dàng có được
chứng cứ xác thực khi khoa học chưa phát triển, nên ta thấy cách thức xử lý có vẻ như
bất bình thường kia lại trở nên rất dễ hiểu, dễ hiểu đến mức bình thường và tự nhiên
8
8
trong quan niệm, trong cách hành xử của người dân Lưỡng Hà cổ đại. Họ tin rằng
đấng tối cao đã sáng tạo muôn loài, sáng tạo nên nhà nước và luật pháp nên họ chấp
nhận điều đó, và tin rằng thần thánh mới là người công minh nhất, thần thánh mới là
người cho họ biết thế nào nào là đúng, thế nào là sai, thế nào là công bằng hay không
công bằng. Phần kết luận, Hammurabi khẳng định lại mục đích của Bộ luật và tuyên
bố sẽ trừng phạt bất cứ ai vi phạm Bộ luật này: “Để cho kẻ mạnh không hà hiếp kẻ
yếu; để cho những người cô quả có thể nương tựa ở thành Babilon…; để cho sự tuyên
án trong nước tiện việc quyết định; để cho những kẻ thiệt thòi được trình bày lẽ phải…
Nếu kẻ nào thi hành triệt để bộ luật này thì sẽ được các thần phù hộ, trái lại nếu người
nào không nghiêm chỉnh thi hành hoặc sửa đổi bộ luật thì sẽ bị thần linh trừng phạt”.
Bộ luật Hammurabi là Bộ luật thành văn cổ nhất trên thế giới, là một trong những
thành tựu có giá trị bậc nhất của lịch sử văn minh cổ đại. Giá trị của Bộ luật này cho
đến nay vẫn tiếp tục được nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu, khai thác và kế
thừa. Bộ luật đã xây dựng rất công phu, điều chỉnh và phản ánh một cách sinh động
các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội của vương quốc Babilon. Bộ luật
không chỉ có giá trị về nghiên cứu pháp lý mà còn là nguồn cứ liệu lịch sử phong phú,
qúy giá để nghiên cứu nền văn hoá Babilon – Lưỡng Hà cổ đại. Vượt ra khỏi hạn chế
về tính giai cấp, có thể thấy chứa đựng trong nhiều quy phạm của Bộ luật dù ở dạng

tự bào chữa cho mình. Trong phiên toà sau khi đã nghe hai bên đối chất toà họp kín để
quyết định bản án.
b. Nhận xét chung về tính chất dân chủ của nhà nước cộng hoà dân chủ chủ
nô Aten
Thành quả rõ nét nhất của nhà nước Aten chính là xây dựng được một nhà nước
dân chủ chủ nô đầu tiên trong lịch sử nhân loại, là nhà nước đầu tiên khai sinh ra hình
thức DÂN CHỦ TRỰC TIẾP, khai sinh ra hình thức chính thể Cộng hoà. Một trong
những nguyên nhân quan trọng khiến nhà nước Aten có thể phát triển và đạt đến trình
độ văn minh cao ở thời cổ đại là do nhà nước này đã liên tục có các cuộc cải cách rất
toàn diện từ kinh tế, chính trị, đến văn hoá - xã hội.
10
10
• Ngay từ cuộc cải cách của Xô lông, xu hướng chung của các cuộc cải cách là
tước bỏ bớt đặc quyền kinh tế và quyền lợi chính trị của quí tộc. Trong ba cuộc
cải cách thì cải cách của Xô lông đã đưa ra bước đột phá về kinh tế, đây chính
là nền móng cơ bản nhất để kinh tế công thương nghiệp phát triển, là cơ sở hạ
tầng vững chắc, tạo điều kiện cho các cuộc cải cách về các lĩnh vực chính trị -
xã hội của Clít-xten và Pêriclét sau này.
• Việc phân chia đẳng cấp đã tạo điều kiện cho tầng lớp nông dân và thợ thủ công
ngày càng đông đảo, không những thế nó còn tạo điều kiện để củng cố, nâng
cao địa vị về kinh tế của quý tộc chủ nô mới, tạo điều kiện kích thích công
thương nghiệp phát triển.
• Thường dân cũng được tham gia vào sinh hoạt chính trị của nhà nước khi thoả
mãn ba điều kiện: là công dân tự do cha và mẹ đều là người Aten, nam giới và
đủ 18 tuổi. Đây là một quy định đặc biệt tiến bộ đối với một nhà nước thời kỳ
cổ đại.
• Hội nghị công dân có thực quyền. Đặc biệt hội nghị công dân có nhiều quyền
mà không một thiết chế nào trong bộ máy nhà nước có được đó là:
+ Quyết định vấn đề chiến tranh, hoà bình.
+ Xây dựng hay thông qua các đạo luật.

sống đều diễn ra thông qua quy luật phủ định của phủ định, cái mới ra đời kế thừa và
tiến bộ hơn cái cũ. Lịch sử nhân loại đã chứng minh đầy đủ cho quy luật đó. Thực tế
khi mà kiểu nhà nước phong kiến không còn đủ sức chống lại các cuộc cách mạng xã
hội nữa, buộc nó phải mất đi, nhường quyền thống trị cho kiểu nhà nước tư sản. Cũng
giống như nhà nước tư sản, pháp luật tư sản là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng,
là công cụ trực tiếp, quan trọng nhất để thực hiện chuyên chính tư sản. So với kiểu
pháp luật phong kiến, pháp luật tư sản tiến bộ hơn rất nhiều và được coi là một trong
những thành tựu đánh dấu sự phát triển của lịch sử nhân loại.
1. Khái niệm cơ bản
Pháp luật: là khuôn mẫu, là hệ thống những nguyên tắc xử sự chung do nhà nước
ban hành hoặc thừa nhân, đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế, thể hiện ý chí
và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị.
2. Cơ sở lí luận
Pháp luật tư sản, pháp luật phong kiến là sự thể hiện ý chí của thiểu số giai cấp
thống trị, là những kiểu pháp luật bóc lột. Chúng là những kiểu pháp luật được xây
dựng trên cơ sở chế độ tư hữu về tư liêu sản xuất duy trì và bảo vệ sự thống trị về
chính trị, kinh tế, của giai cấp địa chủ phong kiến và tư sản. Trong tuyên ngôn Đảng
12
12
cộng sản, Mác và Ăngghen đã chỉ rõ “pháp luật các ông chỉ là ý chí của giai cấp các
ông được đề lên thành luật, cái ý chí mà nội dung là do các điều kiện sinh hoạt vật chất
các ông quyết định”. Tuy nhiên, so với pháp luật phong kiến, pháp luật tư sản có nhiều
điểm tiến bộ cả về nội dung lẫn hình thức.
a. Xét về mặt nội dung
Pháp luật tư sản có những điểm tiến bộ hơn pháp luật phong kiến.
Thứ nhất: Pháp luật tư sản công khai tuyên bố nguyên tắc phân chia quyền lực trong
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Cùng với sự hình thành chế độ tư bản,
nguyên tắc "phân chia quyền lực" đã trở thành một trong những nguyên tắc chính của
chủ nghĩa lập hiến tư sản. Học thuyết pháp luật - chính trị (thuyết "phân quyền") với
quyền lực nhà nước được hiểu không phải là một thể thống nhất, mà là sự phân chia

có vị thế và những đặc quyền khác nhau. Vì thế nên không có sự bình đẳng về quyền
và nghĩa vụ trong quan hệ giữa thần dân với nhà nước phong kiến, và đó cũng là lí do
để giải thích cho câu hỏi: “Tại sao pháp luật phong kiến không ghi nhận những quyền
cơ bản của con người và đảm bảo để họ có thể thực hiện những quyền đó?”. Đối với
pháp luật tư sản, khái niệm “công dân” được nhà nước tư sản đưa vào trong đạo luật
cơ bản của mình, có thể khẳng định rằng đây là điểm tiến bộ hơn và thể hiện tính nhân
đạo hơn so với pháp luật phong kiến. Người dân trong xã hội được chuyển từ thần dân
thành công dân, bình đẳng với nhau trong mọi lĩnh vực đồng thời cũng được pháp luật
quy định trong các văn bản pháp luật, các bản hiến pháp đầu tiên như nước Mĩ,
Pháp… Tại Luật công pháp Đức, chế định về các quyền cơ bản của công dân được bảo
vệ rất chặt chẽ. Trong đó danh mục các quyền cơ bản của công dân được lập theo một
nguyên tắc cơ bản, đó là yêu cầu phải bảo vệ phẩm tước của con người, mọi quyền cơ
bản đều được quy định trên cơ sở nguyên tắc này. Do đó trong pháp luật tư sản, xây
dựng xã hội công dân mà ở đó con người bình đẳng, ngang quyền về mặt pháp lí, mọi
công dân đều bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực
hiện. Nhưng cũng nhấn mạnh rằng sự tự do, bình đẳng ở đây là về mặt pháp lí tức là
còn mang nặng tính hình thức, không dân chủ, bình đẳng thật sự và triệt để. Tuy nhiên
nó vẫn được ghi nhận và bởi thế nó thể hiện sự tiến bộ hơn so với pháp luật phong
kiến. Khi quyền con người, quyền công dân được ghi nhận trong pháp luật tư sản thì
mỗi cá nhân có mối quan hệ pháp lí ràng buộc với một nhà nước tư sản nhất định (tức
là mang quốc tịch của nước đó) thì được nhà nước thừa nhận là công dân của nước
mình được hưởng quyền công dân đồng thời thực hiện nghĩa vụ công dân với đất
nước. Nhà nước yêu cầu công dân nước mình thực hiện những quyền đúng đắn và thực
14
14
hiện đầy đủ nghĩa vụ đồng thời nhà nước đảm bảo các quyền lợi cơ bản của công dân.
Trên cơ sở đó nhà nước tư sản lập ra các chế định “quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân” trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, dân sự,… dù nhiều trường
hợp vẫn mang tính hình thức nhưng nó cũng đã thể hiện được sự tiến bộ so với pháp
luật phong kiến.

quy định của Hiến pháp và pháp luật.
- Mọi cá nhân trong xã hội đều tôn trọng và thực hiện hiến pháp một cách tự giác, đầy
đủ, nghiêm chỉnh, chính xác.
Với những nội dung trên, chúng ta có thể khẳng định rằng: Pháp luật phong kiến
không ghi nhận và đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp chế trong tổ chức, hoạt động của nhà
nước phong kiến và đời sống xã hội. Thật vậy, trong nhà nước phong kiến cực quyền pháp
luật chỉ dành cho nhà vua, người có quyền hành tuyệt đối và trong xã hội chỉ tồn tại một
nền chính trị hà khắc tùy tiện bất chấp cả pháp luật. Với bản chất như vậy pháp luật không
thể ghi nhận nguyên tắc pháp chế - một nguyên tắc đòi hỏi sự bình đẳng, tự do, dân chủ.
Pháp chế tư sản được ghi nhận và bảo đảm thực hiện đã góp phần đấu tranh chống lại chế
độ đặc quyền, đặc lợi. Hơn nữa, việc thực hiện nguyên tắc này còn thể hiện sự bình đẳng,
dân chủ của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Với những ý nghĩa này, có thể khẳng định
rằng việc ghi nhận và đảm bảo nguyên tắc pháp lí là điểm tiến bộ của pháp luật tư sản so
với pháp luật phong kiến.
Thứ năm, đặc điểm nổi bật nhất của pháp luật tư sản cho thấy sự tiến bộ vượt trội so với
pháp luât phong kiến là sự ra đời của hiến pháp. Hiến pháp là đạo luật cơ bản, có hiệu lực
pháp lí cao nhất, là cơ sở để xây dựng hệ thống pháp luật. Dựa vào hiến pháp, hệ thống
pháp luật tư sản trở nên thống nhất, hoàn thiện hơn thể hiện đầy đủ ý chí của giai cấp tư sản.
Ngược lại, pháp luật phong kiến không có hiến pháp làm nền tảng nên tản mạn, thiếu thống
nhất, chủ yếu dựa vào chiếu chỉ do vua ban, mang tính chung chung, không có sự tách biệt
giữa các ngành luật. Do đó, hệ thống pháp luật thiếu phong phú, đa dạng, chuyên quyền,
độc đoán. Rõ ràng việc ra đời của Hiến pháp đánh dấu bước ngoặt lớn trong quá trình xây
dựng hệ thống pháp luật.
b. Xét về mặt hình thức biểu hiện
Pháp luật tư sản biểu hiện chủ yếu dưới luật thành văn, được ghi trong các văn bản pháp
luật một cách rõ ràng. Các loại văn bản pháp luật tư sản cũng hết sức phong phú, điển hình
nhất cần phải kể đến là hiến pháp, luật, các sắc lệnh và nghị định trong khi đó hình thức phổ
biến của pháp luật phong kiến là tập quán pháp và được ban hành dưới dạng lệnh, chiếu chỉ,
khẩu lệnh… của nhà vua. Nếu như luật pháp phong kiến là sự kết hợp của Lễ và Hình, sự
16

của giai cấp thống trị là mục tiêu cơ bản.
17
17
• Phương pháp giải quyết các mối quan hệ trong xã hội của nho giáo là tuân theo
một cách vô điều kiện. Người trẻ tuổi phải phục tùng người lớn tuổi, người
dưới phải phục tùng người trên và người không phải người Trung Quốc thì phải
phục tùng người Trung Quốc.
• Tam cương là nền tảng giáo lý của Nho giáo. Về mặt chính trị thực chất là mối
quan hệ vua-tôi, cha-con, chồng-vợ nhằm mục đich củng có trật tự đẳng cấp
phong kiến mà cụ thể là trật tự quan liêu và trật tự gia trưởng.
• Mục tiêu của giáo lý Nho giáo là xây dựng một nhà nước quân chủ chuyên chế
lớn mạnh và bành trướng lãnh thổ ra bên ngoài.
3. Pháp luật Trung Quốc là pháp luật Nho giáo.
Được thể hiện trên hai nội dung đó là pháp luật phong kiến Trung Quốc có sự két hợp
giữa lễ và hành; pháp luật phong kiến Trung Quốc có sự phối hợp giữa đức trị và pháp
trị. Nội dung cụ thể như sau:
- Pháp luật phong kiến Trung Quốc là sự kết hợp giữa lễ và hình
• Hình là hình phạt, biểu hiên của các chế tài pháp luật.
• Lễ là nguyên tắc xử sự của con người đã được hệ thống theo một chuẩn mực
nhất định. Lễ là nội dung quan trọng của Nho giáo. Lễ giáo phong kiến xác lập
và củng cố các mối quan hệ đã nêu trên của tam cương.
Vì hệ tư tưởng chính trị pháp lý Trung Quốc bị ảnh hưởng rất lớn từ học thuyết
Nho giáo nên tiền đề tư tưởng của đặc trưng này chính là một số chủ trương chính trị
của Nho gia.
Tam cương nêu ra ba mối quan hệ: vua tôi, cha con, vợ chồng. Trong đó; tôi, con
và vợ phải phục tùng vua, cha, và chồng. Như vậy, "Lễ" xác lập nguyên tắc xử sự của
con người trong ba mối quan hệ xã hội cơ bản đó. Pháp luật dùng Lễ tức là pháp luật
bảo vệ những nguyên tắc xử sự được quy định trong Lễ. Mà đa phần những quy định
đó lại bảo vệ cho quyền lợi của giai cấp thống trị và chế độ phụ quyền. Vì thế, nhà
nước Trung Quốc lấy Lễ làm cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật.

Việc kết hợp giữa Lễ và Hình đã tạo nên một khung pháp lý vững chắc cho hệ
thống pháp luật Trung Quốc. Hình bảo vệ Lễ và Lễ lại bảo vệ chế độ quân chủ chuyên
chế phong kiến phụ quyền. Trong đó Lễ giữ vai trò quyết định vì Lễ bảo vệ quyền lợi
giai cấp thống trị và hợp lý hoá Hình, biến Hình thành công cụ bảo vệ sự tồn tại của
mình. Vì vậy tất cả luật pháp từ thời Hán đến Thanh đều tuân theo một quy tắc: "Nhất
chuẩn hồ lễ”
- Pháp luật phong kiến Trung Quốc có sự phối hợp giữa đức trị và pháp trị
• Đức trị là đường lối cai tri của nho giáo, là tư tưởng chính trị cơ sở của Nho
19
19
giáo
• Pháp trị là tư tưởng chính trị quan trọng của phái pháp gia
Học thuyết này được tóm gọn ở hai điều:
- Mọi người dân bình đẳng trước pháp luật
- Lấy thưởng phạt làm nguyên lý trị nước, không cần giáo dục.
Có thể thấy đường lối: 'không cần giáo dục' của pháp gia có nguồn gốc từ học
thuyết "vô vi" của Lão Tử và đó là đặc trưng cơ bản để phân biệt học thuyết
Pháp gia với Nho gia
Ngay từ buổi đầu của nhà nước phong kiến, các triều đình đã sử dụng pháp luật để
cai trị đất nước. Kể từ thời nhà Hán, đức trị được bổ sung bằng lễ trị và là biện pháp
chặt chẽ nhất để thực hiện đức trị. Đây là giá trị chủ đạo của pháp luật phong kiến
Trung Quốc. Trong các triều đại sau đó, đức trị được hỗ trợ thêm bởi Nhân trị được mô
phỏng theo giáo ý Phật giáo.
Pháp trị là thể chế chính trị chủ yếu ở thời kỳ xã hội chiếm hữu nô lệ và buổi đầu
nhà nước phong kiến còn đức trị lại là thể chế chính trị quan trong trong suốt lịch sử
nhà nước phong kiến Trung Quốc.
Hai thể chế này đều là phương pháp cai trị của giai cấp thống trị các triều đại
phong kiến Trung Quốc. Đức trị và pháp trị phối hợp với nhau một cách tuần tự, nhuần
nhuyễn giúp việc cai trị nhà nước trở nên quy củ và triệt để hơn.
• Mối quan hệ giữa Đức trị và Pháp trị.

Cả Đức trị và Pháp trị đều là hai thủ đoạn cai trị của giai cấp thống trị. Tách riêng
ra, chúng có ưu và nhược điểm riêng. Nhưng khi kết hợp lại chúng lại trở thành công
cụ cai trị hữu hiệu. Khi đó, pháp luật vừa có sức mê hoặc, lừa bịp của Đức trị, vừa có
sức mạnh trấn áp của Pháp trị. Đạo đức và pháp luật có sự trộn lẫn vào nhau, khi vi
phạm một trong hai thì hậu quả đều là sự lên án của xã hội và sự trừng phạt của nhà
nước.
• Kết Luận
. Hai đặc trưng đã phân tích ở trên đã cho ta thấy, pháp luật phong kiến Trung Quốc
chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng của Nho gia. Tuy nhiên, trong quá trình vận động
của lịch sử, nhiều chủ trương chính trị Nho giáo trở nên khó thực hiện và đã được bổ
sung bằng các học thuyết khác. Vì thế nội hàm của cả hai đặc trưng đều có "sự kết
hợp" và đó là đặc điểm rất cơ bản của pháp luật phong kiến Trung Quốc. Do khuôn
khổ bài tập có hạn trong khi vấn đề nghị luận lại rất phức tạp, bài làm chưa thể đề cập
và phân tích sâu sắc vấn đề. Vì vậy, em rất mong sẽ nhận được những đánh giá của
thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn.
Câu 5: So sánh cách thức thiết lập, chức năng, quyền hạn của Nghị viện Anh và
21
21
Nghị viện Mỹ thời cận đại.
1. So sánh cách thức thiết lập
- Giống nhau: đều dựa trên thuyết tam quyền phânlập, chế độ 2 viện với mục
đích kiềm chế đối trọng lẫn nhau tạo nên sự cạnh tranh, hạn chế quyền lực mỗi
bên trong nghị viện nhằm quản lý và điều hành tốt hơn bộ máy nhà nước của
mình.
- Khác nhau:
• Tuy cả 2 đều thiết lập chế độ lưỡng quyền song mỗi nước có sự khác nhau về số
lượng đại biểu.Ở Anh, thượng nghị viện có 1885 người , hạ viện có 635 đại
biểu, Mĩ có 435 đại biểu ở nghị viện.
• Anh: cách thức thành lập thượng nghị viện, đại quý tộc mới. Thượng sĩ là
những quý tộc có phần hàm từ bá tước trở lên thì được cha truyền con nối, các

lực ở nghị viện Mĩ không lớn bằng Anh
• Anh có quyền lập pháp, quyền quyết định ngân sách và thuế, giám sát hoạt
động của các nội các, bầu và bãi nhiệm thành viên của nội các
• Mĩ có quyền thông qua các đạo luật, sửa đổi và bổ sung dự án luật, dự án ngân
sách của tổng thống bổ nhiệm, phê chuẩn, bãi bỏ các điều ước đã kí kết
• Anh: thượng nghị viện lúc đầu có quyền hạn hơn nghị viện nhưng sau đó đại
diện của thế lực bảo thủ, lỗi thời đã hết vai trò lịch sử, hình thức hoạt động chỉ
là nhân dân và kiềm chế. Sau đó hạ viện có quyền hạn hơ.
• Mĩ: thượng nghị viện là đại diện của các bang do cơ quan lập pháp của bang
bầu ra, và hạ viện và nghị viện có quyền tương đương nhau.
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Giáo trình lí luận nhà nước và pháp luật, trang 232
PGS.TS Nguyễn Văn Động
NXB Giáo dục, Hà Nội - 2009
2. Quyền lực nhà nước và quyền công dân.
PGS.TS Đinh Văn Mậu
NXB Tư pháp, Hà Nội - 2003
3. Các hệ thống pháp luật cơ bản
NXB Tư pháp, Hà Nội - 2006
4. Nhà nước và pháp luật tư sản đương đại lí luận và thực tiễn, trang 135 đến trang
139
NXB Thế giới
23
23
5. tailieuso.vn
24
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status