Bài tiểu luận Nguyễn Thị Kim Dung - K55B -
Lịch sử
PHẦN MỞ ĐẦU
Trải qua quá trình phát triển của chế độ phong kiến ở mỗi thời kỳ,
các triều đại đều ra sức xây dựng, củng cố, ngày càng hoàn thiện hệ thống
hành chính quốc gia để xây dựng nhà nước vững mạnh, tập trung và thống
nhất. Thực chất của việc làm này chính là việc giải quyết mối quan hệ giữa
Nhà nước với làng xã để làm sao đạt được sự tập trung quyền lực vào tay
nhà nước Trung ương, tránh tình trạng cát cứ, chia cắt đất nước, đảm bảo
sự thống nhất từ trên xuống dưới, từ Trung ương xuống địa phương.
Thực tế lịch sử đã cho chóng ta thấy: đất nước ta đã từng trải qua
những thời kỳ chia cắt, cát cứ làm suy yếu nhà nước Trung ương, ảnh
hưởng to lớn đến sự thống nhất đất nước về mọi mặt. Đó là trong hơn 10
thế kỷ Bắt thuộc cũng là hơn 10 thế kỷ bọn ngoại bang phương Bắc thực
hiện triệt để chính sách chia để trị lên đất nước ta. Và kết quả là ngày sau
thời kỳ Bắc thuộc Êy “Loạn 12 xứ quân” đã bùng lên ở nhiều nơi trong cả
nước. Tình trạng chia cắt, cát cứ đó còn tồn tại dai dẳng cho đến cuối đời
Lý (khoảng đầu thế kỷ XIII) mới tạm chấm dứt. Song hơn 3 thế kỷ sau đấy
(vào khoảng giữa thế kỷ XVI) một lần nữa đất nước ta lại lâm vào tình
trạng bị chia cắt giữa Đàng Trong và Đàng ngoài suốt gần 2 thế kỷ ròng
rã Chính vì thực tế lịch sử đó mà chúng ta dễ dàng hiểu tại sao bất kỳ
một triều đại nào, bất kỳ một ông Vua thời phong kiến nào cũng rất lo lắng
đến sự nghiệp thống nhất đất nước, mà trước hết cố gắng xây dựng hệ
thống hành chính thống nhất, phù hợp với mong muốn của mình và đấy
cũng chính là mong muốn chung của mọi người dân đất Việt. Và tất cả
những cuộc cải cách dưới các triều đại phong kiến ở nước ta đều không
nằm ngoài mục đích đó. Cuộc cải cách dưới thời Vua Lê Thành Tông ở thế
kỷ XV cũng không phải là ngoại lệ.
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Kim Dung - K55B -
Lịch sử
Hơn thế nữa, khi xây dựng hệ thống hành chính quốc gia, đặt trong
đấu tranh cho tính thống nhất của dân téc một mặt đấu tranh chống mưu đồ
cát cứ, phân tán của các thế lực thổ hào, quý téc phong kiến, và mặt khác
chính là đấu tranh khắc phục từng bước tính khép kín, biệt lập (hay chính
là tính tự trị) của các làng xã, tiến tới quản lý chặt chẽ, gắn bó làng xã vào
hệ thống hành chính quốc gia.
Nh chóng ta biết, làng xã vốn trước đây là công xã nông thôn mà
chuyển thành một đơn vị hành chính cấp cơ sở của nhà nước nên tất nhiên
tự bản thân nó đã mang hai đặc tính là tính tự trị và tính phụ thuộc nhà
nước. Vấn đề cốt lõi ở đây la giải quyết nh thế nào mối quan hệ giữa quyền
quản lý của nhà nước và tính tự trị vốn có của xóm làng. Điều này sẽ có ý
nghĩa quyết định đến việc có đảm bảo thực sự tính thống nhất từ Trung
ương xuống các địa phương cơ sở hay không?
Trước đó, dưới thời kỳ Hùng Vương, làng xã (công xã nông thôn)
tuy đã có sự quản lý ở một mức độ nhất định của nhà nước, nhưng về cơ
bản làng xã thời kỳ này vẫn là những đơn vị tự trị, tự quản, mối quan hệ
giữa nhà nước Trung ương với các làng xã còn chưa chặt chẽ.
Trong suốt hơn một nghìn năm Bắc thuộc, xã hội Việt Nam cho đến
thế kỷ X vẫn là một xã hội dùa trên nền tảng công xã nông thôn và đương
nhiên rằng làng xã nước ta thời bấy giê vẫn là những “pháo đài xanh tự
chủ”, chủ yếu là các làng tự trị. Từ thế kỷ X trở đi, cùng với quá trình
phong kiến hoá càng ngày càng sâu sắc, các triều Đinh, Lý, Trần, Lê ra
sức nắm lấy và sử dụng làng xã như một công cụ quản lý của mình, song
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Kim Dung - K55B -
Lịch sử
thực chất cho đến đầu thời Lê sơ, nhà nước Trung ương vẫn chưa hoàn
toàn chi phối đến các làng xã. Cho đến thời vua Lê Thánh Tông mới đạt
được những thành công đáng kể trong việc đảm bảo mối liên hệ khá chặt
chẽ giữa nhà nước Trung ương với các làng xã. Mối quan hệ này được biểu
hiện trên 3 phương diện: kinh tế, chính trị và văn hoá.
1.1. Mối quan hệ giữa nhà nước và làng xã ở khía cạnh kinh tế
kinh tế và việc lập sở ruộng đất này đây cũng chính là cơ sở để nhà nước
thực hiện chính sách quân điền.
1.1.2. Nhà nước tấn công mạnh chế độ sở hữu ruộng đất làng xã
thông qua chính sách quân điền.
Dưới thời Vua Lê Thánh Tông quyền sở hữu ruộng đất của làng xã
đã bị tước đoạt về cơ bản. Từ đây các làng xã không còn được xét theo “lệ
làng” để phân chia ruộng đất mà việc phân chia ruộng đất được thực hiện
thống nhất trong cả nước theo lệ “quân điền”.
Theo đó mọi người dân trong làng xã kể cả cô nhi quả phụ cũng
được phân chia khẩu phần đất. Ruộng công ở xã nào thì dân xã Êy được
hưởng. Đối với những xã có Ýt ruộng công, chỉ những ai không có hoặc có
Ýt ruộng mới được phân chia
Có thể nói rằng đất công của làng xa cùng với kết cấu công xã nông
thôn tồn tại dai dẳng từ bấy lâu ở Việt Nam, nay đã được “quân chủ hoá
sâu sắc” [10;tr36]. Kết quả trực tiếp là đã làm cho các thành viên trong
làng xã đều có một nguồn sinh sống thường trực là ruộng đất của Vua ban.
Từ đó tạo cơ sở xã thôn, bảo vệ quyền sở hữu ruộng đất của nhà nước
phong kiến, buộc chặt người nông dân vào ruộng đất để bóc lột tô thuế,
binh dịch và lao dịch.
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Kim Dung - K55B -
Lịch sử
Mối quan hệ giữa Vua – thần dân trong các làng xã Êy chính là hình
ảnh thu nhỏ của mối quan hệ giữa Vua – thần dân trong quốc gia quân chủ
Đại Việt đương thời, là biểu tượng cho mối quan hệ giữa nhà nước Trung
ương với chính quyền địa phương cơ sở.
1.2. Mối quan hệ giữa nhà nước và làng xã biểu hiện ở thiết chế
chính trị của các làng xã
Nếu như trước đây xã còn mang màu sắc công xã nông thôn với
truyền thống tự quản thì đến Lê Thánh Tông xét về phương diện chính trị,
nhà nước cũng đã nắm chặt làng xã, biến làng xã thành đơn vị cấp cơ sở
gửi lên cấp châu, huyện, phủ để xét chọn công bằng. Các quan châu, huyện
nếu xét chọn không công bằng mà tham của đút lót, trục lợi thì sẽ bị xử
phạt theo quy định của pháp luật.
1.2.2. Nhà nước quy định chức năng của chính quyền làng xã,
thông qua vai trò của các Xã trưởng
Để cho những chủ trương, chính sách của nhà nước được quán triệt
thống nhất từ Trung ương xuống địa phương thì đương nhiên những người
đứng đầu làng xã phải nghiêm chỉnh thực thi những chính sách do nhà
nước dội xuống.
Cụ thể: Xã trưởng sẽ là người đại diện cho nhà nước ở các làng xã
trong việc quản lý cư dân, ruộng đất để thu tô thuế, tuyển chọn binh lính
vào quân đội, phu phen tạp dịch. Đồng thời có trách nhiệm giữ gìn an ninh
trật tự và chăm lo những lợi Ých công cộng nh đê điều, cầu cống
Nh vậy, Xã trưởng là người đứng đầu bộ máy hành chính làng xã -
đơn vị cơ sở của hệ thống chính quyền thời bấy giê. “Xã trưởng vừa là đại
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Kim Dung - K55B -
Lịch sử
diện cho quyền và nghĩa vụ của dân làng trước nhà nước, vừa lại là cầu nối
giữa làng xã và nhà nước” [9;tr154].
Song điều đáng lưu ý là các Xã trưởng không có quyền tư pháp mà
quyền hạn chỉ bó hẹp trong việc đôn đốc, nhắc nhở, dàn xếp chịu trách
nhiệm trước pháp luật nhà nước nh những công dân làng xã.
Tất cả những điều này nhằm loại trừ khả năng chính quyền cấp cơ sở
(làng xã) trở thành một “tiểu triều đình” mặc sức lộng hành với thần dân
của nhà Vua trong các các làng xã, chính là để đảm bảo mối quan hệ thống
nhất từ Trung ương xuống địa phương.
1.2.3. Mối quan hệ nhà nước – làng xã thể hiện trong việc lập
Hương ước riêng của các làng xã
Để đảm bảo sự quản lý chặt chẽ của nhà nước xuống tận các làng xã
nông thôn thì không có nghĩa nhà nước phong kiến chỉ quan tâm đến
làng xã của bản thân chính quyền phong kiến. Điều này được thể hiện cụ
thể nh sau:
Thứ nhất, nhà nước đã đưa tinh thần Nho giáo vào trong các điều
luật của Hương ước nhằm phổ biến lễ giáo phong kiến đến tận các làng xã.
Đó là những quy định về đạo Vua tôi, cha con, chồng vợ, quy định về quan
hệ anh em với làng xóm, đối với đạo thầy học
Thứ hai, những người soạn thảo nội dung Hương ước phải là những
người có trình độ Nho học, thấm nhuần tư tưởng Nho giáo. Đặc biệt ở
những làng khoa bảng thì điều này càng được thể hiện rõ nét.
Thứ ba, các Hương ước đều phải được chính quyền phong kiến cấp
trên phê duyệt. Đối với những Hương ước có nội dung đi ngược lại với
pháp luật của nhà nước hay những tư tưởng Nho giáo thì sẽ bị loại bỏ.
Điều 264 của “Hồng Đức thiện chính thư” đã ghi rõ:
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Kim Dung - K55B -
Lịch sử
“”Nhà nước đã có điều luật, dân nên theo đó mà thi hành để dân an,
nước thịnh. Dân các làng xã không nên lập khoán ước riêng, để bò tà theo
chính. Trường hợp nếu xã nào có những tập tục khác lạ, lập ra Khoán ước
và cấm lệ riêng cần nhờ bậc Nho giả đứng tuổi, đức hạnh ngay thẳng giúp
đỡ soạn thảo. Sau khi khoán lệ lập xong phải trình lên nha môn phê duyệt.
Nếu thấy khoán ước có điều thiên tư, gian tà thì loại bỏ, để tránh mưu
gian. Các điều khoản lệ không được phép thi hành thì tuân theo mà thi
hành, không được làm trái”.
Thứ tư, sau khi đã được kiểm duyệt xong, Hương ước phải có chữ ký
của tiên thứ chỉ, lý phó đương chức và dấu triện gỗ của xã - biểu hiện cho
sự hiện diện, sự nắm quyền của nhà nước phong kiến ở làng.
Như vậy, Hương ước (hay “lệ làng”, “khoán ước” ) không phải
hoàn toàn mang tính tự trị, của riêng mỗi làng xã, cũng không phải là hình
ảnh thu nhỏ của “phép nước” mà Hương ước chính là sự thực thi phép
nước trong những hoàn cảnh cô thể ở mỗi làng xã.
Lê Thánh Tông đã thực sự thành công trong việc giải quyết mối quan hệ
giữa Nhà nước và làng xã – một vấn đề cốt lõi nhất bảo đảm tính tập trung,
thống nhất vững mạnh của bất cứ một nhà nước nào.
Trong quá trình đổi mới của đất nước ta hiện nay, chóng ta đã đạt
được thành công trên nhiều lĩnh vực. Việc quản lý nhà nước theo cơ chế
nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý, Đảng lãnh đạo quả thật đã thu được
những thành quả bước đầu, song việc giải quyết mối quan hệ giữa Trung
ương với chính quyền cấp cơ sở đang còn nhiều vấn đề bất cập do cơ chế
quản lý chưa thật chặt chẽ, còn lỏng lẻo, đội ngò cán bộ các cấp chưa đủ
năng lực và tinh thần trách nhiệm Vì vậy những chủ trương, chính sách
mà nhà nước đề ra chưa được thực hiện đồng bộ, thống nhất từ trên xuống.
Do vậy việc học tập, phát huy những kinh nghiệm thành công trong quá
khứ để phục vụ cho công cuộc cải cách hiện tại đã và đang đặt ra ngày
càng bức thiết. Và thành công trong việc giải quyết mối quan hệ giữa Nhà
Bài tiểu luận Nguyễn Thị Kim Dung - K55B -
Lịch sử
nước với làng xã thời Vua Lê Thánh Tông chính là bài học quý giá để
chúng ta hôm nay phải suy ngẫm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Xuân Đính, Lệ Làng, phép nước, NXB Pháp lý 1985
2. Cao Văn Liên, Pháp luật các triều đại Việt Nam và các nước, NXB
Thanh niên, 2004.
3. Học viện CTQG Hồ Chí Minh, phân viện Hà Nội – Khoa lịch sử, Một
số chuyên đề về lịch sử Việt Nam, NXB CTQG, 2000
4. Nguyễn Cảnh Minh, Giáo trình một số vấn đề làng xã trong lịch sử Việt
Nam đại cương, Đại học Huế, Trung tâm đào tạo từ xa, Huế, 1996.
5. Nguyễn Phan Quang, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến năm 1884.
6. Phan Thị Doãn, Làng Việt Nam – một số vấn đề kinh tế – xã hội,
NXB Khoa học xã hội, NXB Mòi Cà Mau, 1992
7. Trần Bá Đệ (chủ biên), Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam, NXB Đại