1.Khái quát về lịch sử Thăng Long-Đông Đô-Hà Nội.
Thăng Long từ vị trí trung tâm của một vùng, đã được lựa chọn để trở
thành thủ đô, trung tâm của cả một quốc gia phong kiến độc lập; trở thành
trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, quân sự, ngoại giao của đất
nước.
Thăng Long với vị trí của mình, đã sớm trở thành trung tâm hội tụ,
giao lưu của nhiều vùng miền văn hoá, của nhiều nền văn minh trong nước,
cũng như trên phạm vi rộng lớn của vùng Đông Nam châu Á.
Trong lịch sử, mối quan hệ giữa Thăng Long, còng nh quốc gia Đại
Việt với phong kiến phương Bắc – Trung Hoa là thường xuyên và có tính
chất liên tục hơn cả, đó là mối quan hệ có tính chất chi phối mọi mối quan
hệ khác. Bên cạnh đó, Thăng Long Đại Việt cũng đã sớm có những mối
quan hệ về chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hoá với các quốc gia
Đông Nam á; các mối quan hệ này cũng có vai trò nhất định đối với sự hình
thành, phát triển của Thăng Long trong suất chiều đài lịch sử.
1.Miền đất Thăng Long – Hà Nội với những mối liên hệ thời tiền sử và
sơ sử.
Miền đất Hà Nội cũng nh toàn bộ lãnh thổ Việt Nam thuộc về context
Đông Nam Á, cùng chia sẻ với các quốc gia Đông Nam Á nhiều giá trị văn
hoá, lịch sử tương đồng của nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước, nền
văn minh phia Hoa, phi Ên.
Từ thế kỷ III-IV, Thăng Long là một huyện (Tống Bình), rồi thế kỷ V-
VI nó là một châu (Tống Châu), Lý Nam Đế với con mắt tinh đời, năm 554
đã dựng nước Vạn Xuân, xây chùa Khai Quốc, dựng điện Vạn Thọ, đắp
thành ở cửa sông Tô Lịch (theo Lương thư, Nam Tề thư). Đến thế kỷ VII-
VIII nó trở thành một phủ (An nam đô hộ phủ) có thành có thị. Nó là một đô
thị hiếm hoi của đất Việt và Đông Nam Á.
1
phái thiền tông thứ hai ở Việt Nam Là phái Tì Ni Đa Lưu Chi, người
Thiên Trúc, sang Việt Nam năm 580, với trung tâm là chùa Pháp Vân ở Cổ
Châu (chùa Dâu, Thuận Thành, Bn).
Long.
Chỉ trong vòng một vài thế kỷ sau khi định đô, Thăng Long đã được
xây dựng về mọi mặt và trở thành trung tâm chính trị-kinh tế-văn hoá lớn
nhất và tiêu biểu cho cả nước. Thành quách, đê điều, các loại kiến trúc cung
đình, dân gian, tôn giáo, văn hoá…tất cả hoà quyện với thiên nhiên tạo thành
dáng vẻ riêng của kinh thành Rồng Bay – Thăng Long, vừa ngoạn mục, vừa
giản dị, rất gần gũi với thiên nhiên và tính cách người Việt, đượm tính dân
gian và tính dân tộc.
Trong vương quốc Chiêm Thành, âm nhạc, ca múa đặc biệt phát triển,
người Chiêm đẫ giữ lâu bền một số phong tục cổ truyền như ăn trầu, nhuộm
răng đen, coi trọng phụ nữ, đặc biệt nền văn minh văn hóa nông nghiệp, thủ
công nghiệp, chế tạo đồ trang sức, nghề dệt phát triển, kỹ thuật xây dựng
tháp của người Chiêm đạt đến trình độ cao. Nó không chỉ phát triển trong
nước mà nú cũn tác động ảnh hưởng mạnh mẽ tới các nước và khu vục xung
quanh, đặc biệt nó có ảnh hưởng mạnh mẽ tới nền văn hóa Đại Việt
191… đời thứ 14 có Khánh Hỷ, tăng thống ở chùa Hương Từ Liêm,
quận Vĩnh Khang, dòng dõi Bà la môn (gốc Chàm). Thời Lý Trần di dân
người Chàm đến ngụ ở Vĩnh Khang tức vùng Từ Liêm, Hoài Đức ngày nay
là khá nhiều. Trong khoảng niên hiệu Thiên Chương Bảo Tự (1133-1137),
vua triệu sư vào cung phong làm t ăng lục rồi lên tăng thống.
Thăng Long thời Trần đã mang dáng dấp của một thành phố quốc tế.
Một thành phố nhân ái, đón nhiều người đến cư trú chính trị, chống sự xâm
lược của đế quốc Nguyên Mông. Như đại quan nhà Tống Hoàng Bính đem
cả 1200 người sang Thăng Long xin trú ngụ; như tham chính Tăng Uyên
Tử, như tướng Tống Triệu Trung, như gia đình nghệ sĩ leo dây múa rối Đinh
Bàng Đức…
275…Thăng Long kháng chiến chống Nguyên Mông. Thăng Long từ
chối không cho Mông cổ mượn đường đánh Chiêm Thành.
Thăng Long gửi quân vào giúp Chiêm Thành kháng chiến chống
Nguyên Mông.
(Qung Ninh) tr thnh mt trung tõm buụn bỏn vỡ cú v trớ thun li. Trong
thi k ny, cỏc quc gia ụng Nam cng bc vo thi k phỏt trin nờn
cng cú mong mun thit lp quan h vi cỏc nc trong khu vc. Nm
1149, mựa xuõn, thỏng hai, thuyn buụn ba nc Tro Oa (Java), L Lc v
Xiờm La vo Hi ụng, xin li buụn bỏn, bốn cho lp trang ni hi o
gi l Võn n mua bỏn hng hoỏ quý, dõng tin sn vt a phng
4
Nm 1348, nc Tro Oa (Java) chớnh thc sai s sang t thụng hiu
vi i Vit: Nm 1348, thỏng 5, mựa h, nc Tro Oa sang cng sn vt
a phng v chim vt bit núi
5
. Nm 1360, thỏng 10, mựa ụng,
3
Đại Việt sử ký Toàn th, tập 1, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội-1998, tr.247.
4
Đại Việt sử ký Toàn th, tập 1, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội-1998, tr.317.
5
Đại Việt sử ký Toàn th, tập 2, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội-1998, tr.131.
thuyn buụn cỏc nc L Lc, Tro Oa, Xiờm La n Võn n buụn bỏn v
tin cỏc sn vt l
6
Ch V cú quan h vi cỏc vng triu phong kin Vit Nam t bui
u c lp. Ch V cú quan h v ngoi thng vi i Vit t rt sm, v
mi quan h ny l thng xuyờn hn c.
2.2.Nhng mi liờn h-giao lu v kinh t-thng mi.
T thi Lý-Trn, vi sc mnh ca mt quc gia ang lờn, Thng
Long-i Vit ó phỏt trin lờn mt tm cao mi, d nhp mnh m vo h
thng thng mi, buụn bỏn chung ca khu vc ụng Nam ỏ-h thng
thng mi bin ụng.
Vic nh ụ ca Lý Cụng Un Thng Long l quyt nh ht sc
Việc lập thương cảng Vân Đồn năm 1049 thời Lý Trang Tông có thể
coi là một động thái thể khiện “khát vọng” vươn mình hội nhập thương mại
với thế giới bên ngoài của nhà nước phong kiến Đại Việt sau một thời gian
dài “bị lãng quên” dưới ách thống trị của phong kiến phương Bắc. Sự có mặt
của các thương nhân người Mã Lai, người Hồi Hột, người Java…được ghi
chép trong chính sử, hay những minh chứng xác thực nhất của khảo cổ học ở
khu vực thương cảng Vân Đồn đã giúp chúng ta phần nào hiểu được về
những mối quan hệ thương mại giữa Thăng Long Đại Việt với các nước
trong khu vực.
Mối quan hệ tương tác giữa hai trung tâm kinh tế lớn là Thăng Long-
với vị thế là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả đất nước với Vân
Đồn-với vị thế là cửa ngõ giao thương với thế giới bên ngoài, đã trở thành
trục chính cho sự phát triển của thương mại Thăng Long Đại Việt. Điều đó
đã góp phần tạo nên sự phồn thịnh của thành thị Thăng Long 36 phố phường
đông vui, tấp nập.
Người Việt tuy “ít có truyền thống thương mại biển”, nhưng cũng đã
nhận thức được sức mạnh của thương mại, buôn bán trên biển-minh chứng
là sự ra đời của thương cảng Vân Đồn năm 1049, chủ động dự nhập vào hệ
thống thương mại khu vực.
Sự hình thành của nhiều phường hội thủ công, sự du nhập của nhiều
nghề thủ công ở Thăng Long trong suốt chiều dài lịch sử là kết quả của quá
trình giao lưu văn hoá với thế giới bên ngoài, đặc biệt là từ Trung Quốc và
các quốc gia Đông Nam á. Các thương nhân từ nhiều quốc gia khác nhau
đến tham quan, hay buôn bán ở Thăng Long đã ở lại nơi này để lập nghiệp,
sản xuất hàng hoá và sinh sống luôn ở đây.
255…sử sách đời Trần còn chép đến các phường Tây Nhai ở phía tây
bên hữu kinh thành, phường Kiều Các Đài cũng ở bên hữu kinh thành;
phường Nhai Tuấn, nơi mà mà năm 1247, 30 thuyền buôn của người Tống
chống Nguyên đào vong sang ta, đem vợ con, của cải sang xin phụ và vua
Trần cho ở phòng đó. Họ mở phố chợ, bày bán vóc đoạn và thuốc bắc, tự gọi
Đến thế kỷ XVIII, nghề Khảm xà cừ khá phát triển ở Thăng Long. Lê
Quý Đôn trong “Phủ biên tạp lục” cho rằng: Nghề khảm xà cừ từ rất lâu
trước đây đã vừa lan đến những miền xa xôi nhất của đất nước, tận những
vùng thuộc Chiêm Thành và Cao Miên, lại vừa hội tụ trong 36 phố phường
của đất đế đô, đã khẳng định hùng hồn sự phát triển của nó cả về chiều rộng
lãnh thổ, cả về số lượng và chất lượng.
2.3.Giao lưu về văn hoá.
Thăng Long – Đại Việt nằm trong mét context chung là Đông Á-Đông
Nam Á, nằm ở vị trí trung tâm, đã tiếp thu được nhiều nền văn hoá khác
nhau, sáng tạo thành nền văn hoá của riêng mình.
Có hai con đường giao lưu văn hoá chính là:
- Con đường giao lưu tự nguyện, tự du nhập.
- Con đường giao lưu thông qua chiến tranh, bắt tù binh, người tài từ
các quốc gia láng going (đặc biệt là từ Chăm Pa) mang về Thăng Long, trở
thành những nghệ nhân tài hoa, góp phần vào quá trình xây dung Thăng
Long.
Các sản phẩm văn hoá du nhập vào Thăng Long: Lễ hội, ca múa nhạc,
mang vào những nghề mới: Dệt lĩnh Chăm, múa chăm, thợ Chăm xây dưụng
tháp Báo Thiên…
Thời các triều đại phong kiến Việt Nam, qua các cuộc chiến tranh
giữa hai nước, xảy ra các cuộc bắt bớ cung nữ của Chiêm Thành về Đại
Việt, sẽ có những cuộc vui để mừng chiến thắng , sẽ có những điệu múa của
cả hai nước, chính điều đó đó cú sự học hỏi lẫn nhau của hai nền văn hóa.
Cũng như trong các bữa tiệc tổ chức tiếp đún cỏc sứ thần sang cống
nạp, hay lễ mừng thọ. lễ mừng các công trỡnh đã xây dựng xong đều tổ chức
ca múa, giao lưu. Mối quan hệ văn hóa của hai nước giai đoạn này là có sự
học hỏi lẫn nhau, sự tiếp thu văn hóa của nhau để cung xây dựng nền văn
hóa đặc sắc của dân tộc mình. Cả hai nền văn hóa cú nột tương đồng là đều
có tục thờ cúng tổ tiên, tục ăn trầu, tục nhuộm răng đen. Phải chăng đây là
sự giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa hai nền văn hóa Việt- Chiêm.
tinh hoa văn hoá nghệ thuật từ mọi miền của đất nước, mà còn nhạy bén
trong việc tiếp thu những thành tựu nghệ thuật từ nước ngoài vào, mà trước
hết là từ Trung Quốc, Champa, Ên Độ.
Cung nữ Chiêm Thành được đem về Thăng Long múa hát trong yến
tiệc nhà vua thời Lý. Nhiều nghệ nhân Trung Quốc đã vào Việt Nam và có
ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển của nghệ thuật Việt Nam – mà
trước hết là ở Thăng Long.
Các triều Lý-Trần-Lê, khi triều đình phát quân đánh Chiêm Thành bắt
được nhiều tù binh Chiêm và đã “an tháp” họ thành các “làng” bao quanh
ngoại thành Thăng Long- Đông Đô-Đông Kinh.
Làng Trích Sài ngay cạnh Hồ Tây có ngôi miếu nhỏ thờ bà chúa Lĩnh
có tên Việt là Phan Ngọc Đô, vốn người con gái Champa, được vua lê Thánh
Tông đưa cùng 22 thị nữ Champa ra ở Trích Sài. Tại đây bà đã truyền nghề
dệt Lĩnh Chăm cho dân. Khi bà mất, dân làng lập miếu thờ, tôn xưng bà là tổ
nghề của quê mình.
Tổ sư nghề dệt ở phường Nhược Công (nay là Thành Công-Ba Đình)
từ cuối thời Lý là công chúa Thụ La, vợ quan Công bộ hầu Đoàn Thường.
Theo thần tích đình làng Thành Công, bà là người gốc Chămpa.
7
7
TrÇn Quèc Vîng, Hµ Néi-Nh t«i hiÓu, NXB T«n Gi¸o, Hµ Néi-2005., tr.208.
Giữa thế kỷ XV, vua Lê Thánh Tông cắt đất của phường Trích Sài
cho người cung phi gốc Chàm là Phan Thị Ngọc Đô làm thái Êp lập ra Thiên
Niên Trang.
Sự đóng góp của người Chăm và người Hoa vào sự phát triển của văn
hoá, văn minh Thăng Long-Đại Việt: Công trình xây dựng tháp Báo Thiên
“hình thiên trụ” là công lao của những người thợ Chăm tài hoa, dưới sự đốc
công của người Việt
8
.