tiểu luận Việt Nam - quá trình hội nhập thông qua các tổ chức khu vực và thế giới trong thời kỳ đổi mới 1986 - 2006 - Pdf 26

Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thu
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, Việt Nam bên cạnh những
thuận lợi phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, bao gồm cả những yếu tố nội
tại trong nước và những yếu tố bên ngoài tác động, khiến cho kinh tế xã hội
Việt Nam lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Trong bối cảnh đó Hội nghị đại
biểu toàn quốc lần VI của Đảng cộng sản (ngày 15 đến 18/12/1986) đã diễn
ra. Thành công của Đại hội VI đã mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn diện
của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta bước vào một giai
đoạn lịch sử phát triển mới với những thành tựu và tiến bộ to lớn mà ngày
nay chóng ta đang chứng kiến. Tất cả những chuyển biến tốt đẹp Êy đều
bắt nguồn từ cải cách đổi mới do Đảng ta lãnh đạo, toàn Đảng, toàn dân ta
kiên trì và dũng cảm thực hiện.
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đạt được những thành công to
lớn. Để đạt được những kết quả Êy là do nhiều nguyên nhân, trong đó có
nguyên nhân là Việt Nam đã biết tận dụng sức mạnh thời đại. Vì vậy tìm
hiểu quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế thông qua các tổ chức kinh tế
trong khu vực và trên thế giới sẽ giúp hiểu rõ hơn công cuộc đổi mới của
nước ta từ năm 1986 đến nay.
Hiện nay nước ta ngày càng mở rộng mối quan hệ hợp tác quốc tế
nhằm tiến kịp với bước tiến của thời đại , và cũng nhằm tận dụng những cơ
hội, những nguồn lực của thế giới phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất
nước. Những bài học thành công hoặc chưa thành công trong quá trình hội
nhập quốc tế của Việt Nam là những bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá
trên bước đường sắp tới của dân téc.
Chính từ những lÝ do trên đây nên tôi đã quyết định lùa chọn nghiên
cứu đề tài "Việt Nam - quá trình hội nhập thông qua các tổ chức khu
Líp C - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP


nhập của Việt Nam. Điều đó được thể hiện rất rõ qua một số cuốn sách như
Líp C - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP

2
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thu
Trang
APEC và sự tham gia của Việt Nam, NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội -
2006, Thời cơ và thách thức khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế
giới (WTO), NXB Lao động xã hội, Hà Nội - 2006
Các tác phẩm và các bài viết trên đây đề cập một cách cụ thể đến quá
trình Việt Nam gia nhập tổ chức, những đóng góp của nước ta trong tổ
chức, trở thành nguồn tư liệu quý gợi mở cho những người đi sau những
hướng nghiên cứu mới. Tuy nhiên, vấn đề các nhà nghiên cứu lùa chọn lại
chưa đề cập đến vấn đề mà tôi quan tâm, đó là cái nhìn toàn diện về quá
trình hội nhập của Việt Nam. Do vậy, tôi đã quyết định lùa chọn đề tài:
"Việt Nam - quá trình hội nhập thông qua các tổ chức khu vực và thế
giới trong thời kỳ đổi mới 1986 - 2006" để nghiên cứu.
3. Phạm vi nghiên cứu
- Vấn đề nghiên cứu: Khóa luận chỉ tìm hiểu quá trình hội nhập của
Việt Nam thông qua việc Việt Nam gia nhập các tổ chức lớn
trong khu vực và trên thế giới.
- Thời gian : 1986 _ 2006.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này tôi dùa trên phương pháp luận mác xít
trong nghiên cứu. Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc là phương
pháp nghiên cứu chủ yếu trong đề tài này. Ngoài ra tôi còn sử dụng các
phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh làm nổi bật vấn đề nghiên cứu.
5. Nguồn tư liệu
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu tôi dùa vào một số nguồn tư liệu sau:
- Các sách chuyên khảo, tham khảo.

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM TRONG NHỮNG
THẬP NIÊN CUỐI THẾ KỶ XX
1.1. Bối cảnh thế giới
1.1.1. Những chuyển biến cơ bản của nền kinh tế thế giới thập niên 70 -
80 thế kỷ XX.
Từ những năm 1970 - 1980 cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật được
đẩy mạnh trên quy mô chưa từng có trong lịch sử, cách mạng khoa học
công nghệ cao mới liên tiếp thu được tiến bộ, có những đột phá trong
nhiều lĩnh vực, tạo điều kiện cho phân công lao động diễn ra mạnh mẽ.
Dưới tác động của cuộc cách mạng này, sự chuyên môn hóa ngày
càng sâu và chi tiết dẫn đến sự hợp tác giữa các nước mở rộng khắp toàn
cầu, làm cho các nền kinh tế thế giới liên kết, gắn bó chặt chẽ với nhau, phụ
thuộc lẫn nhau. Kinh tế thế giới đang được kết nối như một chỉnh thể, mà xu
hưóng chung là không nước nào đứng ngoài cuộc. Do vậy, từ thập niên 70
của thế kỷ XX đến nay một trào lưu cải cách, cải tổ, điều chỉnh, đổi mới
đang diễn ra trên phạm vi thế giới, không phân biệt chủ nghĩa tư bản, chủ
nghĩa xã hội, các nước phát triển hay các nước đang phát triển, chậm phát
triển.
Toàn cầu hóa hiện nay đang đem lại những cơ hội to lớn cho các
nước nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ. Về khách
quan, toàn cầu hóa kích thích tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy các doanh
nghiệp cải tiến công nghệ và quản lý, mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng
cường thu hót vốn đầu tư nước ngoài, tiếp nhận được những công nghệ kỹ
thuật hiện đại. Đối với các nước đang phát triển, toàn cầu hóa kinh tế đã tạo
Líp C - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP

5
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thu


6
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thu
Trang
tế thương mại quốc tế mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, các thành tựu
khoa học kĩ thuật và sản xuất được phổ biến rộng rãi hơn, nhanh hơn. Tính
đến năm 2006 trên toàn thế giới có khoảng 24 tổ chức liên kết kinh tế khu
vực có quy mô lớn với những mức độ quan hệ khác nhau, nhiều quốc gia
đồng thời là thành viên của nhiều tổ chức kinh tế. Nếu các nước tận dụng
được cơ hội của toàn cầu hóa sẽ đem đến những phát triển nhanh chóng,
ngược lại sẽ bị tụt hậu về kinh tế, những khó khăn tiềm Èn trong các lĩnh
vực khác như thất nghiệp, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, nguy cơ về ổn
định hòa bình xã hội. Việt Nam, một nước đang phát triển cũng đã nhận
thức một cách đầy đủ về xu thế phát triển của thời đại, qua đó từng bước
có những điều chỉnh hợp lý đưa đất nước phát triển trên con đường công
nghiệp hoá - hiện đại hoá trong xu thế hội nhập với khu vực và thế giới.
1.1.2. Hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, xu
hướng hình thành một trật tự thế giới mới.
Những năm cuối thế kỷ XX trên thế giới có những biến động to lớn,
năm 1989 được nhiều giới coi là năm đánh dấu sự kết thúc thời kì chiến
tranh lạnh, mở ra một kỉ nguyên mới dẫn tới chỗ phá vỡ hình thái hai phe,
hai cực. Tiếp đó là sự tan rã và sụp đổ nhanh chóng của chế độ xã hội chủ
nghĩa tại Liên Xô và Đông Âu, đã làm thay đổi một cách cơ bản cục diện
thế giới và đời sống chính trị, xã hội quốc tế, đặt ra cho mỗi quốc gia một
loạt các vấn đề trọng đại và mới mẻ về mọi mặt của xã hội. Sự tan rã của
Liên Xô, nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên và lớn nhất, một trong hai siêu
cường của thế giới đã làm thay đổi trật tự quốc tế cũ, một trật tự thế giới
mới đang dần được hình thành.
Với sự kiện trên đã tạo ra hậu quả sâu rộng về mọi mặt trên thế giới,
các mối quan hệ liên minh kinh tế, chính trị, quân sự đã tồn tại trong 45

mà mang tính chất xuyên quốc gia. Lưu lượng vốn, thương mại, dịch vụ
từ nước này qua nước khác ngày càng tăng mạnh, thị trường được mở rộng
tối đa Xuất phát từ bối cảnh lịch sử cụ thể trên xu hướng hội nhập là một
tất yếu mà bất kì một quốc gia nào muốn phát triển nền kinh tế đất nước
Líp C - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP

8
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thu
Trang
đều phải đặc biệt quan tâm, nếu không sẽ nhanh chóng bị đào thải ra khỏi
môi trường phát triển kinh tế thế giới, rơi vào sự tụt hậu và kém phát triển.
Líp C - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP

9
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thu
Trang
1.1.3 Những tác động trực tiếp từ cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc
năm 1978.
Trước tiên phải khẳng định cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc diễn ra
không phải là một sự ngẫu nhiên, mà là kết quả tất yếu của sự phát triển
lịch sử Trung Quốc và tình hình thế giới suốt ba thập kỷ trước . Trung
Quốc đã trải qua nhiều cuộc vận động nhằm thay đổi tình hình lạc hậu ,
nghèo đói và cát cứ , phục hưng đất nước , nâng cao địa vị dân téc Trung
Hoa , song không thu được kết quả vì nền kinh tế khép kín , và thể chế kinh
tế kế hoạch tập trung cao độ . Đặc điểm của thể chế này là " tập trung nhiều
, phân tán Ýt, thống nhất nhiều, tự do Ýt". Theo đó nhà nước Trung Hoa
đưa ra kế hoạch nắm trực tiếp việc khống chế và phân phối sức người sức
của, mọi hoạt động kinh tế phải tiến hành trong phạm vi quy định.
Tháng 12/ 1978 Đảng cộng sản Trung Quốc họp Hội nghị trung
ương lần thứ 3 khoá XI đưa ra quyết định quan trọng là sửa đổi đường lối

và hoạt động thục tiễn của Việt Nam từ lâu đã quan tâm đến cuộc cải cách của
Trung Quốc . Sau này khi Việt Nam tiến hành cải cách mà nhiều người cho
rằng cải cách kinh tế ở Việt Nam rất giống với cải cách kinh tế ở Trung
Quốc , bên cạnh những hạn chế còn tồn tại đã gặt hái được rất nhiều thành
công.
Như vậy , làn sóng cải cách kinh tế diễn ra rộng khắp trên thế giới, từ
cuối thập kỷ 70 đã tạo nên áp lực mạnh mẽ cho công cuộc đổi mới ở Việt
Nam . Trong bối cảnh phát triển kinh tế sôi động của thế giới , đặc biệt là
các nước trong khu vực thì Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế đó. Tuy
nhiên cần nhấn mạnh rằng, công cuộc đổi mới kinh tế của Việt Nam là sản
phẩm của chính mình, do yếu tố nội lực trong nước quyết định .
1.2. Bối cảnh trong nước.
1.2.1. Nội lực nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975, mô hình kinh tế kế
hoạch hoá tập trung ở miền Bắc được áp dụng trong phạm vi cả nước. Mặc
Líp C - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP

11
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thu
Trang
dù có nhiều nỗ lực trong xây dựng và phát triển kinh tế , nhà nước đã đầu
tư khá lớn nhưng trong 5 năm đầu ( 1976 - 1980) tốc độ tăng trưởng kinh tế
rất chậm chạp , thậm chí có xu hướng giảm sút và bắt đầu rơi vào tình trạng
khủng hoảng.
Trong khi nguồn viện trợ không hoàn lại của các nước xã hội chủ
nghĩa không còn nữa, do bản thân các nước này gặp khó khăn. Hơn nữa
Mỹ thi hành chính sách bao vây cấm vận kinh tế, ngăn cản Việt Nam bình
thường hoá quan hệ với các nước và các tổ chức quốc tế.
Trước những khó khăn đó Đảng và Nhà nước ta tìm đến giải pháp là
thực hiện điều chỉnh từ cơ sở nhằm tháo gì những vướng mắc trong cơ chế

từ trước đến nay đã góp phần đáng kể vào việc khôi phục và củng cố các cơ
sở ổn định và tăng trưởng. Việc tập trung đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và
từng bước kết hợp với việc đổi mới chính trị, văn hoá, xã hội đã khuyến
khích sự phát triển của tất cả các thành phần, lực lượng kinh tế tạo nên sự
thúc đẩy phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy, đồng thời vẫn giữ được sự ổn
định vĩ mô cả về kinh tế, chính trị, xã hội, tiền đề tối cần thiết cho thành
công của công cuộc đổi mới. Ngân sách nhà nước, cán cân thương mại và
dự trữ quốc gia không ngừng được cải thiện, tạo cơ sở vững chắc cho quá
trình tăng trưởng cao và bền vững. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP
giảm xuống, tương ứng với sự tăng lên rõ ràng của công nghiệp và dịch vụ.
Với những nỗ lực trong 10 năm đầu kể từ khi tiến hành đổi mới nước
ta đạt được nhiều thành tựu đáng kể, song vẫn là một trong những nước
nghèo nhất thế giới, lực lượng sản xuất còn nhỏ bé, cơ sở vật chất kĩ thuật,
nhất là kết cấu hạ tầng còn lạc hậu, trình độ khoa học công nghệ chuyển
biến chậm, hiệu quả sản xuất kinh doanh, năng suất lao động, chất lượng
sản phẩm, chất lượng công trình thấp. Nhiều hàng hoá kém sức cạnh tranh
với hàng nước ngoài. Đầu tư của ngân sách nhà nước còn dàn trải, bị thất
thoát, kém hiệu quả, tổng sản phẩm bình quân đầu người trong nước còn rất
thấp. Sức cạnh tranh hàng hoá nước ta so với các nước khác còn yếu do
Líp C - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP

13
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thu
Trang
chưa liên kết phát triển kinh tế với các nước trong khu vực và thế giới.
Trong khi đó tốc độ phát triển của nền kinh tế thế giới đang diễn ra với tốc
độ chóng mặt, nếu tiếp tục duy trì một nền kinh tế ở phạm vi nhỏ hẹp như
vậy mà không hoà vào dòng thác toàn cầu hoá thì nền kinh tế Việt Nam
tiếp tục trong vòng lạc hậu, trì trệ dù cố gắng rất nhiều cũng không thể

quốc”. Sau đó ngày 16/07/1947 khi trả lời một nhà báo nước ngoài, chủ
tịch Hồ Chí Minh nói rõ: " chóng tôi chủ trương làm cho tư bản Việt
Nam phát triển. Mà chỉ có thống nhất và độc lập thì tư bản Việt Nam mới
có thể phát triển. Đồng thời chúng tôi rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư
bản các nước thật thà hợp tác với chúng tôi. Một là, để xây dựng lại Việt
Nam sau lúc bị chiến tranh tàn phá, hai là, để điều hoà kinh tế thế giới và
giữ gìn hoà bình". Đây thực sự là quan điểm đặt nền móng, cơ sở hình
thành đường lối chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta sau này.
Tuy nhiên khi trả lời câu hỏi về hoạt động ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí
Minh khẳng định: "Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ
thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to
thì tiếng mới lớn".
Ngay sau khi thống nhất đất nước năm 1975, Việt Nam đã tìm cách
mở rộng quan hệ kinh tế với các nước, ký nhiều hiệp định song phương
mới, nâng tổng số bạn hàng buôn bán lên gần 40 nước ( 1976 ). Tại Đại hội
Đảng IV, Đảng ta nhấn mạnh vai trò quan trọng của kinh tế đối ngoại,
khẳng định phải: "kết hợp phát triển kinh tế trong nước với mở rộng quan
hệ kinh tế với nước ngoài. Do tầm quan trọng đặc biệt của nó, công tác
kinh tế đối ngoại phải được tăng cường". Việt Nam đã tích cực, chủ động
phát triển quan hệ và tham gia vào các cơ chế hợp tác của các nước xã hội
chủ nghĩa trong khuôn khổ Hội đồng tương trợ kinh tế ( SEV ). Mặt khác,
Việt Nam còng từng bước cải thiện mối quan hệ hợp tác kinh tế với nhiều
nước tư bản chủ nghĩa dùa trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi. Mặc dù
vậy, bạn hàng chủ yếu của Việt Nam vẫn là các nước xã hội chủ nghĩa
( chiếm trên 80% tổng kim ngạch buôn bán của Việt Nam ).
Líp C - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP

15
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thu
Trang

Trang
Trên cơ sở những thành tựu đạt được, Đại hội VIII của Đảng
(06/1996) chủ trương xây dựng nền kinh tế mở, đẩy nhanh quá trình hội
nhập kinh tế khu vực và thế giới. Đại hội nhấn mạnh quan điểm đa phương
hoá và đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại.
Bước vào những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, Đại hội IX của Đảng
đã bổ sung và phát triển đường lối hội nhập kinh tế quốc tế. Đại hội xác
định: "chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát
huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự
chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi Ých dân téc, an ninh quốc gia, giữ
gìn bản sắc văn hoá dân téc, bảo vệ môi trường" [52; 120]. Nhằm cụ thể
hoá đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Bộ chính trị đã ra Nghị
quyết 07 - NQ/TW, ngày 27 / 01/ 2001 về hội nhập kinh tế quốc tế, trong
đó làm rõ hơn mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, nội dung và nhiệm vụ cụ thể
của hội nhập kinh tế quốc tế.
Phát huy những thành tựu đạt được, tại Đại hội X (04/2006) tiếp tục
xác định mục tiêu: " mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội
nhập kinh tế quốc tế đến 2020 nước cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại" [53; 76]. Trên bước đường hội nhập Việt
Nam trở thành bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế và
tiếp tục đẩy mạnh tiến trình hợp tác khu vực và quốc tế.
Thứ hai, chủ trương hội nhập của Đảng ta được xác định dùa trên
các nguyên tắc hội nhập kinh tế quốc tế là : “mở rộng, đa dạng hóa và đa
phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc giữ vững độc lập chủ
quyền, bình đẳng, cùng có lợi “[50; 119 ]. Đa dạng hóa quan hệ đối ngoại ở
đây có nghĩa là mở rộng quan hệ về mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn
hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, y tế, thể dục thể thao, an ninh quốc
phòng…mở rộng quan hệ về Nhà nước, Đảng, các tổ chức đoàn thể xã hội,
Líp C - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP


Trang
Chương 2
QUÁ TRÌNH VIỆT NAM HỘI NHẬP VÀO CÁC TỔ CHỨC
KHU VỰC VÀ THẾ GIỚI
Với chủ trương đường lối đúng đắn của Đảng đã đề ra tại Đại hội VI
năm 1986, Việt Nam nỗ lực phấn đấu từng bước mở rộng cánh cửa hội
nhập, tham gia vào các tổ chức trong khu vực và ở phạm vi lớn hơn. Quá
trình hội nhập Êy sẽ diễn ra cụ thể như sau:
2.1. Vai trò của Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF) đối với sự hội nhập của Việt Nam.
2.1.1. Ngân hàng thế giới (WB).
Ngân hàng thế giới (WB) là tên gọi chung của nhóm Ngân hàng thế
giới (World Bank Group). WB là cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc
được thành lập theo Quyết định tại Hội nghị Tài chính - tiền tệ quốc tế ở
Bretton Woods (Mỹ) năm 1944. Tổng số thành viên hiện nay của WB là
184 nước.
Mục tiêu cơ bản của Ngân hàng thế giới (WB) là thúc đẩy sự tiến bộ
kinh tế, xã hội ở các nước thành viên và nâng cao mức sống ở các nước
này, đặc biệt là các nước đang phát triển. Ngân hàng thế giới gồm các tổ
chức Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế (IBRD), Hiệp hội phát triển
quốc tế (IDA), công ty tài chính quốc tế (IFC), cơ quan bảo lãnh đầu tư đa
phương (MIGA), trung tâm Quốc tế về giải quyết tranh chấp, đầu tư
(ICSID).
Trước năm 1975, chính quyền Sài Gòn là thành viên của ba tổ chức,
sáu nhóm Ngân hàng thế giới (WB) đã đóng góp số vốn là 8,5 triệu USD.
Năm 1978, nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kế tục ba tổ chức
này. Quan hệ giữa Việt Nam với WB thực chất là quan hệ tín dụng giữa
nước ta với Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA), công ty Tài chính quốc tế
Líp C - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP


Líp C - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP

20
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thu
Trang
tín dụng điều chỉnh cơ cấu (SAC), ngoài ra còn cung cấp các hỗ trợ kĩ
thuật, kể cả hỗ trợ kĩ thuật uỷ thác của các nước.
2.1.2. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).
Quỹ tiền tệ quốc tế tên tiếng anh là International Monetary Fund, viết
tắt là (IMF), thành lập theo quyết định của Hội nghị Tài chính tiền tệ thuộc
Liên Hợp Quốc tổ chức ở Bretton Woods (Mỹ) vào tháng 7-1944. Ngày
27-12-1945, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) chính thức ra đời với 29 nước ký
hiệp định thành Quỹ Articles of Agreemet. Tổ chức IMF bắt đầu hoạt động
từ ngày 1-3-1947 và tiến hành khoản vay đầu tiên từ ngày 8-5-1947. Tính
đến tháng 4-2003 tổ chức đã có 184 thành viên.
Quỹ tiền tệ quốc tế có chức năng điều chỉnh quan hệ tiền tệ giữa các
nước thành viên vay trung hạn, ngắn hạn để ổn định tỷ giá hối đoái và giải
quyết cân bằng trong cán cân thanh toán quốc tế.
Tuy nhiên tổ chức này không phải là tổ chức cho vay vốn nhưng lại
đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế các nước, nó là
nhân tố để ổn định giá trị và sự chuyển đổi của đồng tiền nhằm tạo thuận
lợi cho thương mại quốc tế. Lúc đầu tổ chức thiết lập một hệ thống cố định
về chuyển đổi ngoại tệ, nhằm mục đích bảo đảm có đủ số lượng tiền mặt
cần thiết trong lưu thông. Thập niên 1940-1970 Mỹ bảo đảm sự ổn định
của hệ thống đó bằng cách quy định tỷ giá của đồng đô la so với vàng là 35
triệu USD bằng một ounce vàng. Đến năm 1971 hệ thống đó sụp đổ sau khi
Mỹ tuyên bố không đảm bảo tỷ giá cố định như vậy nữa, từ đó đồng đô la
tách khỏi bản vị vàng, tỷ giá hối đoái đồng đô la được thả nổi.
Thập niên 1980, tổ chức IMF áp dụng một chính sách mới đối với
những nước đang phát triển thường bị nợ nhiều bằng cách mở rộng thời

nhóm hỗ trợ (gồm Pháp, Nhật Bản, Óc, Canada ), Việt Nam đã trả xong
số nợ quá hạn, và một thuận lợi tiếp theo nữa là IMF tiếp tục cho nước ta
vay khoản tiền là 206 triệu USD, thời hạn là 5 năm và vay theo thể thức
chuyển đổi hệ thống với số tiền 17 triệu USD, thời hạn 5 năm theo lãi suất
của thị trường. Đây là mốc thời gian đánh dấu sự thiết lập quan hệ bình
thường hoá của Việt Nam với các định chế tài chính quốc tế. Ngược lại để
Líp C - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP

22
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thu
Trang
vay được, nước ta phải đáp ứng những điều kiện khắt khe như giảm bội chi
ngân sách, giảm lạm phát, Ên định thời gian cải tổ cơ cấu kinh tế để chuyển
mạnh sang cơ cấu thị trường. Tuy nhiên ý nghĩa tích của việc tiếp tục vay
vốn IMF là ở chỗ tạo ra tiền đề để có thể vay vốn ở các tổ chức khác cũng
như thu hót vốn đầu tư nước ngoài nói chung. Thành công lớn của Việt
Nam sau khi nối lại quan hệ với IMF là tổ chức này đã cam kết cho Việt
Nam vay 821,56 triệu USD, trong đó đã giải ngân 489,76 triệu USD. Lĩnh
vực ưu tiên trợ cấp của IMF cho Việt Nam gồm hỗ trợ cán cân thanh toán
và dự trữ nhà nước, hỗ trợ chính sách tài chính vĩ mô, cải cách ngân hàng
và doanh nghiệp nhà nước, cải cách thuế. Ngoài ra tổ chức cũng cung cấp
hỗ trợ kĩ thuật như đào tạo và nâng cao kiến thức trong lĩnh vực thuế, quản
lý chi tiêu công, cải cách ngân hàng
Có thể nói Việt Nam đã không ngừng nỗ lực phấn đấu khắc phục những
khó khăn của đất nước, từng bước khai thông quan hệ với các tổ chức, làm
cơ sở đẩy nhanh tiến trình hội nhập của nước ta, có điều kiện phát triển
những mặt mạnh, hạn chế những yếu kém còn tồn tại, ngày càng thu hót nhà
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Việc Việt Nam nối lại quan hệ với các tổ
chức Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) là sự kiện có ý
nghĩa, giúp cho nước ta phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội

cường đoàn kết nội bộ, xiết chặt mối quan hệ giữa các nước có chung
nguyện vọng là tự do, độc lập dân téc và trung lập. Bên cạnh đó tình hình
chính trị trong nội bộ từng nước ASEAN cũng có nhiều diễn biến phức tạp.
Trong bối cảnh thế giới và trong nước như vậy, 5 nước Inđônêxia,
Malaixia, Philippin, Thái Lan, Singapo đều đứng trước yêu cầu phải liên
kết chặt chẽ để củng cố hoà bình bảo đảm an ninh khu vực, dù các nước
này còn nhiều mâu thuẫn. Một lý do dẫn đến yêu cầu liên kết khu vực là
chiến tranh Đông Dương đang chuyển sang thời kỳ quyết liệt, 5 nước nhận
thức rõ những quyền lợi quốc gia đối chọi nhau thực sự, làm chậm trễ sự
tiến bộ của từng nước. Hơn nữa, chính bản thân 5 nước này vấp phải những
khó khăn chung sau khi giành độc lập như sự lạc hậu của các cơ cấu kinh
tế, tình trạng sản xuất độc canh và xuất khẩu nguyên liệu thô. Nếu liên kết
Líp C - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP

24
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thu
Trang
với nhau họ có thể cùng giải quyết dễ dàng hơn những khó khăn lớn Êy,
nhất là chung một chính sách kinh tế đối ngoại nhằm chống lại một cách có
hiệu quả chính sách độc quyền của các nước tư bản phương Tây. Ngoài ra
còn một số nguyên nhân khác tác động đến xu hướng liên kết của các nước
Đông Nam Á. Do đó một hiệp hội dùa trên một thể chế kinh tế, chia sẻ với
nhau những quan điểm cơ bản về thể chế chính trị sẽ đảm bảo được an ninh
lâu dài. Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) ra đời đảm bảo được
những yêu cầu Êy.
2.2.2. Quá trình Việt Nam tham gia vào tổ chức ASEAN.
* Quan hệ Việt Nam - ASEAN trước năm 1995.
Sau khi tổ chức ASEAN được thành lập thì hoạt động chung giữa các
nước trong tổ chức chưa có gì nổi bật. Lúc này trên thế giới đang diễn ra
cuộc chiến tranh lạnh và tình trạng đối đầu giữa hai hệ thống xã hội. Các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status