QUAN H GIA VNG QUC C CHAMPA
VI CC NC TRONG KHU VC
(T U N TH K XV)
T thc tin min Trung - c bit t u thp k 90 ca th
k XX, GS Trn Quc Vng ó i n nhn nh quan trng,
khng nh vai trũ ca giao lu-giao thoa vn hoỏ, min Trung,
vi nn vn hoỏ Cng th.
Bt k nn vn hoỏ no, m vn hoỏ Vit Nam Champa
min Trung cng l nh vy - u l kt qu tỏc ng qua li
(Interaction) gia nhng nhõn t ni sinh (endogen) v nhng nhõn
t ngoi sinh, v t lc cỏnh sinh t bao gi n bõy gi vn
phi l dũng t tng chớnh
1
Trong sut chiu di hn mt ngn nm hỡnh thnh phỏt trin
v cú thi im tr thnh cng quc ca ụng Nam , lch s
Champa khụng khi no phỏt trin tỏch ri vi lch s khu vc, m
ngc li, lch s Champa chia s nhiu giỏ tr c trng ca khu
vc ụng Nam , cng nh chu nh hng sõu sc ca nhng
mi quan h khu vc, quc t. Champa khụng ch tip thu nhiu
giỏ tr vn hoỏ ca cỏc quc gia ụng Nam , m bờn cnh ấy,
cũn l nhng mi quan h lõu di, khụng b t quóng v chớnh tr,
kinh t; trong ú, buụn bỏn thng mi va l mt h qu ca cỏc
1
Trần Quốc Vợng, Về miền Trung (Mấy nét khái quát về nhân học văn hoá). In trong: Kỷ yếu Hội thảo
khoa học Năm năm nghiên cứu và đào tạo củ bộ môn khảo cổ học (1995-2000), Nxb Chính Trị Quốc Gia,
Hà Nội-2002, tr.27.
1
mối quan hệ, nhưng đồng thời lại là là động lực mạnh mẽ nhất thúc
đẩy các mối quan hệ của Champa với các quốc gia trong khu vực.
Champa cũng như phần lớn các quốc gia Đông Nam Á cổ
đại, đã luôn có một tầm nhìn hướng biển mạnh mẽ, luôn có ý thức
quốc Phù Nam được coi là một trong những quốc gia Ên Độ hoá
đầu tiên ở Đông Nam Á. Với vị trí quan trọng của mình, vương
quốc Phù Nam đã nhanh chóng vươn lên chiếm lĩnh vai trò trung
tâm của khu vực, là một vương quốc biển và là “Trung tâm liên thế
giới đầu tiên của Đông Nam Á”
3
. Trong khoảng thời gian từ đầu
Công nguyên đến khoảng thế kỷ VII, vương quốc Phù Nam với
sức mạnh trội vượt nhờ vào sự phát triển thương mại của mình đã
thường xuyên mở các cuộc viễn chinh, bành trướng lãnh thổ sang
phía Tây và phía Đông. Nhờ vậy, lãnh thổ của vương quốc Phù
Nam trong một vài thời điểm lịch sử đã vươn đến tận giáp biên
giới Ên Độ ngày nay. Trong nền cảnh lịch sử Êy, vương quốc
Champa mới thành lập ở phía Bắc của Phù Nam – chắc chắn còn
mang nhiều dấu Ên của một thời kỳ xã hội tiền Nhà nước, đã
2
G. Coedes
3
S.Yumio
3
không đủ tiềm lực để bành trướng lãnh thổ và vươn xa về phía
Nam. Nhưng với tham vọng của một quốc gia mới thành lập, cũng
nh nhu cầu tìm kiếm những vùng lãnh thổ mới để mở mang dân cư
và vùng sản xuất, các vương triều Champa buộc phải tìm kiếm một
hướng bành trướng mới. Trong điều kiện Êy, vùng lãnh thổ phía
Bắc của vương quốc Champa, cũng là vùng đất Nhật Nam của
người Việt – lúc này còn đang nằm dưới sự cai trị của các triều đại
phong kiến Trung Hoa đã trở thành mục tiêu rõ ràng và có tiềm
năng nhất của vương quốc Champa.
Xứ Lâm Êp xưa (Champa) nổi tiếng trong sử sách Trung
các loại trầm”
4
. Tất nhiên, ngoài trầm hương, hàng xuất đi trao đổi
của Champa còn có nhiều loại lâm sản và khoáng sản…Vào đầu
thế kỷ XVII, Trương Nhiếp đã liệt kê ra cả một bảng danh sách các
4
Momoki, tr.43-48
5
sản phẩm của Champa gồm: vàng, bạc, thiếc, sắt, ngọc bảo mẫu,,
trứng thuỷ châu, hoả châu, hổ phách, pha lê, bối xỉ, bồ tát thạch,
sừng tê, ngà voi, mai rùa, trầm hương, đàn hương, xạ hương, long
não, đinh hương…vải cát bối, vải chiêu hà, vải có vằn, vải bông
trắng, chiếu lá cọ, sáp ong, lưu huyhf, gỗ mun, gỗ vang, gạo, tổ
yến, hạt tiêu, cau, dừa, nhục đậu khấu”
5
…người Chăm theo sử
sách Trung Quốc biết nuôi tằm dệt lụa, biết trồng đay và cả bông
để dệt ra một loại vải trắng, đẹp mà các tài liệu Trung Quốc gọi là
“cát bối”. Lương thư chép, Cát bối là tên cây, hoa nở giống nh lông
ngỗng, rút lấy sợi dệt thành vải trắng muốt chẳng khác gì vải đay,
còn nhuộm được năm màu, dệt thành vải hoa.
Vì buôn bán là một trong những nghề và nguồn thu nhập
quan trọng nên người Chăm x*-ưa rất thạo về nghề đi biển. Và, nh
ở các vùng biển khác, những người Chăm đi biển cũng làm nghề
cướp biển. Sử sách Trung Quốc chép rằng người Chăm hay cướp
thuyền buôn của lái buôn ngoại quốc, đem những đồ vật đã cướp
được dâng cống hoàng đế Trung Hoa. Mét trong những vụ cướp
nổi tiếng đó là việc người Chăm đã cướp một thuyền buôn Arập rồi
lấy những đồ cướp được dâng cống triều đình nhà Tống vào năm
1168. Thế nhưng, theo các nhà nghiên cứu, không thể coi Champa
văn hoá Ên, được bắt đầu trong lịch sử bang giao giữa hai quốc
gia.
Bia Ang Chumnik của người Khmer cho biết: Vua Chân Lạp
là Mahendravarman (khoảng 600-615) đã cử quan thượng thư là
Sunhadeva đi sứ sang Champa. Một thời gian ngắn sau đó, khoảng
năm 650, có một Hoàng thân Chăm đến kinh đô Isanapura ở
Sambor Prei Kuk, cưới công chúa của Chân Lạp, trở thành con rể
của thành Isanapura. Người con của cuộc hôn nhân này, sau đó trở
về Champa và lên ngôi Vua. Những mối quan hệ tốt đẹp về chính
trị và hôn nhân của hai vương triều Champa – Chân Lạp là điều
kiện khách quan thuận lợi để thúc đẩy những tiếp xúc và giao lưu
về nghệ thuật của hai quốc gia này. Khoảng đầu thế kỷ VIII là thời
kỳ nở rộ của ảnh hưởng tiền Ankor trong nghệ thuật Champa.:
I.CƠ SỞ BAN ĐẦU CHO CÁC MỐI QUAN HỆ.
Quan hệ giữa vương quốc Champa với Java và Chân Lạp
trong thời kỳ vương triều miền Nam Virapura (750-850).
ĐÕn giữa thế kỷ VIII, lịch sử Champa dường nh đã diễn ra
những biến động lớn về chính trị. Tân Đường Thư (q.222 ha, 1b)
cho biết: “Sau niên hiệu Chí Đức (Đường Minh Hoàng – khoảng
8
756-758) [ Lâm Êp] đổi tên Hoàn Vương”. Nhưng Lâm Êp hay
Hoàn Vương cũng đều là để chỉ Champa. Vương triều thứ hai của
Champa đóng đô ở miền Nam, tên kinh đô được biết qua bi ký là
Virapura-có lẽ là vùng Panduranga, tên chỉ vùng Nam Chăm, xuất
hiện trong bia Po Nagar thế kỷ VIII.
Trong vòng một thế kỷ tồn tại (khoảng giữa thế kỷ VIII đến
giữa thế kỷ IX), vương triều miền Nam Panduranga là vương triều
chính thức duy nhất trên toàn lãnh thổ Champa. Trên cơ sở kế thừa
những quan hệ đã có, vương triều Virapura tiếp tục phát triển và
mở rộng những mối quan hệ với thế giới bên ngoài.
Từ khoảng giữa thế kỷ IX, dường như lịch sử vương quốc
Champa lại bước sang mét giai đoạn mới. Năm 875, mét trung tâm
mới ở miền Bắc Chăm nổi lên và nắm giữ vai trò kinh đô của cả
vương quốc ở Indrapura - Đồng Dương. Gần nh là cùng thời điểm
Êy, chính sử Trung Hoa và Việt Nam bắt đầu sử dụng tên gọi
Chiêm Thành – phiên âm đúng của tên nước (Campapura) để chỉ
6
AbdulRahman Al-Ahmadi, Champa in Malay Literature, in proceedings of the seminar on Champa,
University of Copenhagen 1987, Southeast Asia Community Resource Center, 1994, p100-110.
10
vương quốc Champa. Vương triều Đồng Dương vẫn được ghi nhận
nh là một đỉnh cao trong lịch sử phát triển của vương quốc
Champa. Rất nhiều đền tháp đã được xây dựng dưới triều đại Đồng
Dương. Điều này có thể coi là một minh chứng cho sự phát triển
mạnh mẽ của vương quốc Champa thế kỷ IX-X.
Trên cơ sở sự phát triển hưng thịnh với xu hướng thống nhất
tỏ ra chiếm ưu thế, vương triều Đồng Dương đã mạnh dạn mở rộng
và phát triển nhiều mối quan hệ khu vực. Champa thời kỳ vương
triều Đồng Dương không chỉ đơn thuần quan hệ với các quốc gia
trong khu vực trên lĩnh vực buôn bán thương mại, mà các mối
quan hệ giao lưu về văn hoá cũng đã được thúc đẩy mạnh mẽ với
sự du nhập ngày càng mạnh của cả Phật giáo và Hindu giáo vào
Champa
Bia Nhan Biểu được phát hiện trên địa bàn của vương quốc
Champa có niên đại 908-911 đã cung cấp cho thế hệ sau nhiều
thông tin quan trọng về mối quan hệ khá thân thiết giữa Champa
và Java. Người lập nên tấm bia Êy là một người trong hoàng tộc
CHăm có tước hiệu và tên là Po Khun Pilin Rajadavara.
Rajadavara làm quan trải bốn đời Vua Champa. Ông đã hai lần
hành hương qua Java trong khoảng thời gian cuối thế kỷ IX đầu
chặt chẽ và một nền kinh tế lấy nông nghiệp lúa nước làm nền tảng
cơ bản, đã duy trì thường xuyên nhu cầu mở rộng vùng sản xuất và
cư trú xuống phía Nam. Ở phía Tây Nam của Champa, vương
quốc Campuchia sau thời kỳ khôi phục độc lập, khai sinh ra
Angkor, thống nhất hai dòng họ Bắc-Nam, đã bắt đầu thể hiện
những tham vọng mở rộng lãnh thổ và bành trướng thế lực của
mình sang phía Đông. Có thể thấy được rằng, từ nửa cuối thế kỷ X
trở về sau, lịch sử vương quốc Champa đã không còn được phát
triển một cách “tự nhiên” và dễ dàng nh các thời kỳ trước đó.
Champa dường như đã bị kẹp vào giữa hai “gọng kìm” của hai
quốc gia mới được thành lập và đang nuôi tham vọng trỗi dậy, mở
rộng tầm ảnh hưởng đối với khu vực. Một mặt, cả hai quốc gia này
đều lấy kinh tế nông nghiệp làm nền tảng cho sự phát triển của
quốc gia mình, do đó, nhu cầu mở rộng vùng sản xuất và vùng cư
trú đến các vùng đồng bằng màu mỡ phù hợp cho phát triển nông
nghiệp là một nhu cầu tất yếu đối với cả hai quốc gia này. Mặt
khác, chắc chắn cả hai quốc gia Đại Việt và Campuchia đều “thèm
khát” và nuôi ý đồ tiến chiếm các hải cảng quan trọng trên bờ biển
của vương quốc Champa, những vị trí thuận lợi để mở rộng quan
hệ buôn bán thương mại không chỉ với các quốc gia hải đảo, mà
13
còn là cầu nối với thế giới Trung Hoa và Ên Độ. Champa, một
cách rất tự nhiên, đã trở thành đối tượng tấn công của cả Đại Việt ở
phía Bắc và Campuchia ở phía Tây Nam. Lịch sử vương quốc
Champa sau thế kỷ X chịu tác động sâu sắc từ mối quan hệ tay ba
này.
Các cuộc xung đột quân sự đã diễn ra một cách khá thường
xuyên giữa hai vương quốc Champa và Campuchia. Bia ký
Champa và Campuchia đã ghi nhận các cuộc xung đột một cách
thường xuyên và lâu dài giữa hai quốc gia vào các năm 889-890…
đưa ra nhiều kiến giải mới mẻ, với những bằng chứng khoa học
đáng tin cậy về nguyên nhân các cuộc Bắc tiến của Champa.
K.Hall (1995), đã giải thích dựa trên mối quan hệ thương mại giữa
các quốc gia trong khu vực. Theo ông, các cảng của bờ biển Bắc
Bộ Việt Nam thời kỳ này nh Long Biên, Vân Đồn đóng một vai trò
quan trọng trong việc buôn bán của thương nhân Hoa Kiều
7
. Đặc
biệt, hệ thống thương cảng Vân Đồn đã trở thành một trung tâm
buôn bán sầm uất, một cửa ngõ giao thương của Đại Việt với các
7
K. Hall, tr.183-185
15
quốc gia trong khu vực, và ngày càng thu hút sự quan tâm của
thương nhân trong khu vực. Trong khi đó, bia ký Khmer cũng đã
ghi nhận việc người Việt đã mở tuyến buôn bán trực tiếp với người
Khmer thông qua các cảng biển ở vùng Nghệ Tĩnh. Một bia ký
Khmer niên đại 987, đã lưu ý đến sự có mặt của những người Việt
ở Phnum Miên (vùng hạ lưu sông Mê Kông)
8
. Việc các thương
nhân Đại Việt dần chiếm lĩnh các thị trường và các con đường giao
thông quan trọng, đã đánh mất vai trò độc tôn của Champa trên
tuyến đường thương mại biển với vùng Nam Trung Hoa. Chóng ta
có thể đồng tình với ý kiến của K.Hall khi ông cho rằng, đó có thể
là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự xung đột của hai quốc
gia này.
Ngay trong thời kỳ đầu của lịch sử, Champa đã thiết lập quan
hệ với nhiều quốc gia trong khu vực nh Phù Nam, CHân Lạp và
các quốc gia vùng hải đảo. Từ cuối vương triều Simhapura, quan
Nguyên Mông.
Sau cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, quan hệ hoà
hiếu của hai quốc gia càng được củng cố. Quan hệ hôn nhân được
17
sử dụng để phát triển những mối quan hệ chính trị, ngoại giao.
Năm 1301, nhân có sứ bộ Chiêm Thành về nước, “tháng ba,
thượng hoàng TrÇn Nhân Tôn đã sang chơi Chiêm Thành” và
“tháng 11,mùa đông, Thượng hoàng mới từ Chiêm Thành trở về”
9
.
Còng trong dịp này, Thượng hoàng Nhân Tôn đã hứa gả con gái
cho CHế Mân. Năm 1306, lễ cưới đã được tổ chức. Nhân sự kiện
này, Champa đã sử dụng hai châu Ô, Lý làm đồ sính lễ. Hành động
đó vừa thể hiện thiện chí của Champa, vừa thể hiện sự thần phục
tương đối của Champa với quốc gia láng giêng ở phía Bắc.
Hơn một thế kỷ trôi qua, quan hệ giữa Champa với các quốc
gia láng giền kề cận có lẽ chưa có thời kỳ nào hoà bình hơn thế.
Biên giới phía Bắc, nơi quốc gia Đại Việt đang bước vào giai đoạn
hưng thịnh của nhà Trần, quan hệ của hai quốc gia đã có những
năm tháng dẹp nhất. Biên giới Tây Nam, nơi một quốc gia
Campuchia đang bước vào thời kỳ cuối giai đoạn Ankor, phải vất
vả chống đỡ những cuộc tấn công của người Thái lúc này đang
vươn lên trở thành một thế lực lớn trong khu vực.
Từ 1069 cho đến 1352 là khoảng thời gian tương đối bình
yên ở biên giới phía Bắc của vương quốc Champa. Gần 300 năm
không diễn ra những cuộc xung đột lớn. Vùng Tân Bình, Thuận
Hoá là những vùng cộng cư và giao lưu văn hoá mạnh mẽ của cả
hai quốc gia Champa – Đại Việt.
9
§¹i ViÖt sö ký Toµn th, tr.86
một thế giới Nam Đảo ở Đông Nam và Nam Á. Trong thế giới
Nam Đảo Êy, vùng bờ biển miền Trung Việt Nam ngày nay là một
điểm quan trọng. Những phát hiện về Khảo cổ học đã mang lại
những chứng cớ vật chất quan trọng để khẳng định sự có mặt của
người Nam Đảo ở bờ biên Việt Nam từ cuối thiên niên kỷ II TCN.
Trong đó, những đợt thiên di lớn nhất cỉa học đến vùng biển này
nằm trong khoảng thời gian từ 500 năm TCN cho đến đầu Công
nguyên và tập trung rõ nhất ở Sa Huỳnh (Quảng Ngãi). Người
Nam Đảo đã có mặt trên một phạm vi không gian khá rộng, trải dài
từ Quảng Bình, đến tận An Giang, Kiên Giang, và một bộ phận cư
dân này có lẽ cũng chính là một bộ phận cấu thành cư dân vương
quốc cổ Phù Nam vào những thế kỷ đầu Công nguyên.
Những người Nam Đảo nổi tiếng là những người đi biển cừ
khôi, thiên di nhiều và có thói quen sống phiêu diêu trên biển. Tuy
vậy, họ cũng đã từng bước hình thành thói quen cư trú trên đất
liền. Những dấu vết cư trú của người Nam Đảo còn nằm dải rác
trên bờ biển Việt Nam.
20
Các nhà Khảo cổ học đã tìm thấy trong nhiều di chỉ dấu vết
của một nền văn hoá đặc trưng, gọi chung là văn hoá Sa Huỳnh, có
niên đại phổ biến vào khoảng 500 năm TCN - nằm trong khoảng
thời gian và không gian mà người Nam Đảo thiên di đến vùng biển
miền Trung Việt Nam. Sau văn hoá Sa Huỳnh và cũng chính trên
địa bàn này đã xuất hiện nền văn hoá của tộc người Chăm.
Theo tài liệu Trung Hoa thì người Chăm đã lập quốc sớm
nhất là vào thế kỷ II, sau cuộc khởi nghĩa giành quyền tự chủ của
Khu Liên và lập ra vương quốc Lâm Êp. Các nhà Khảo cổ học
cũng nh các nhà khoa học đã bàn nhiều về việc có hay không sự
nối tiếp từ Sa Huỳnh đến Champa. Mặc dù đây thực sự là một chủ
đề cần thêm nhiều thời gian nghiên cứu cũng như những tư liệu
Jaya Simhavarman III đã xây tháp vào cuối thế kỷ XIII - đầu thế
kỷ XIV…Như vậy là “…Biên giới phía Tây của Champa dã chạy
qua vùng cao nguyên phía Tây dải Trường Sơn…Và rồi nhiều pho
tượng (Nandin, Siva và các thần Ên Độ giáo khác) đã được tìm
22
thy trong cỏc tnh Gia Lai, Kon Tum, c Lc v Lõm ng cho
phộp ta ngh rng ton b vựng ny nm trong qu o tụn giỏo
ca Champa. Khu vc min nỳi l b phn hp thnh ca
Champa, ch khụng phi l mt vựng b chinh phc v b sỏp
nhp, mt thuc a ca Champa, th hin qua cuc liờn kt u
tranh rt quyt lit ca cỏc c dõn vựng ny (ngi Churu, C Ho,
Raglai, Xtiờng) chng cỏc cuc xõm lc t bờn ngoi, nh cỏc
vn bn lch s bng ting Chm ó ghi li. Hn na, nhiu Vua
Champa cng cú gc gỏc min nỳi, nh vua Po Rome tr vỡ t 1627
n 1651 l gc ChuruCú th khng nh rng, Nagara Champa
l mt nc a tc ngi v mi tc ngi u cú quyn bỡnh ng
nh nhau v chớnh tr v xó hi.
Champa trong tin trỡnh lch s li khụng phi l mt
vng quc thng nht, m l mt kiu Liờn bang (Copộderation)
gm nm tiu quc: Indrapura (t Qung Bỡnh n ốo Hi Võn),
Amaravati (Qung Nam Qung Ngói), Vijaya (Bỡnh nh Phỳ
Yờn), Kauthara (Khỏnh Ho), Panduranga (Ninh Thun Bỡnh
Thun)
10
. Thnh phn tc ngi mi tiu quc khỏc bit nhau,
tuy tr ct vn l ngi Chm. Cho nờn, tuy vn l vn hoỏ
Champa, song sc thỏi mi tiu quc cú nhng c trng riờng.
11
Gii hc gi nghiờn cu v lch s Champa cng ó dn i n s
10
mời họ tham gia vào ứng thí đại biểu của Hoàng gia
12
.
2. Điều kiện kinh tế -xã hội của vương quốc Champa cổ đại.
Địa thế của Champa khá đặc biệt, một dải đất hẹp chạy dài
giữa đại dương và núi. Dân cư chủ yếu sống rải rác ven biển và
trong nội địa thì cư dân cư trú bên những dòng sông. Chẳng hạn
nh vùng sông Thu Bồn , là một địa điểm quần cư của nhiều thời kỳ
nối tiếp nhau cho đến thế kỷ XII, XIII với những trung tâm Trà
Kiệu, Đồng Dương. Sông Trà gắn với những di tích quần cư
Chánh lộ và thành Châu Sa; Sông Côn gắn với Trà Bàn…
Điều đáng nói ở đây là địa hình Champa bị chia cắt bởi các
đèo chạy cắt ngang đổ từ nói ra biển tạo nên các vùng đồng bằng
nhỏ và liên lạc với nhau bằng đường bộ rất khó khăn. Người ta liên
lạc chủ yếu với nhau bằng đường biển. Nhưng điều đó không phải
là điều kiện đủ để mỗi vùng tạo thành một tiểu vương quốc tự trị.
Nhiều di tích văn hoá Chăm còn lại đến ngày nay cho thấy các
vùng ở Champa tương đối độc lập về không gian nhưng vẫn tiếp
nối nhau về mặt thời gian. Xét vị trí, vai trò của các kinh đô, ta sẽ
thấy rõ hơn điều này.
Sinhapura là kinh đô duy nhất của Champa cho đến cuối thế
kỷ VII, đầu thế kỷ VIII. Từ giữa thế kỷ VIII đến giữa thế kỷ IX
12
Wolters O.W, History, Culture and Region in Southeast Asian Perspectives (Revised Edition), Institute of
Southeast Asia Studies – Singapore, 2000.
25