Đề tài:
Nhà nước và pháp luật trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam.
Lời tựa:
“Pháp luật và nhà nước,hai thành tố của thượng tầng chính trị-pháp lý,luôn có
mối quan hệ khăng khít,không thể tách rời nhau.Pháp luật và nhà nước đều có
chung nguồn gốc cùng phát sinh và phát triển.Nhà nước là một tổ chức đặt biệt
của quyền lực chính trị,những quyền lực đó chỉ có thể được triển khai và phát
huy có hiệu lực trên cơ sở của pháp luật.Pháp luật là hệ thống các quy tắt sử xự
do nhà nước ban hành,luôn phản ánh những quan điểm và đường lối chính trị
của lực lượng nắm quyền lực nhà nước và bảo đảm cho quyền lực đó được triển
khai nhanh,rộng trên quy mô toàn xã hội.Với ý nghĩa đó,nhà nước không thể tồn
tại và phát huy quyền lực thiếu pháp luật;và ngược lại pháp luật chỉ phát
sinh,tồn tại và có hiệu lực khi dựa trên cơ sở sức mạnh của quyền lực nhà
nước.”(1)
Vấn đề về nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng hết sức phức tạp,còn có
nhiều vấn đề tranh luận nhưng chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau.Vì vậy
khi nghiên cứu và tìm hiểu về nhà nước thì ta không thể tách rời chúng với pháp
luật và ngược lại. Chúng ta phải nghiên cứu hai hiện tượng trên song hành nhau
để tìm hiểu những mối liên hệ mật thiết của chúng.Thì chúng ta mới có thể đưa
ra những câu trả lời chính xác và hoàn mỹ nhất.
Cho dù ở mỗi thời đại,mỗi thời kỳ lịch sử có những điểm không giống nhau
nhưng hai hiện tượng nhà nước và pháp luật luôn có mắc xích gắn kết và có mối
quan hệ gần gũi không thể tách rời nhau.Nên việc tìm hiểu và nghiên cứu về hai
hiện tượng đấy ở quá khứ,hiện tại hay trong tương lai đều phải theo một trình tự
hợp lý thì mới mang lại kết quả có tính khoa học được.Vì vậy trong thời đại mới
cần phải có một kiến thức xã hội và pháp lý nhuần nhuyễn mới có thể thu được
thành quả tốt nhất và chuẩn xác nhất trong việc nghiên cứu về nhà nước và pháp
luật.
Phần mở đầu:
Đất nước đang trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới,có nhiều biến chuyển
mới,vì vậy pháp luật của nước ta cũng có nhiều thay đổi nhằm phù hợp với luật
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong những năm qua, chúng tôi xin đề cập,
trao đổi, làm sáng tỏ thêm một số vấn đề.
1.1 - Khái niệm nhà nước pháp quyền
Trong việc nghiên cứu về nhà nước và pháp luật, vấn đề nhà nước pháp quyền
trở thành mối quan tâm đặc biệt của nhiều tác giả là những người làm công tác
thực tiễn cũng như nghiên cứu khoa học pháp lý hiện nay ở trong nước cũng
như ở ngoài nước. Do cách tiếp cận vấn đề hoặc nhận định đánh giá vấn đề ở
góc độ khác nhau, một số vấn đề rất cơ bản liên quan đến nhà nước pháp quyền
vẫn chưa có nhận thức thống nhất hoặc chưa được làm sáng tỏ. Tuy nhiên, hầu
hết các tác giả đều thống nhất cho rằng: dưới góc độ chính trị - xã hội và phân
tầng giai cấp xã hội, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước
mới, thoát ly các kiểu nhà nước mà lịch sử nhân loại đã chứng kiến là: Nhà
nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ
nghĩa.
Vậy, nhà nước pháp quyền là kiểu nhà nước gì? Chúng ta có thể khẳng định
rằng, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước độc lập với các
kiểu nhà nước nói trên và nó cũng không phải là nhà nước kiểu mới không
mang tính giai cấp trong thời đại công nghiệp hiện nay như một số học giả tư
sản đã từng tuyên bố.
Qua thực tiễn tồn tại và phát triển của lịch sử nhân loại, qua nghiên cứu các
quan điểm tư tưởng về tổ chức, xây dựng và vận hành của bộ máy nhà nước qua
các thời kỳ lịch sử, chúng tôi cho rằng, khái niệm nhà nước pháp quyền đề cập
đến phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước nói chung
thông qua hệ thống pháp luật, như hiến pháp, luật và các văn bản pháp quy
khác. Nói cách khác, nhà nước pháp quyền là nhà nước được xem xét dưới góc
độ pháp luật, trong đó tính tối cao của pháp luật được tôn trọng, các tư tưởng và
hành vi chính trị, tôn giáo... của bất cứ tổ chức hoặc cá nhân nào cũng được giới
hạn bởi khuôn khổ pháp luật và chịu sự điều chỉnh của pháp luật.
Với cách tiếp cận này, chúng ta có thể thấy, tư tưởng về xây dựng nhà nước
pháp quyền đã có từ rất lâu trong lịch sử nhân loại và tương ứng với mỗi kiểu
sau:
- Phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước phải do pháp
luật quy định;
- Nhà nước và công dân phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật (đảng phái, tổ
chức, tôn giáo... phải được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ của pháp
luật);
- Quyền lực nhà nước được xác định gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp và
quyền tư pháp;
- Có hệ thống pháp luật đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, thể hiện ý chí và nguyện
vọng của nhân dân để điều chỉnh những quan hệ pháp luật phát sinh trong xã
hội; đặc biệt là bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cơ bản của công dân (hoặc
con người nói chung).
1.2- Sự khác nhau giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Nhà nước
pháp quyền tư sản
Trên cơ sở các tiêu chí chung về nhà nước pháp quyền, chúng ta có thể nhận
thấy tương đối rõ ràng sự khác nhau giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa với Nhà nước pháp quyền tư sản.
1.2.1 - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền tư sản
đều phải thừa nhận phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà
nước do pháp luật quy định. Tuy nhiên, bản chất và nội dung pháp luật về tổ
chức, xây dựng và vận hành bộ máy của hai nhà nước đó có nhiều điểm khác
nhau rất cơ bản. Rõ nhất là, sự khác nhau trong các quy phạm của hiến pháp và
pháp luật về tổ chức, cơ cấu nhân sự và việc xây dựng, vận hành của bộ máy
quyền lực như: Quốc hội và Nghị viện; Tổng thống và Chủ tịch nước, Thủ
tướng Chính phủ, Tòa án, Tòa án Hiến pháp, v.v.. Pháp luật trong Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa thừa nhận tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân, do nhân dân bầu ra các cơ quan quyền lực (Quốc hội, Chính phủ...) và chỉ
có nhân dân trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu của mình là chủ thể duy nhất
có quyền tuyên bố chấm dứt hoạt động của Quốc hội, Chính phủ hoặc tổ chức ra
Quốc hội và Chính phủ nhiệm kỳ mới. Trong khi đó, Hiến pháp và pháp luật tư
chí của nhà nước pháp quyền nói chung, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
nói riêng, còn có một số đặc điểm sau:
1.3.1 - Về quá trình hình thành và phát triển, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam được hình thành và phát triển trên cơ sở đánh đổ chế độ phong
kiến, thực dân, không kinh qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản. Đây là
đặc điểm lịch sử rất quan trọng cho chúng ta thấy rõ điểm xuất phát của quá
trình xây dựng nhà nước cùng với những khó khăn, yếu kém của hạ tầng cơ sở
và thượng tầng kiến trúc xã hội. Qua mấy chục năm phấn đấu, xây dựng và đổi
mới phương thức tổ chức và hoạt động, đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa
nhiệm kỳ khóa VII (1994), lần đầu tiên trong văn bản chính thức của Đảng,
chúng ta mới xác định việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
1.3.2 - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đây là đặc điểm rất quan trọng mà nhà nước
pháp quyền tư sản không thể có được. Thực chất đặc điểm này của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm bảo đảm tính giai cấp, tính nhân
dân của Nhà nước ta. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và do nhân
dân định đoạt, nhân dân quyết định phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành
của bộ máy quyền lực nhà nước nhằm đáp ứng ngày càng cao lợi ích của nhân
dân và của toàn bộ dân tộc. Đây còn là sự thể hiện về tính ưu việt của chế độ xã
hội chủ nghĩa so với các chế độ khác.
1.3.3 - Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà
nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan chức năng
của nhà nước để thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đây là
phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước rất mới mẻ, chúng ta phải
lấy hiệu quả thực tiễn để kiểm nghiệm. Về nguyên tắc, chúng ta không thừa
nhận học thuyết "tam quyền phân lập" vì nó máy móc, khô cứng theo kiểu các
quyền hoàn toàn độc lập, không có sự phối hợp, thậm chí đi đến đối lập, hạn chế
sức mạnh của cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tuy nhiên, chúng ta
cũng không thể trở lại với nguyên tắc tập quyền, tức là tập trung toàn bộ quyền
1.3.5 - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có trách nhiệm bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, công dân phải làm tròn nghĩa vụ
của mình đối với Nhà nước và xã hội. Mối quan hệ qua lại giữa Nhà nước với
công dân, giữa dân chủ với kỷ cương trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam phải do pháp luật quy định và điều chỉnh. Đây là một đặc điểm
quan trọng, xuyên suốt trong toàn bộ quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền
hiện nay và phải được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
1.3.6 - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý xã hội chủ yếu
bằng pháp luật, không ngừng tăng cường và đổi mới công tác lập pháp, hành
pháp và tư pháp; đồng thời, thường xuyên quan tâm đến việc tuyên truyền, giáo
dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân.
1.3.7 - Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây
là đặc điểm nổi bật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được
Hiến pháp ghi nhận và nhân dân Việt Nam đồng tình ủng hộ. Đảng lãnh đạo
Nhà nước thông qua cương lĩnh, đường lối, chính sách được thể chế bằng pháp
luật. Đảng không làm thay Nhà nước và phải hoạt động trong khuôn khổ của
Hiến pháp và pháp luật. Đảng không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo của
mình nhằm tạo điều kiện cho bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu quả, đặc biệt
trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mặt khác, Đảng không ngừng đổi mới công tác tổ chức và xây dựng bộ máy để
bảo đảm Đảng vẫn giữ được vai trò lãnh đạo Nhà nước, nhưng không chồng
chéo với các cơ quan chức năng tương ứng trong bộ máy của Quốc hội, Chính
phủ và các cơ quan tư pháp.
2.Nhà nước và pháp luật trong thời kỳ đổi mới.
Nhà nước ta trong những năm vừa qua đã ban hành nhiều pháp luật về thể chế
hóa đường lối của Đảng, tạo khuôn khổ pháp lý cho công cuộc đổi mới.
Có thể tóm lược bằng các cụm từ sau: Dân chủ hoá xã hội, Hợp lý hoá bộ máy
Nhà nước, Xã hội hoá các hoạt động Nhà nước (dịch vụ công), Dân doanh hoá
nền kinh tế và Pháp chế hoá.
Ta xem xét những vấn đề này trong thực tế.
Cần mở rộng cơ hội đầu tư của dân, xã hội hóa một số lĩnh vực hoạt động từ
trước tới nay thuộc Nhà nước, nay cần tạo điều kiện và khuyến khích kinh tế
dân doanh phát triển không chỉ trong các ngành sản xuất và dịch vụ thông
thường mà cả trong một số lĩnh vực dịch vụ công cộng như y tế, giáo dục, vệ
sinh môi trường, giao thông công cộng đô thị bảo trì và phát triển các công trình
phúc lợi công cộng, tư vấn, bảo hiểm, kiểm toán, kể cả một số công việc dịch vụ
trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp của Nhà nước. Đây là một chủ 1
trương, biện pháp thúc đẩy tiến trình xã hội hoá, mở rộng và nâng cao chất
lượng dịch vụ công đi đôi với chính sách bảo đảm cho người nghèo có điều kiện
hưởng thụ các dịch vụ phúc lợi thiết yếu.
Có lẽ đã đến lúc cần phải thay đổi tư duy cũ bằng một tư duy mới là trong tất cả
mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội, các thành phần kinh tế đều có thể tham gia
theo khả năng và theo pháp luật, không có một lĩnh vực nào là "vùng cấm địa",
hoặc chỉ dành riêng cho hoạt động của cơ quan Nhà nước.
2.4Dân doanh hoá nền kinh tế
Chúng ta không chủ trương tư nhân hóa, nhưng dân doanh hóa, mở rộng và phát
triển kinh tế dân doanh, thu hẹp kinh tế Nhà nước.
Trong tổng thể các thành phần kinh tế hợp thành nền kinh tế quốc dân thống
nhất quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhân tố hàng đầu đảm bảo định hướng xã hội
chủ nghĩa là vai trò chủ đạo của nền kinh tế Nhà nước, là hệ thống doanh nghiệp
Nhà nước. Như vậy doanh nghiệp Nhà nước phải bình đẳng với các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, nhưng phải hoạt động có hiệu quả để
làm đúng vai trò chủ đạo của mình.
Theo chủ trương trên, phải đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, thực
hiện tốt việc giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước có quy mô vừa
và nhỏ. Đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới, phát triển nhằm nâng cao hiệu quả của
doanh nghiệp Nhà nước. Nâng cao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm về tổ chức
sản xuất, kinh doanh, thực hiện chủ trương chuyển doanh nghiệp kinh doanh
100% vốn Nhà nước thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo
Luật Doanh nghiệp.
thứ IX).
Đẩy lùi bốn nguy cơ, thách thức lớn, nắm lấy cơ hội là phải tiếp tục đổi mới, đổi
mới nhanh hơn và mạnh mẽ hơn. Đổi mới không chỉ là sửa chữa sai lầm, điều
chỉnh một số chính sách, pháp luật cho phù hợp, mà là một sự thay đổi về chất,
có tính bước ngoặt trong tư duy và trong phương pháp lãnh đạo, quản lý. Đổi
mới Toàn diện, trước hết là trong lĩnh vực kinh tế, phải tạo ra sự chuyển đổi căn
bản từ nền kinh tế dựa trên công hữu tư liệu sản xuất với hai hình thức sở hữu
toàn dân và sở hữu tập thể sang nền kinh tế nhiều thành phần, Nhà nước giữ vai
trò chủ đạo, mở cửa với thị trường thế giới. Trước mắt cần đẩy mạnh việc xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế.
Điều rất quan trọng là phải ban hành kịp thời, đồng bộ các văn bản hướng dẫn
thi hành luật để luật thực sự đi vào cuộc sống.
Bởi rào cản chủ yếu hiện nay làm cho pháp luật chưa đi vào cuộc sống là thiếu
cơ chế thực hiện pháp luật.
Cùng với việc đổi mới kinh tế, tất yếu phải đổi mới thể chế, tổ chức bộ máy Nhà
nước cho phù hợp. Phát huy dân chủ, chống quan liêu, tham nhũng, xây dựng
Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Sức mạnh của Nhà nước ta là ở dân, dân như nước có thể nâng thuyền và có thể
lặt thuyền. Cần ban hành Luật giám sát của nhân dán. Nhà nước ta có nhiều cơ
quan, tổ chức kiểm tra, giám sát, nhưng giám sát của nhân dân là rộng rãi nhất,
sát sao và thiết thực nhất và có hiệu quả (đây là hình thức giám sát trực tiếp của
dân).
Trên đây là những lĩnh vực, vấn đề chính yếu, có tính then chốt trong đổi mới
cần tập trung nghiên cứu, giải quyết để tạo điều kiện và thúc đẩy trong tổng thể
của công cuộc đổi mới về Nhà nước và Pháp luật làm hành trang vào thế kỷ
XXI.
3.Vai trò của nhà nước trong thời kỳ mới
Vai trò của nhà nước nằm hầu khắp trên các lĩnh vực về văn hóa,chính trị,kinh
tế,giáo dục,đời sống-xã hội…Nhưng trong phần vai trò của nhà nước trong thời
kỳ đổi mới tôi chỉ nêu ra ba vai trò mà tôi cho rằng:những vai trò này là cơ bản
và được triển khai bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước, dưới sự quản lý của
Nhà nước do Đảng lãnh đạo. Xét từ giác độ đó, Nhà nước có tác động trực tiếp
nhất tới việc định hướng sự vận động của kinh tế thị trường. Pháp luật, chương
trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước chỉ đúng, khi chúng
phản ánh chính xác yêu cầu phát triển khách quan của thị trường, lấy quy luật
thị trường làm cơ sở. Xét ở mặt này, chúng mang tính khách quan. Nhưng
chúng lại là sự thể chế hóa, cụ thể hóa mục tiêu chính trị của Đảng, nên cũng có
mặt chủ quan. Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, định hướng chủ quan (ý chí của Đảng, của Nhà nước và nhân dân
ta) là ở chỗ, cùng với việc bảo đảm lợi ích hợp lý của doanh nhân, thì việc ưu
tiên bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động là một vấn đề có
tính nguyên tắc. Nhà nước có cơ chế, chính sách để bảo đảm sự ưu tiên đó, thể
hiện ở cả ba lĩnh vực kinh tế cơ bản sau:
3.1.1Trên lĩnh vực sở hữu: Sự tồn tại của ba chế độ sở hữu (sở hữu toàn dân, sở
hữu tập thể, sở hữu tư nhân), ba hình thức sở hữu (hình thức sở hữu nhà nước,
hình thức sở hữu tập thể, hình thức sở hữu tư nhân) là một đòi hỏi khách quan
của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay. Nhà nước thông qua hệ thống
chính sách, pháp luật, đòn bẩy kinh tế để định hướng, làm cho kinh tế nhà nước
từng bước vươn lên nắm vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể
tạo thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.
3.1.2 Trên lĩnh vực quản lý: Nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách... tạo điều
kiện thuận lợi cho người lao động trực tiếp hay thông qua các khâu trung gian
nhất định tham gia quá trình hoạch định, tổ chức, giám sát, kiểm tra việc thực
hiện các kế hoạch phát triển của doanh nghiệp.
3.1.3 Trên lĩnh vực phân phối: Nhà nước vừa thông qua hệ thống chính sách
kinh tế do mình hoạch định, vừa sử dụng các nguồn lực - trực tiếp là bộ phận
kinh tế nhà nước - để định hướng, can thiệp vào lĩnh vực phân phối và phân
phối lại theo hướng ưu tiên phân phối theo lao động và qua phúc lợi xã hội; kết
hợp tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội; hoạch định các chính
sách xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa...