Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô từ 1945 đến đầu những năm 70
A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Năm 1917, cách mạng tháng Mười Nga thành công đưa nước Nga bước
vào thời kì mới thời kì khôi phục và phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất
cho chủ nghĩa xã hội. Trong suốt thời gian từ 1921 đến 1941, Liên Xô đã thực
hiện được các kế hoạch 5 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội và đạt được nhiều
thành tựu to lớn. Trong lúc nhân dân Liên Xô đang thực hiện kế hoạch 5 năm
lần thứ tư, ngày 22 tháng 6 năm 1941, phát xít Đức tấn công Liên Xô nhân dân
Liên Xô phải tạm dừng công cuộc xây dựng đất nước để thực hiện cuộc chiến
tranh vệ quốc vĩ đại. Trong suốt cuộc chiến tranh thế giới thứ hai (1939- 1945),
Liên Xô luôn giữ vai trò là lực lượng đi đầu và là lực lượng chủ chốt quyết định
thắng lợi của cuộc chiến tranh thế giới.
Trong cuộc chiến tranh chống phát xít, nhân dân Liên Xô đã phải gánh
chịu những hy sinh và tổn thất hết sức to lớn: trên 20 triệu người chết, 1710
thành phố và hơn 70.000 làng mạc bị thiêu huỷ, 32.000 xí nghiệp bị tàn phá. Sau
chiến tranh các nước phương Tây do Mĩ cầm đầu, tiến hành bao vây kinh tế, gây
cuộc “chiến tranh lạnh” và ra sức chạy đua vũ trang, chuẩn bị phát động một
cuộc chiến tranh tổng lực nhằm tiêu diệt Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.
Trong bối cảnh này, vừa phải ra sức củng cố quốc phòng chuẩn bị chống lại
những âm mưu của các nước phương Tây, vừa phải giúp đỡ phong trào cách
mạng thế giới, nhân dân Liên Xô đã tự lực tự cường bắt tay vào công cuộc xây
dựng lại đất nước sau chiến tranh. Với tinh thần cố gắng nỗ lực hết mình dưới sự
lãnh đạo của Đảng cộng sản, nhân dân Liên Xô đã hoàn thành thắng lợi các kế
hoạch 5 năm và trở thành thành trì vững chắc của chủ nghĩa xã hội trên toàn thế
giới đặc biệt là thành tựu trong giai đoạn 1945- 1975.
Trong một tiểu luận nhỏ, tôi không có tham vọng trình bày hết tất cả
những thành tựu mà nhân dân Liên Xô đạt được trong quá trình xây dựng và
phát triển đất nước. Do vậy, tôi đã lựa chọn đề bài cho tiểu luận của tôi là
“Thành tựu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Liên Xô trong giai đoạn
1
IV. CẤU TẠO CỦA TIỂU LUẬN
A. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
II. Phương pháp nghiên cứu
III. Phạm vi nghiên cứu
IV. Cấu tạo của tiểu luận
B. NỘI DUNG
I. Thành tựu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân Liên Xô trong
thời kì từ 1945 đến đầu những năm 70.
1. Thành tựu trên lĩnh vực kinh tế của nhân dân Liên Xô trong thời kì từ 1945
đến đầu những năm 70.
1.1. Công cuộc khôi phục kinh tế sau chiến tranh
1.2. Thành tựu trên lĩnh vực kinh tế
1.2.1. Giai đoạn từ 1953 đến 1964.
1.2.2. Giai đoạn từ 1965 đến nửa đầu những năm 70.
2. Thành tựu trên lĩnh vực chính trị, xã hội
3. Những hạn chế thiếu sót trong qúa trình khôi phục và xây dựng chủ nghĩa xã
hội của nhân dân Liên Xô.
II. Chính sách đối ngoại và mối quan hệ hợp tác của Liên Xô đối với các nước
xã hội chủ nghĩa anh em.
III. Quan hệ quốc tế Việt Nam- Liên Xô.
C. KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
3
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô từ 1945 đến đầu những năm 70
B. NỘI DUNG
I. THÀNH TỰU CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA NHÂN DÂN LIÊN XÔ
TRONG THỜI KÌ TỪ 1945 ĐẾN ĐẦU NHỮNG NĂM 70.
1. Thành tựu trên lĩnh vực kinh tế của nhân dân Liên Xô trong thời kì từ
1945 đến đầu những năm 70.
Trong việc phục hồi nền sản xuất bị tàn phá, các nhà máy và nhân dân các
dân tộc miền đông đất nước đã đóng một vai trò to lớn (nhất là Trung Á).
Trong những năm sau chiến tranh, Đảng và nhà nước Xô viết cũng đặc
biệt quan tâm tới công nghiệp quốc phòng, trước hết là nhằm chế tạo bom
nguyên tử. Năm 1948, lò phản ứng sản xuất Pluton đã được xây dựng ở vùng
Chialibin. Tới mùa thu 1949, Liờn Xụ đã chế tạo thành công bom nguyên tử,
đánh dấu sự tiến bộ vượt bậc của khoa học quân sự Xô viết. Sự kiện đó đã phá
tan thế độc quyền bom nguyên tử của Mĩ, tạo thế cân bằng chiến lược về vũ khí
nguyên tử giữa Liên Xô và Mĩ. Liên Xô đạt được thế cân bằng chiến lược về sức
mạnh quân sự nói chung và sức mạnh hạt nhân nói riêng với phương Tây, Liên
Xô và Mĩ được xem là hai siêu cường về kinh tế và quân sự.
Những thành tựu đạt được của Liên Xô có ý nghĩa to lớn, làm đảo lộn
toàn bộ chiến lược của Mĩ và đồng minh của Mĩ. Ngay trong năm 1949, Liờn
Xô đã ra tuyên bố cấm sử dụng vũ khí nguyên tử một cách vô điều kiện. Từ cuối
những năm 40, Liờn xụ quyết định sử dụng năng lượng nguyên tử vào mục đích
hoà bình. Lần đầu tiờn trờn thế giới nhà máy điện nguyên tử Ôpbơninxki ở
ngoại ô Matxơcơva với công suất 5000 kw đã được xây dựng và đi vào hoạt
động vào mùa hè 1954.
Nhìn chung, công nghiệp đã phục hồi vào năm 1947, đạt mức trước chiến
tranh (1940). Tới cuối kế hoạch 5 năm lần thứ IV đã tăng sản lượng công nghiệp
lên 73% (kế hoạch dự kiến 48%). Hơn 6200 xí nghiệp được phục hồi hoặc xây
dựng mới đi vào hoạt động. Tuy nhiên công nghiệp nhẹ vẫn lạc hậu và không
hoàn thành kế hoạch.
Về nông nghiệp: Khác với những năm 20, trong những năm sau Chiến tranh
thế giới thứ hai chính phủ Liờn Xụ đứng đầu là Xtalin đã tiến hành khôi phục
kinh tế không phải từ nông nghiệp mà là từ công nghiệp nặng. Nhà nước tăng
5
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô từ 1945 đến đầu những năm 70
các nghĩa vụ đối với nụng dõn. Sự khuyến khích lao động mạng tính tượng
trưng. Các nông trang viên buộc phải sống chủ yếu do ngân sách kinh tế phụ.
đề đó bằng cách đưa ra kế hoạch 3 năm phát triển chăn nuôi (1949- 1951). Dự
kiến trong 3 năm sẽ nâng sản lượng đàn gia súc và trứng sữa lên một cách đáng
kể. Đến năm 1951 kết quả đạt được rất lớn, ngang mức năm 1928 (trước khi tập
thể hoá). Tuy nhiên tình hình không duy trì được lâu dài. Năm 1952, do không
đủ thức ăn, số lượng đàn trâu bò lại bắt đầu giảm.
Trong khoa học nông nghiệp, quan điểm của nhóm bác học hành chính do
Viện sĩ T. Lưxencô thắng thế. Công nghệ di truyền, khoa học then chốt của tự
nhiên học hiện đại bị phê phán.
Trong những năm 40- 50 đã diễn ra các chiến dịch cải tạo nông thôn các
nước cộng hoà mới sát nhập vào Liên Xô trước chiến tranh (Ban Tích, Mônđavi,
miền Tây Ucraina, Bêlôrutxia). Công cuộc tập thể hoá được tiến hành ồ ạt. Kết
quả là cơ cấu nông thôn truyền thống ở đây bị phá vỡ nhanh chóng, gây ra sự
hỗn loạn trong cư dân các vùng này.
Những sự kiện quan trọng của năm 1947 là cuộc cải cách tiền tệ và xoá bỏ
chế độ tem phiếu về lương thực và hàng tiêu dùng.
1.2. Thành tựu trên lĩnh vực kinh tế
1.2.1. Giai đoạn từ 1953 đến 1964.
Trong nông nghiệp: Từ nửa sau năm 1953, ở Liên Xô đã diễn ra các cuộc cải
cách để lại nhiều mặt tích cực trong sự phát triển kinh tế quốc dân cũng như đời
sống nhân dân.
Đường lối đó được thông qua vào tháng 8 năm 1953 tại kì họp Xô viÕt tối
cao Liên Xô. Tại đây, người đứng đầu nhà nước Malencốp đã nêu ra vấn đÒ
phát triển nền kinh tế vì lợi Ých con người, về sự quan tâm hàng đầu của nhà
nước đối với phúc lợi nhân dân thông qua sự phát triển nông nghiệp và sản xuất
hàng tiêu dùng.
Sau một tháng, tháng 9- 1953, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương đã
họp phân tích thực trạng của nông nghiệp. N. Khơrutsóp đợc bầu làm Bí thư thứ
nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng.
Vào đầu năm 1954 đã tiến hành đờng lối khai hoang nâng cao diện tích
gieo trồng nhằm giải quyết một cách cÊp bách vấn đề tăng nhanh sản lượng ngũ
thay cho sự mở rộng và củng cố kinh tế phụ, người ta bắt đầu tấn công nó (lần
8
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô từ 1945 đến đầu những năm 70
thứ ba kể từ khi tập thể hoá). Đường lối đó được củng cố trong kì họp tháng 12
năm 1958 Ban chấp hành Trung ương theo đề nghị của Khơrutsốp.
Khơrutsop kêu gọi nông dân bán gia súc riêng của mình cho nhà nước
hoặc nông trang, thay vào việc mua của họ các sản phẩm thịt sữa. Bắt đầu cuộc
xáo động mới trong nông dân Liên Xô. Kết quả tới giữa những năm 60 kinh tế
phụ của các gia đình nông dân trong nhiều vùng đã bị suy giảm tới mức thấp
hơn nửa đầu những năm 50. Chính sách ruộng đất của Liên Xô áp dụng tháng 9-
1953 đã không được tiếp tục, mang tính nửa vời do đó đã bị thất bại (lấy quảng
canh thay cho thâm canh).
Năm 1962, chính phủ quyết định nâng giá thịt lên 1,5 lần để khuyến khích
chăn nuôi. Giá mới không nâng cao được sản lượng thịt mà gây ra sự phẫn nộ
trong các thành phố.
Năm sau tai hoạ ập đến không chỉ có thịt, sữa mà cả bánh mì nữa. Những
hàng người xếp dài trước các cửa hiệu bánh mì. Xuất hiện tâm lý chán nản, bất
mãn. Đến lúc đó chính phủ quyết định rút khỏi cuộc khủng hoảng lương thực
bằng việc mua ngũ cốc của Mĩ. Biện pháp tạm thời này không ngờ đã trở thành
chính sách của nhà nước cho đến khi Liên Xô tan rã.
Kế hoạch 7 năm phát triển kinh tế quốc dân (1959- 1965) trong nông
nghiệp đã thất bại hoàn toàn, thay cho tăng trưởng 70% theo kế hoạch, chỉ đạt
có 15%.
Trong công nghiệp: Liên Xô đã trở thành một quốc gia công nghiệp hùng
mạnh. Vẫn như trước đây, chỗ dựa của công nghiệp là sản xuất tư liệu sản xuất,
tới những năm 60 đã chiếm 3/4 tổng sản lượng công nghiệp. Đặc biệt là công
nghiệp vật liệu xây dựng, chế tạo máy, luyện kim, hóa chất, dầu khí, điện năng
(tăng 4-5 lần so với nửa đầu những năm 50).
Các xí nghiệp nhóm (B) (trước hết là công nghiệp nhẹ, thực phẩm, chế
biến gỗ, giấy) phát triển chậm hơn. Tuy nhiên sản lượng công nghiệp nhóm
đủ các đòn bẩy kinh tế. Được sự ủng hộ của Khơrutsop, năm 1962, báo "Sự
thật" đã đăng những kiến nghị của nhà kinh tế học Libécman về xí nghiệp thực
hiện nguyên tắc kích thích lợi nhuận. Trong gần hai năm, toàn Liên Xô đã thảo
luận về việc triển khai cải cách cơ chế kinh tế.
10
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô từ 1945 đến đầu những năm 70
Tuy nhiên, cải cách cũng làm yếu mối liên hệ giữa các nước cộng hoà. Để
khắc phục tình trạng lệch lạc của chủ nghĩa địa phương, thúc đẩy sự tiến bộ kĩ
thuật, Đảng và chính phủ đã dùng đòn bẩy hành chính- mở rộng bộ máy điều
hành thành lập nền kinh tế quốc dân các nước cộng hòa, về sau đổi thành Hội
đồng tối cao kinh tế quốc dân. Sự điều hành trở nên cồng kềnh, không cân đối.
Thành công lớn nhất trong lĩnh vực kinh tế dân sự là xây dựng nhà ở. Tốc
độ xây dựng nhà ở trong nửa đầu những năm 60 đạt mức kỉ lục chưa hề biết đến
trước đó cũng như sau này. Việc xây dựng nhà ở được thực hiện bằng biện pháp
công nghiệp, trong một thời gian ngắn đã xây dựng xong hàng triệu km
2
nhà ở.
Nhiều khu dân cư mới được xây dựng.
Sự thể nghiệm lớn về kinh tế quốc dân cuối những năm 50 là chuyển từ kế
hoạch 5 năm sang kế hoạch 7 năm. Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế quốc dân
thông qua năm 1956 sau một vài năm đã thất bại. Đảng và chính phủ đã vạch ra
kế hoạch 7 năm- 1959 đến 1965, bao gồm 2 năm cuối của kế hoạch 5 năm lần
thứ 6 và 5 năm tiếp theo.
Sù thay đổi mốc kế hoạch đụng chạm tới một số vấn đề nh việc khai thác
miền Đông Liên Xô, tạo đà cho sự tiến bộ khoa học kĩ thuật và bổ sung thêm
các kế hoạch kinh tế quốc dân cho các nước thuộc Hội đồng tương trợ kinh tế.
Trong 7 năm, công nghiệp Liên Xô tăng lên gần gấp đôi (84% so với kế
hoạch là 80%). Tuy nhiên, các xí nghiệp nhóm (B) vẫn không hoàn thành kế
hoạch.
1.2.2. Giai đoạn từ 1965 đến nửa đầu những năm 70.
nhân viên chức, nhu cầu văn hoá xã hội và xây dựng nhà ở.
Giải quyết vấn đề về nhà ở từ chỗ do nhà nước đảm nhiệm nay chuyển một phần
sang cho các bộ chủ quản.
Cải cách kinh tế 1965 được thực hiện thành công trong những năm kế
hoạch 5 năm lần thứ 8 (1965- 1970). Tổng sản lượng công nghiệp tăng 56%. Đã
xây dựng được khoảng 1900 xí nghiệp lớn, trong đó có nhà máy ô tô Tôliachi.
Năm 1970 nhà máy bắt đầu cho ra xưởng những chiếc Riguli đầu tiên. Sản xuất
nông nghiệp tăng 21%.
Tháng 11 năm 1969 ở Matxcơva đã diễn ra Đại hội lần thứ 3 các nông
trang viên Liên Xô. Đại hội đã thông qua Điều lệ mới của các nông trang (thay
12
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô từ 1945 đến đầu những năm 70
cho Điều lệ năm 1935). Điều lệ mới duy trì quyền có kinh tế phụ, thực hiện trả
tiền bảo hiểm và lương hưu cho các nông trang viên.
Trong những năm 70, tốc độ tăng trưởng kinh tế lại bắt đầu suy giảm, dẫn
đến cuộc khủng hoảng kinh tế sâu sắc. Cải cách 1965 đã ngừng thực hiện, mặc
dù chưa được bao lâu giờ tuyên bố loại bỏ.
Nông nghiệp lại đưa xuống hàng thứ hai, còn trong các lĩnh vực công
nghiệp, sự áp đặt hành chính từ trên xuống các xí nghiệp ngày một tăng. Các Bộ
nắm tất cả các quyền của xí nghiệp, chấm dứt sự tự quản của họ.
Tiếp đó, cán bộ vẫn như cũ, thậm chí chính người chủ xưởng của cải cách
là Côxưgin, đứng đầu chính phủ cũng thiếu quan tâm tới nó. Cuối cùng, những
sự kiện ở Tiệp Khắc năm 1968- 1969 đã tăng cường phái bảo thủ trong Ban lãnh
đạo Xô viết. Cải cách kinh tế không được củng cố bằng cải cách hệ thống chính
trị nên đã bị thất bại.
Tóm lại, trong hơn hai thập niên kể từ năm 1950, mặc dù còn có những
sai lầm và thiếu sót, Liên Xô đã thu được những thành tựu phát triển to lớn trở
thành cường quốc công nghiệp đứng thứ hai trên thế giới (sau Mĩ), chiếm
khoảng 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới.
Từ 1951- 1975, tốc độ tăng trưởng của công nghiệp Xô viết hàng năm
về trình độ học vấn của nhân dân với gần 3/4 số dân có trình độ đại học và trung
học, trên 30 triệu người làm việc trí óc. Đời sống của nhân dân Liên Xô được
nâng lên rõ rệt so với thời kì trước.
2. Thành tựu trên lĩnh vực chính trị, xã hội
Những năm đầu sau chiến tranh, tư tưởng chiếm vị trí đặc biệt. Điều đó
được lí giải là trong quá trình chiến tranh và sau đó, trí thức, trước hết là đội ngũ
cán bộ khoa học, nghệ thuật mong muốn tự do hóa.
Tuy nhiên tình hình quốc tế sau chiến tranh đã thay đổi. Chiến tranh lạnh
bắt đầu. Năm 1946 và 1948 đã thông qua một số chỉ thị về công tác văn hoá của
Trung ương Đảng. Bắt đầu từ Lêningrat. Trong chỉ thị tháng 3 năm 1946: "Về
các tạp chí "Ngôi sao" và "Lêningrat" đã phê phán quyết liệt M.Dôsencô và
A.Akhơmatôvôi, bị buộc tội chống lại chế độ Xô viết.
14
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô từ 1945 đến đầu những năm 70
Ngoài Akhơmatôvôi và Dôsencô, nhiều nhà văn, đạo diễn điện ảnh và
nhạc sĩ cũng bị phê phán như V. Murađeli, A.Phanchênốp, D.Beđơnưi, E.
Cadakêvich, G.Côdinseps
Cuộc đấu tranh cho tư tưởng cộng sản chủ nghĩa trong nền nền văn hoá
diễn ra trong năm 1949 với chiến dịch chống lại sự "bợ đỡ" thấp hèn phương
Tây. Tín hiệu cho chiến dịch đó là bài xã luận trong báo "Sự thật" tháng 2 năm
1949 với tiêu đề "Về một nhóm chống Đảng của các nhà phê bình Xô viết".
I.Iudôpxki, nhà nghiên cứu của Goocki, A. Gurơvich, nhà nghiên cứu về N.
Pôgôđin đã bị buộc tội theo chủ nghĩa dân tộc tư sản và hoạt đầu chính trị.
Trong những năm sau chiến tranh, trong xã hội Xô viết, ngoài đường lối
tăng cường đề cao vai trò của nhà nước như đã nêu trên còn diễn ra mét xu
hướng tăng cường dân chủ hoá hệ thống chính trị. Mùa xuân năm 1945 ngay sau
chiến tranh Châu Âu kết thúc, Đảng và chính phủ đã tiến hành các biện pháp để
chấm dứt tình trạng khẩn cấp, loại bỏ uỷ ban quốc phòng nhà nước, cơ quan
chính quyền nằm ngoài hiến pháp do hoàn cảnh chiến tranh bắt buộc. Trong
những năm 1946- 1948 đã diễn ra cuộc bầu cử vào Xô viết các cấp và đổi mới
cáo đó đã mở đầu cho sù chia rẽ to lớn trong phong trào cộng sản quốc tế. Một
số Đảng cộng sản gọi là "Chủ nghĩa xét lại".
Báo cáo đó được giữ bí mật ở Liên xô trong 33 năm (lần đầu tiên công bố
năm 1989- ở Mĩ công bố hè năm 1956). Đại hội lần thứ XX cũng mở đầu cho
quá trình "minh oan" rộng lớn cho những người bị kết tội trong những năm 30
và 50 và một số dân tộc thiểu số (Chêchen, Ingusli, ).
Năm 1964, chính phủ đã tuyên bố xoá bỏ lệnh của Đoàn chủ tịch xô viết
tối cao ngày 28-8-1941 trong quan hệ với người Xôviết gốc Đức bị buộc tội hợp
tác với bọn chiếm đóng. Đến năm 1968 lời buộc tội như vậy đối với người Tacta
Crưm cũng được loại bỏ. Cuối những năm 60 quá trình minh oan đã chấm dứt.
Mùa hè năm 1957, Ban lãnh đạo Đảng và Chính phủ nhận thấy Khơrutsôp
đã đi quá xa trong việc phê phán Xtalin, làm giảm uy tín của Liên Xô và Đảng
cộng sản Liên Xô trên trường quốc tế. Nguyên soái Vôrôisilôp (đứng đầu nhà
nước), nguyên soái Bunganin (đứng đầu chính phủ) cũng như Môlôtôp,
Malencôp tạo nên đa số trong Đoàn chủ tịch Ban chấp hành Trung ương đã
16
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô từ 1945 đến đầu những năm 70
thông qua nghị quyết loại Khơrutsoop khỏi chức vị Bí thư thứ nhất ban chấp
hành Trung ương.
Khơrutsoop không tán thành. ủng hộ Khơrutsoop có một số thành viên
trong Đoàn chủ tịch Ban chấp hành Trung ương, những người lãnh đạo thuộc cơ
quan "quyền lực"- Bộ trưởng quốc phòng Grucôp, Chủ tịch Uỷ ban an ninh
(KGB) Xêrôp. Những người chống đối Khơrutsôp dần dần bị thay thế hoặc
chuyển đổi công tác.
Kết quả, năm 1958 Khơrutsoop đồng thời giữ chức vụ Bí thư thứ nhất
Ban chấp hành Trung ương kiêm chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên xô.
Năm 1956, Đại hội lần thứ XX của Đảng cộng sản Liên Xô đã giao cho
Ban chấp hành Trung ương dự thảo đề án cương lĩnh mới của Đảng- Cương lĩnh
xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô.
Ngay từ trước chiến tranh đã thành lập uỷ ban dự thảo cương lĩnh của
chủ quan nóng vội và "đốt cháy" giai đoạn. Như đề ra kế hoạch "xây dựng chủ
nghĩa cộng sản trong vòng 15- 20 năm" hoặc những khẳng định vội vã "chủ
nghĩa xã hội thắng hoàn toàn và triệt để ở Liên Xô” (1959), "Liên xô đã xây
dựng được chủ nghĩa xã hội phát triển" (1971), hoặc vẫn duy trì nhà nước tập
trung, quan liêu và bao cấp vốn đã có những khuyết tật thiếu sót, không tôn
trọng đầy đủ những quy luật khách quan về kinh tế, trong công nghiệp thiếu sự
phát triển cân đối, hài hoà giữa công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, kéo dài
tình trạng coi sản xuất hàng tiêu dùng là thứ yếu và chất lượng thấp, hình thức
kém của nhiều loại hàng hoá; tình trạng thiếu dân chủ, chưa công bằng và và vi
phạm pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tuy thế lúc này, những thiếu sót sai lầm đó
chưa dẫn tới trì trệ và khủng hoảng, nhân dân Xô viết vẫn hăng hái, tin tưởng
trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Xã hội Xô viết vẫn ổn định và phát
triển.
II. CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VÀ MỐI QUAN HỆ HỢP TÁC CỦA LIÊN XÔ ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ANH EM.
Về đối ngoại, Đảng và Nhà nước Xô viết đã thực hiện chính sách nhằm
mục tiêu chủ yếu và phương hướng cơ bản là: Đảm bảo những điều kiện thuận
lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, loại trừ nguy cơ chiến tranh, duy
trì hoà bình và an ninh chung; mở rộng việc hợp tác với các nước xã hội chủ
18
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô từ 1945 đến đầu những năm 70
nghĩa; góp phần củng cố và thúc đẩy sự tiến bộ của hệ thống xã hội chủ nghĩa,
phát triển quan hệ hữu nghị, bình đẳng với các nước mới được giải phóng; duy
trì và phát triển quan hệ với các nước tư bản chủ nghĩa trên cơ sở chung sống
hoà bình, hợp tác thiết thực, cùng có lợi; đoàn kết quốc tế với các Đảng cộng sản
và các đảng dân chủ cách mạng, với phong trào công nhân quốc tế và phong trào
đấu tranh giải phóng của các dân tộc.
Những mục tiêu, phương hướng trên được thực hiện thông qua những
hành động thực tiễn, những biện pháp cụ thể. Với các hiệp ước đoàn kết, hữu
nghị và hợp tác, Liên Xô đã giúp đỡ tích cực và to lớn về vật chất cũng nh tinh
Liên Xô cũng đã kiên quyết đấu tranh để bảo vệ Cuba và cuối cùng đi đến thỏa
hiệp giữa Tổng thống Mĩ Kenơdy và Khơrutsốp là Liên Xô sẽ rút hết tên lửa ra
khái Cuba và đổi lại là Mĩ chấm dứt phong tỏa C uba .
Quan hệ với Trung Quốc: sau khi nước cộng hoà Dân chủ Nhân dân
Trung Hoa ra đời tháng 10 năm 1949, quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc hết
sức tốt đẹp. Liên Xô đã kí với Trung Quốc một hiệp ước hữu nghị hiệp tác năm
1950 để giúp đỡ và viện trợ cho Trung Quốc khôi phục kinh tế và xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Quan hệ của Liên Xô và Trung Quốc thời kì này đã làm cho sức
mạnh của chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới là ở thế áp đảo so
với chủ nghĩa đế quốc và phản động quốc tế. Đây cũng là nguyên nhân cơ bản
đảm bảo thắng lợi của Triều Tiên trong chiến tranh Mĩ- Triều Tiên từ 1950-
1953. Tuy nhiên quan hệ Xô- Trung xấu đi từ sau Đại hội lần thứ 20, Liên Xô
bắt đầu rút hết chuyên gia về nước, cắt đứt viện trợ và từ bất đồng chuyển sang
mâu thuẫn và đi đến thù địch. Báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng
giữa hai nước công khai chống nhau và đi đến xung đột biên giới trong những
năm 60, quan hệ Xô- Trung xấu đi làm cho quan hệ giữa các nước các nước xã
hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản quốc tế có sự chia rẽ.
Với tư cách là một trong những nước sáng lập, tại Liên Hợp Quốc- tổ
chức quốc tế rộng lớn nhất- Liên xô đề ra nhiều sáng kiến quan trọng nhằm giữ
vững và đề cao vai trò của Liên Hợp Quốc trong việc củng cố hoà bình, tôn
trọng độc lập, chủ quyền của các dân tộc và phát triển sự hợp tác quốc tế.
20
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô từ 1945 đến đầu những năm 70
Từ diễn đàn quốc tế rộng lớn nhất này, Liên Xô không ngừng lên án các
hành động chiến tranh xâm lược, phản đối chính sách chạy đua vũ trang gây
căng thẳng của các nước đế quốc, ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của các dân
tộc, kiên quyết bảo vệ hoà bình, an ninh thế giới. Liên Xô đã đưa ra nhiều sáng
kiến, sau trở thành những văn kiện, nghị quyết quan trọng của Liên Hợp Quốc
như: Tuyên ngôn về việc thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa thực dân và trao trả độc
lập cho các quốc gia và dân tộc thuộc địa (1960), Tuyên ngôn về việc cấm sử
nơi giúp Việt Nam phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Nhiều công trình do Liên
X ô giúp xây dựng đã gắn bó với bao thế hệ người dân Việt Nam, đến nay vẫn
phát huy hiệu quả tích cực như Trường Đại học Bách Khoa, Bệnh viện Hữu nghị
Việt- Xô. Hàng chục ngàn cán bộ Việt Nam được đào tạo tại Liên Xô đã trở
thành những cán bộ chủ chốt, những chuyên gia giỏi trên nhiều lĩnh vực.
Quan hệ hợp tác giữa hai nước cũng sớm được quan tâm thúc đẩy, khởi
đầu bằng việc kí Hiệp định hợp tác kinh tế thương mại Việt- Xô ngày 18/6/
1955. Chỉ 5 năm sau đó, kim ngạch buôn bán hai chiều đã tăng lên gấp 13 lần
(năm 1955 chỉ đạt 5 tỉ rúp). Và thời kì 1976- 1980, khối lượng hàng trao đổi
hàng hóa giữa hai nước bằng 20 năm trước cộng lại. Những năm cuối thập kỉ
1980, Liên Xô thường chiếm khoảng 40% kim ngạch xuất khẩu và 60% kim
ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Tình cảm đoàn kết, gắn bó và quan hệ hợp tác
tốt đẹp về nhiều mặt Việt- Xô đã đặt nền móng vững chắc cho quan hệ Việt-
Nga sau này tiếp tục phát triển lên tầm cao mới.
Sau khi Liên Xô tan rã (tháng 12/ 1991), quan hệ hợp tác nhiều mặt cùng
có lợi giữa Việt Nam và Liên bang Nga tiếp tục được coi trọng và phát triển.
Quan hệ hai nước dần hồi phục và ngày càng phát triển mạnh mẽ toàn diện. Việc
kí Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị giữa CHXHCN
Việt Nam và Liên bang Nga ngày 16/6/1994, nhân chuyến thăm Nga của Thủ
tướng Võ Văn Kiệt, đã mở ra mét giai đoạn phát triển tốt đẹp mới trong quan hệ
giữa hai nước. Tiếp đó, các chuyến thăm lẫn nhau của lãnh đạo cấp cao hai bên
đã diễn ra thường xuyên. Đặc biệt, chuyến thăm của chủ tịch nước Trần Đức
Lương tới Liên bang Nga tháng 8/ 1998 đã tạo bước đột phá mới trong quan hệ
22
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô từ 1945 đến đầu những năm 70
hợp tác nhiều mặt giữa hai nước. Lần đầu tiên, Tổng thống Nga Boris Yeltsin
khẳng định Nga coi Việt Nam là đối tác chiến lược ở Đông Nam á. Và khuôn
khổ quan hệ Việt- Nga trong thế kỉ XXI đã được chính thức hoá bằng việc kí
Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược nhân dịp Tổng thống Nga
Vladimir Putin thăm Việt Nam (28/2 đến 2/3/2001). Việt Nam và Liên bang Nga
hợp tác văn hoá giữa hai nước được tổ chức thường xuyên đã góp phần củng cố,
tăng cường hơn nữa sự gắn bó giữa hai dân tộc Việt- Nga.
Quan hệ Việt- Nga được xây dựng và phát triển trên nền tảng của tình hữu
nghị gắn bó giữa hai dân tộc và được kiểm chứng bởi thời gian. Tiếp tục củng
cố, phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống, sự hợp tác nhiều mặt giữa Việt
Nam và liên bang Nga trên tinh thần đối tác chiến lược, không chỉ vì lợi Ých của
nhân dân hai nước mà còn góp phần vì hoà bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở
khu vực và trên thế giới.
Tổng bí thư Nông Đức Mạnh trong chuyến thăm Nga tháng 10/2002 đã
khẳng định rằng: “Từ lâu, nhân dân hai nước chúng ta đã gắn bó chặt chẽ với
nhau bởi mối tình hữu nghị bền chặt và quan hệ hợp tác tốt đẹp về nhiều mặt.
Mối quan hệ thắm thiết đó được thử thách qua nhiều thập kỉ, trở thành tài sản
quí báu và là nhân tố vô cùng quan trọng để tiếp tục đưa quan hệ hai nước lên
tầm cao mới”.
24
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô từ 1945 đến đầu những năm 70
C. KẾT LUẬN
Công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế của nhân dân Liên Xô sau khi
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã thu được nhiều thành tựu lớn. Liên Xô
đã tạo được vị thế của mình trên trường quốc tế, tạo thế cân bằng chiến lược
giữa Liên Xô và Mĩ. Mặc dù còn nhiều thiếu sót nhưng những thành tựu đó đã
khẳng định được sự nỗ lực cố gắng hết mình của Đảng và nhân dân Liên xô.
Với tinh thần tự lực tự cường, vượt qua mọi khó khăn thử thách Liên Xô
đã trở thành một cường quốc công nghiệp trên thế giới, là nước xã hội chủ nghĩa
đứng đầu trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Trên mọi lĩnh vực: kinh tế,
chính trị, khoa học kĩ thuật, quân sự Liên Xô đÒu giữ vị thế cao trên thế giới,
đời sống của nhân dân được nâng cao rõ rệt.
Trên cơ sở những thành tựu đạt được, Liên Xô cũng đã khẳng định được
vai trò của mình đối với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, là thành trì của chủ
nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới. Đối với Việt Nam, Liên Xô luôn