Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG NỘI DUNG TỔNG QUÁT
CỦA TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM
Với quan niệm về truyền thống như đã xác định trong chương mở
đầu, chúng ta có hai cách tiếp cận truyền thống: thứ nhất là nghiên cứu và
tổng hợp những biểu hiện của nó, thứ hai là nghiên cứu truyền thống từ
những cơ sở hình thành và phát triển của nó.
Truyền thống không phải là bẩm sinh, cũng không phải là "nhất
thành bất biến", nó nảy sinh và phát triển do tác động của những nhân tố
thường xuyên đến cuộc sống của con người. Do phải ứng phó và thích nghi
với những tác động đó, những thói quen, tập quán, những tính cách, lối
sống, cách ứng xử và lối tư duy dần dần được định hình trong một cộng
đồng người nhất định và di tồn cho thế hệ sau. Truyền thống của một cộng
đồng cư dân thực chất là sự thích ứng vô thức và hữu thức đối với tác động
lặp đi lặp lại của cuộc sống cộng đồng trong những điều kiện tự nhiên và
hoàn cảnh lịch sử nhất định. Vì vậy, cách tiếp cận của chúng tôi để tìm ra
những nội dung của truyền thống là xem xét những nhân tố hằng xuyên tác
động đến mọi mặt của đời sống xã hội để từ đó tìm ra những hệ quả được
coi là truyền thống. Những hệ quả này không phải là sản phẩm của những
tác động đơn lẻ của yếu tố này hay yếu tố khác mà là kết quả có tính chất
tổng hợp. Tuy nhiên, để dễ nhận diện, có thể xem xét nội dung của truyền
thống theo từng nhân tố có tác động chính trong việc hình thành nên truyền
thống đó.
Tất nhiên trong khi chọn phương pháp tiếp cận thứ hai này, chúng
tôi cũng kết hợp với phương pháp thứ nhất, luôn luôn liên hệ với những
biểu hiện của nó trên cơ sở những tư liệu đã được thu thập và xử lý.
1. TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN VÀ ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ
1.1. Môi trường tự nhiên và điều kiện địa lý là một cơ sở hằng
xuyên của cuộc sống con người. Ở Việt Nam, trong muôn vàn những yếu
tố địa lý tác động đến cuộc sống hằng ngày, môi trường sông - nước phải
được coi là một yếu tố đặc biệt quan trọng, đã có tác động không nhỏ tới
được thể hiện bằng tên của môi trường gắn chặt với cuộc sống của mình:
nước. Dấu vết của môi trường sông nước đã in khá đậm lờn cỏch tư duy
của người Việt. Có thể thấy rất nhiều từ, hình ảnh về nước hoặc liên quan
đến nước được sử dụng trong tiếng Việt để khái quát cho những tình
huống, trạng thái hoặc những ứng xử phổ biến. Chẳng hạn như người Việt
có thể khái quát cho tất cả những hiện tượng không biết lo xa, chuẩn bị
trước, đến khi tình huống xảy đến thì phải xử lý một cách gấp gáp, vội
vàng bằng một thành ngữ quen thuộc "nước đến chân mới nhảy". Hoặc để
diễn đạt mọi trường hợp cố gắng đến mức cao nhất nhằm làm một việc gì
đó mặc dù khả năng làm được rất mong manh, người ta có thể dùng ngạn
ngữ "còn nước còn tát" Nhiều truyền thống đã được hình thành do tác
động của hoàn cảnh địa lý này.
Biểu hiện của những truyền thống đó có thể tìm thấy trong hầu hết
các mặt của đời sống xã hội, những giá trị văn hóa và ngay cả trong một số
sở trường của người Việt. Nếu như ăn, mặc, ở, đi lại là những nhu cầu tối
cần thiết của con người và cũng chính ở những lĩnh vực này bản sắc văn
hóa truyền thống được biểu hiện rõ nhất thì có thể thấy ngay rằng đối với
người Việt, chất đạm chủ yếu trong thức ăn truyền thống là thủy sản. Có
thể tìm thấy trong các di chỉ khảo cố học vô số những dấu tích của các
động vật ở nước như vỏ sò, vỏ ốc, xương cá v.v , trong khi đó xương động
vật thường rất hiếm hoi. Nhà ở truyền thống của người Việt là nhà sàn, chủ
yếu là để phòng nước ngập. Ngoài ra, rất đông người Việt còn có thói quen
ở thuyền. Những điểm tụ cư như vậy về sau này gọi là vạ. Đến tận thế kỷ
XVIII - XIX, hiện tượng cư trú trên thuyền, coi thuyền là nhà còn rất phổ
biến. Người phương Tây từng đó cú nhận xét: "Họ (chỉ người Việt - TG)
rất thích ở nước, thích ở trên nước hơn là ở trên cạn. Cho nên phần nhiều
sông ngòi thì đầy thuyền. Những thuyền đó thay cho nhà cửa của họ.
Thuyền rất sạch sẽ, ngay cả khi họ nuôi gia sóc trong đó"
1
. Giao thông thời
Hồng với hàng trăm tỷ m
3
nước chở nặng phù sa đổ ra biển đã khiến cho
đồng bằng ngày càng được mở rộng. Do còn có điều kiện để khai hoang
tăng thêm diện tích canh tác, nông nghiệp Việt Nam dễ tìm thấy lối thoát
trước áp lực của tăng trưởng dân số và mỗi khi khủng hoảng xuất hiện.
Cùng với đất đai, khí hậu nhiệt đới gió mùa cho độ nóng và độ Èm cao.
Mỗi năm số giờ nắng Ýt nhất là 1200 giờ, nơi nhiều nhất có thể trên 2000
giờ. Cân bằng bức xạ quanh năm dương khiến tổng số nhiệt hoạt động (trên
10
0
C) rất cao. Lượng mưa trung bình hàng năm ở vùng đồng bằng là 1500
mm, miền núi có thể lên đến trên 2000 - 3000 mm. Lượng nước mưa vượt
quá khả năng bốc hơi, nơi thừa Ýt nhất là 500 - 700 mm, nơi nhiều đến
1000 - 2000 mm. Hai yếu tố nhiệt và Èm cao tạo nên tính chất nhiệt đới Èm
của khí hậu Việt Nam, cho phép trồng trọt quanh năm và nhiều khả năng
xen canh, tăng vụ.
Chính vì vậy mà người Việt đã sớm lựa chọn nông nghiệp làm nghề
sống chính của mình suốt mấy nghìn năm. Nghề nông nguyên thủy đã xuất
hiện từ đầu thời đại đồ đá mới và trong thời đại văn hóa Đông Sơn, đã
chuyển sang dùng lưỡi cày đúc bằng kim loại và sức kéo của trâu bò. Trong
những thế kỷ đầu công nguyên, vùng đồng bằng Bắc Bộ đã biết trồng lúa
hai vụ và trồng dâu nuôi tằm mỗi năm tám lứa. Việt Nam đã từng tạo dựng
nên một văn minh nông nghiệp trồng lúa nước có thời tỏa sáng khắp khu
vực Đông Nam Á. Và cũng chính vì vậy mà người Việt bị trói chặt vào
kinh tế nông nghiệp. Cho đến nay, ba hằng số lớn của lịch sử dân tộc: kinh
tế nông nghiệp, cư dân nông dân, xã hội nông thôn vẫn là những chỉ số
quan trọng để nhận diện người Việt Nam. Do đó, những căn tính nông dân,
những đặc trưng của một xã hội nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến tất
cả mọi truyền thống Việt Nam bao gồm mặt tích cực và cả mặt hạn chế khi
vật lộn vô cùng ác liệt với thiên nhiên, vừa đòi hỏi con người phải liên kết
lại trong cộng đồng, tạo nên sức mạnh để vượt qua thử thách, vừa rèn luyện
tinh thần lao động cần cù, kiên nhẫn kết hợp với lòng dũng cảm, trí thông
minh.
1.4. Nói tới vai trò của điều kiện tự nhiên Việt Nam không thể
không nói những tác động đặc biệt của vị trí địa lý. Nằm ở khu vực tiếp
xúc giữa nhiều nền văn hóa và có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng, Việt
Nam luôn luôn bị xô đập bởi các biến cố khu vực và của thế giới. Tính cách
dễ thích ứng và nhạy cảm phần nhiều được hình thành do tác động của yếu
tố này. Đó cũng có thể coi là một nội dung của truyền thống Việt Nam.
Còng do nằm ở vị trí giao tiếp, nơi gặp gỡ của nhiều luồng thiên di,
từ lâu Việt Nam đã là một quốc gia có nhiều cộng đồng sắc tộc với những
đặc trưng văn hóa khác nhau. Theo sự xác minh của các nhà dân tộc học,
Việt Nam có 54 tộc người thường gọi chung là 54 dân tộc. Trong số đú cú
những dân tộc bản địa có mặt từ rất sớm trên lãnh thổ Việt Nam và có
những dân tộc di cư vào trong nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau. Về mặt
ngôn ngữ, họ thuộc ngôn ngữ Nam Á như nhóm Việt-Mường, nhúm Mụn-
Khơ Me, nhóm Tày - Thỏi, nhúm Khai Đa; ngôn ngữ Nam Đảo như nhóm
Chăm, Ra Giai, Chu Ru, Ê Đê; ngôn ngữ Hán - Tạng như nhóm Tạng -
Miến, nhúm Hỏn. Về văn hóa, mỗi dân tộc cũng có sắc thái và vốn văn hóa
riêng. Nhưng mặc dù vậy, dân tộc Kinh (Việt) luôn luôn đóng vai trò trung
tâm vì chiếm số lượng đông và đạt trình độ phát triển kinh tế xã hội cao
hơn so với các dân tộc anh em khác. Đặc điểm trên đây đã tạo nên truyền
thống đa dạng trong văn hóa nhưng hướng tâm vào văn hóa Việt. Đó là sự
thống nhất trong tính đa dạng của cộng đồng dân tộc Việt Nam và nền văn
hóa Việt Nam.
2. TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH LAO ĐỘNG SẢN XUẤT VÀ KếT
CẤU KINH TẾ - XÃ HỘI
Đối với bất kỳ một nền văn hóa nào, sản xuất ra của cải vật chất
bao giờ cũng được coi là thành tố quan trọng nhất. Nó quy định đặc điểm,
nào đó cũng phản ánh mức độ quan tâm và ý thức của con người đối với
lĩnh vực đó. Công trình nghiên cứu gần đây
2
nhằm phân tích định lượng ca
dao, tục ngữ cho thấy trong sè 4.075 câu ca dao, tục ngữ do Nguyễn Văn
Ngọc tập hợp 3 có 1.634 câu có thể xếp vào loại hình "nói về các quan hệ
xã hội". Trong số đó chỉ riêng về quan hệ cộng đồng đó cú tới 641 câu, chiếm
79,23%. Điều đú hẳn nói lên rằng trong muôn vàn các khía cạnh của quan
hệ xã hội, tâm thức của người Việt chủ yếu giành cho các quan hệ cộng
đồng.
Nét đặc biệt của truyền thống cộng đồng Việt Nam là bên cạnh mối
quan hệ giữa cá nhân với các cộng đồng lớn như làng, nước, cộng đồng gia
đình, dòng họ đóng vai trò hết sức quan trọng. Theo phân tích thống kê,
những câu ca dao, tục ngữ nói về quan hệ gia đình, dòng họ chiếm tới trên
77% toàn bộ những câu nói về quan hệ xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà
những người phương Tây đến Việt Nam vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ này
đã đưa ra nhận xét: "Tinh thần gia đình là đặc tính cơ bản nhất của con
người Việt Nam thuộc tất cả mọi tầng lớp. Đối với họ, gia đình là tất cả"
4
.
Hoặc "Gia đình là cơ sở, là hạt nhân của xã hội An Nam. Đó là một trục
trung tâm mà mọi lợi Ých, mọi ý nghĩ đều quay xung quanh nã"
5
.
Có thể nhận thấy rằng trong truyền thống cộng đồng Việt Nam, Ýt
thấy những quan hệ trực tiếp giữa cá nhân với các cộng đồng lớn mà
thường là quan hệ trách nhiệm giữa các cấp cộng đồng. Mét gia đình (hay
rộng ra là một gia tộc) có trách nhiệm với xóm làng, làng có trách nhiệm
với nước và ngược lại. Do đó, suy cho cùng, một cá nhân bình thường chỉ
có vai trò trong khuôn khổ gia đình họ mà thôi, còn ra đến cộng đồng lớn,
xã và ruộng đất công xã thuộc quyền sở hữu của Nhà nước đứng đầu là nhà
vua. Do quá trình lịch sử và hoàn cảnh khai hoang, vào thế kỷ XVIII - XIX,
làng xã miền Bắc, Trung và Nam cũng như giữa cỏc vựng của mỗi miền có
những đặc điểm khác nhau. Tuy nhiên, mẫu chung của nông thôn Việt Nam
là sự bảo tồn lâu dài kết cấu kinh tế - xã hội của công xã nông thôn với tính
cộng đồng cao và quyền tự trị tương đối của làng xã.
Bên trong làng xã là cả một hệ thống cộng đồng liên kết các thành
viên lại với nhau bằng nhiều hình thức tổ chức theo quan hệ địa lý (thụn,
xúm, ngừ ), huyết thống (họ gồm đại tông, tiểu tông và các chi ), đẳng
cấp xã hội (quan viên, tư văn, tư võ ), nghề nghiệp (hội, phường, phe
của người đi buôn, làm nghề thủ công ), tuổi tác (giáp, đồng niên, đồng
môn ), tương trợ (hội hiếu, hội hỷ, hội chơi họ, hội ăn tết ) Cấu trúc
cộng đồng bên trong làng xã hết sức đa dạng, phong phú, gắn bó các thành
viên trong nhiều tổ chức cộng đồng theo cấp độ và loại hình khác nhau.
Tế bào của làng xã và của xã hội nói chung là gia đình. Gia đình
Việt Nam thuộc loại gia đình nhỏ hay còn gọi là gia đình hạt nhân, gồm của
yếu hai thế hệ cha mẹ và con cái. Loại gia đình này ra đời rất sớm trong
lịch sử và tồn tại cho đến tận ngày nay.
Hiện nay, gia đình Việt Nam đang trải qua nhiều biến động, nhưng
trước sau gia đình là tế bào cơ sở của xã hội, dựa trên quan hệ huyết thống
và tình cảm, ràng buộc mọi thành viên trong ý thức trách nhiệm và quyền
lợi mang ý nghĩa bền chặt và thiêng liêng gắn với tục thờ cúng tổ tiên. Gia
đình Việt Nam giữ một vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội, trong kế thừa văn hóa và giáo dục truyền thống. Gia đình là
đơn vị kinh tế trong nền sản xuất tiểu nông truyền thống. Gia đình là đơn vị
sản sinh và nuôi dạy con cái, tái sản xuất con người và phát triển nòi giống,
là nơi hình thành nhân cách ban đầu của thế hệ trẻ, bảo tồn và phát huy di
sản văn hóa dân tộc. Trong cuộc sống làng xã, chính từ gia đình, người
nông dân, người thợ thủ công tích lũy kinh nghiệm, trau dồi nghề nghiệp và
truyền lại cho con cháu.
lực và uy tín trong làng, giữ vai trò đại diện cho cộng đồng và chỉ đạo mọi
hoạt động của làng. Chức dịch đứng đầu là xã trưởng, sau đổi là lý trưởng,
là những người điều hành công việc trong làng và chịu trách nhiệm hoàn
thành mọi nghĩa vụ đối với chính quyền cấp trên. Chức dịch do Hội đồng
kỳ mục giới thiệu để dân làng cử và cấp trên xét duyệt, chấp nhận. Bộ máy
quản lý làng xã chuyển hóa dần thành đơn vị hành chính cơ sở, nhưng vẫn
duy trì tính tự trị tương đối của làng xã và trong giới hạn đó, vẫn mang tính
đại diện cộng đồng.
Chính kết cấu kinh tế - xã hội của làng xã và cơ chế vận hành của
bộ máy quản lý làng xã đã sản sinh ra (truyền thống dân chủ làng xã được
biểu thị tập trung trong lệ làng và hương ước). Mỗi làng có một hệ thống
phong tục, tập quán riêng tồn tại dưới dạng tập quán pháp rất có hiệu lực
được gọi là lệ làng. Từ thế kỷ XV và nhất là từ thế kỷ XVIII - XIX, tập
quán pháp truyền miệng được biên soạn lại thành văn bản gọi là hương
ước. Đó là những quy ước nhằm bảo vệ lợi Ých của cộng đồng, điều hòa
mối quan hệ giữa các thành viên trong làng và giữa làng với nước tức giữa
"lệ làng" với "phép vua". Vì thế hương ước thường được điều chỉnh, bổ
sung cho phù hợp với những biến đổi của những mối quan hệ trên vừa bảo
đảm đời sống cộng đồng và tính tự trị tương đối của làng xã, vừa thích nghi
và tôn trọng phép nước. Nói chung "lệ làng" phải phục tùng "phép vua",
nhưng cũng cú lỳc "phép vua thua lệ làng".
Kết quả nghiên cứu và thống kê định lượng một số hương ước cổ
(trước Pháp thuộc) và 78 hương ước cải lương thời Pháp thuộc cho thấy có
một số thay đổi nhưng không nhiều (ví dụ như tên gọi một số chức dịch
trong bộ máy quản lý, nghĩa vụ đối với nhà vua và chính quyền thực dân, lệ
phạt đánh đập và đuổi ra khỏi làng bị bãi bỏ trong hương ước cải lương ).
Nội dung cơ bản của hương ước trước hết là bảo vệ lợi Ých chung của
cộng đồng như trật tự trị an, sản xuất nông nghiệp, đê điều, thủy lợi, đường
sá và các công trình công cộng (đình làng, đền, chùa, cầu cống ), nêu cao
trách nhiệm và nghĩa vụ của các hạng chức dịch cũng như của các thành
đều cho các con, trai cũng như gái. Tài sản của một gia đình được pháp luật
quan niệm gồm ba bộ luật tạo thành: tài sản của vợ do cha mẹ vợ chia cho,
tài sản của chồng do cha mẹ chồng chia cho và tài sản do hai vợ chồng gây
dựng nên. Khi vợ chồng li dị, tài sản của gia đình phân chia theo nguyên
tắc: tài sản của vợ trả về cho vợ, tài sản của chồng trả về cho chồng, tài sản
do vợ chồng tạo lập nên trong thời gian chung sống chia đôi, mỗi người
một nửa
9
. Đó là những nội dung rất độc đáo trong luật Hồng Đức mà các
nhà nghiên cứu luật học chỉ tìm thấy trong bộ luật Hồng Đức ở Việt Nam
thời kỳ phong kiến, không tìm thấy ở các nước Á Đông khác như Trung
Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên thời bấy giờ.
Tuy nhiên cũng phải thấy rằng dân chủ làng xã nói tới ở đây là một
hình thức dân chủ sơ khai. Thực chất của thiết chế dân chủ này là một hình
thức tự quản nờn cỏc thành viên giám sát lẫn nhau trở thành một yêu cầu tự
nhiên và là biện pháp quan trọng để duy trì kỷ cương. Phương thức này
chứa đựng tiềm tàng hai khuynh hướng cực đoan. Khuynh hướng thứ nhất
là tạo ra tâm lý giám sát thái quá biến thành sự can thiệp của tập thể vào
quá trình phát triển của cá thể, nhất là trong hoàn cảnh bình quân chi phối
mọi quan hệ trong làng xã. Khuynh hướng thứ hai là khi dư luận không còn
được coi trọng thì những hành vi tù do, tùy tiện (vô chính phủ) rất dễ nảy
sinh. Về một phương diện khác, truyền thống dân chủ làng xã cũng chứa
đựng tinh thần bình quân chủ nghĩa và tính cục bộ địa phương của từng
dòng họ, từng làng xã.
2.3. Cuộc sống gắn bó nhiều đời với sản xuất nông nghiệp khiến
cho người Việt luôn luôn gần gũi với thiên nhiên, hòa nhập với thiên nhiên,
thích nghi với thiên nhiên, tạo nên truyền thống giản dị, chất phác, ưa đơn
giản, ghét cầu kỳ, xa hoa. Trải qua nhiều thế hệ gắn bó với thiên nhiên
cùng với những giá trị vật chất và tinh thần do sức sáng tạo của cộng đồng
sản sinh ra là những yếu tố quan trọng góp phần dung dưỡng tâm hồn và
quyền". Ảnh hưởng của loại quyền lực này nhiều khi có ảnh hưởng tiêu cực
đến sự phát huy vai trò và vị trí xã hội của tầng lớp những người trẻ tuổi.
2.6. Còng do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp truyền thống lấy
kinh tế tiểu nông mang nặng tính tự cung tự cấp làm đơn vị và cơ sở, người
sản xuất không quen hạch toán kinh tế. Đối với kinh tế nông nghiệp truyền
thống hầu như mọi tư liệu vật chất phục vụ cho sản xuất đều có sẵn trong
tay người nông dân. Giống má thì dành từ mùa thu hoạch trước cho vô sau,
phân bón thì có sẵn trong chuồng lợn và đặc biệt không bao giờ họ tính
toán đến công sức của mình bỏ ra. Sù lo toan chủ yếu chỉ tập trung vào chu
trình sinh trưởng và chăm sóc của cây lúa theo thời vụ.
Từ đõy đó hình thành một tập tính kém hạch toán, không quen
lường tính xa. Hơn thế, sự thành bại của nông nghiệp hoàn toàn bị phụ
thuộc vào thiên nhiên nên dễ tạo ra tâm lý cầu an, cầu may và "ăn xổi".
2.7. Di tồn dưới dạng tập quán của sản xuất nông nghiệp theo lối
kinh tế tiểu nông - một loại hình lao động tương đối tự do, còn được biểu
hiện ở tác phong tùy tiện, tản mạn, kỷ luật không chặt chẽ. Sự thực là vì
sản xuất nông nghiệp tiểu nông không cần tới những tính toán chuẩn xác và
sự hiệp đồng thật chặt chẽ.
Hầu hết các cư dân nông nghiệp trên thế giới đều có chung đặc tính
này. Nhưng quá trình công nghiệp hóa với những đòi hỏi khắt khe của sản
xuất nông nghiệp, lối sống tùy tiện, thiếu kỷ luật chặt chẽ dần dần được
thay thế bằng tác phong chuẩn xác, có kỷ luật thường được gọi là tác phong
công nghiệp. Việt Nam chưa trải qua thời kỳ công nghiệp hóa nên ảnh
hưởng của lối sống nông nghiệp còn rất đậm nét trong mọi mặt của đời
sống xã hội.
3. TÁC ĐỘNG HẰNG XUYấN CỦA HOÀN CẢNH LỊCH SỬ
Vị trí địa lý chiến lược của Việt Nam và hoàn cảnh lịch sử của dân
tộc Việt Nam sinh ra và lớn lên bên cạnh đế chế Trung Hoa lớn mạnh đã
trở thành nhõn tố quan trọng tạo ra những điều kiện lịch sử thường xuyên
tác động đến lịch sử, cuộc sống và truyền thống Việt Nam.
thấy là truyền thống sùng bái và thờ cúng anh hùng. Hầu như ở bất cứ đõu
trờn đất nước Việt Nam cũng có thể tìm thấy những đền thờ các nhân vật
lịch sử có công lao với dân tộc. Họ được nhân dân suy tôn thành những vị
thần linh quanh năm được thờ cúng. Sự cúng tế các vị thần này ngoài ý
nghĩa trân trọng công lao còn hàm ý cầu mong những vị thần - anh hùng
che chở cho dân làng thoát khỏi những hiểm họa chiến tranh và giặc giã
vốn xảy ra rất thường xuyên trên đất nước Việt Nam.
Còng do tác động của truyền thống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, ở Việt
Nam đã hình thành nên truyền thống thượng võ khá đặc sắc của dân tộc.
4. TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA KHU VỰC VÀ THẾ GIỚI
4.1. ói tới tác động văn hóa khu vực, trước hết phải nói tới cơ
tầng văn hóa Đông Nam Á. Tuy ở mỗi nước đều có biến thái riêng nhưng
tất cả các nước Đông Nam Á đều có một mẫu số chung về văn hóa. Đây là
mét khu vực tiếp xúc giữa đại lục và hải đảo, nằm trong vùng nhiệt đới gió
mùa, nơi đầu mối của các đường giao thông tự nhiên nối liền với lục địa và
tỏa ra các hải đảo qua những con đường hàng hải nối liền Ên Độ Dương
với Thái Bình Dương. Do điều kiện tự nhiên đó, Đông Nam Á là nơi giao
thoa gặp gỡ của nhiều tộc người trờn cỏc đường thiên di, nơi giao lưu rộng
rãi của các nền văn hóa trong khu vực và với những nền văn hóa lớn trên thế
giới.
Trước đây, Đông Nam Á không được coi là một khu vực văn hóa,
mà chỉ được coi như khu vực nằm giữa hai nền văn minh Trung Quốc, Ên
Độ và thuộc phạm vi của vựng "ấn Độ húa" (hindouisộ) hay "Trung Quốc
hóa" (sinisộ). Từ quan niệm này, xuất hiện các tên gọi như bán đảo Trung -
Ên hay Ên Độ - Chi Na (Indochine/Indochina) và ba nước Việt Nam, Lào,
Cămpuchia thời thuộc Pháp gọi là "ấn Độ China thuộc Pháp (hay Đông
Dương thuộc Pháp, Indochine francaise). Tên gọi Indonesia cũng có nghĩa
là Ên Đảo (Indonesia = Inde (ấn Độ) + esia (đảo)). Những kết quả nghiên
cứu về khảo cổ học, cổ nhân học, lịch sử, văn hóa của những thập kỷ gần
đây đã cho phép bác bỏ quan niệm đó. Từ thời tiền sử và sơ sử xa xưa,
giáo. Tuy nhiên, Phật giáo Việt Nam có khác biệt với Phật giáo Ên Độ. Sự
truyền bá rộng rãi tư tưởng Phật giáo đã góp phần cùng với những tính
cách của cư dân bản địa tạo nên truyền thống nhân ái, vị tha và bao dung
của người Việt.
Chính do sù giao lưu và tiếp nhận những ảnh hưởng của văn hóa
Trung Quốc và Ên Độ mà Việt Nam vừa thuộc cơ tầng văn hóa Đông Nam
Á, vừa mang những đặc điểm gần với văn hóa Đông Á và Nam Á, và cũng
vì vậy có người muốn xếp Việt Nam vào văn hóa Đông Á cùng với Triều
Tiên, Nhật Bản
11
.
Từ thế kỷ XVI - XVII, Việt Nam bắt đầu tiếp xúc với văn minh
phương Tây qua hoạt động của một số thương nhân v à giáo sĩ người Bồ
Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, Pháp. Qua sự tiếp xúc và giao lưu
văn hóa này, Việt Nam tiếp nhận một số ảnh hưởng văn hóa và kỹ thuật
phương Tây mà sản phẩm tiêu biểu nhất là sự xuất hiện chữ quốc ngữ trên
cơ sở dùng chữ cái La tinh để ghi âm tiếng Việt. Dưới thời Pháp thuộc,
nhân dân Việt Nam kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân Pháp,
nhưng cũng tiếp nhận nhiều ảnh hưởng tích cực của văn hóa Pháp, nhất là
những quan niệm mới về tự do, bình đẳng, bác ái.
Cũng từ đầu thế kỷ xét xử, qua những hoạt động của Nguyễn Ái
Quốc, chủ nghĩa Mác - Lờnin dần dần truyền bá vào Việt Nam. Tiếp theo
đó, sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và những cao trào cách mạng do
Đảng lãnh đạo dẫn đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, hệ tư
tưởng mới này trở thành hệ tư tưởng chỉ đạo trong việc hoạch định đường
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam và từ đó cũng dần dần tác
động đến những truyền thống Việt Nam, làm biến đổi một số truyền thống
cổ và nảy sinh những truyền thống mới.
Sù giao lưu và tiếp biến văn hóa rộng rãi và lâu dài vừa làm phong
phú, đa dạng nền văn hóa dân tộc Việt Nam, vừa tạo cho con người Việt
3. Nguyễn Văn Ngọc: Tục ngữ phong dao Việt Nam, Nxb tác phẩm. Hồ
Chí Minh, 1991.
4. J. Boissiere: L' Indochine avec les francaises, Paris 1890, tr. 58.
5. J.L.Lanessan: Le Tonkin et la mốra. Paris 1890, tr.266.
6. P. Ory: La commune Anamite au Tonkin, Paris 1894. Bản dịch, Hà
Nội, 1992, tr.25.
7. Bựi Xuõn Đớnh: Truyền thống Việt Nam qua tư liệu hương ước,
Trong Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay, T.I,
Hà Nội, 1994, tr. 154 - 225.
8. Nguyễn Quang Ngọc: Một số định hướng giá trị được phản ánh trong
hương ước cải lương của các làng thuộc huyện Chương Mỹ đầu thế kỷ
XX. Trong Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay,
T.II, Hà Nội, 1996, tr. 196 - 243.
9. Phan Huy Lê - Vũ Minh Giang - Vũ Văn Quân - Phan Phương Thảo:
Địa bạ Hà Đông, Hà Nội, 1995.
10. Quốc triều hình luật, Hà Nội, 1991, điều luật 388, 391, 374, 375.
11. Vò Minh Giang: Một số suy nghĩ về tài năng trẻ trong lịch sử Việt
Nam. Thông báo khoa học, Bộ Giáo dục và Đào tạo số I/1993.
12. Arnold Toynbee: A Study of History. Oxford University Press,
London 1972.
Leon Vandermeersch: Le nouveau monde sinisộ. Paris 1986.
Chương 2
NHỮNG TRUYỀN THỐNG TIÊU BIỂU. CÁI CHUNG
VÀ CÁI RIấNG CỦA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
1. CÁI CHUNG VÀ CÁI RIấNG TRONG DƯ ĐỊA CHÍ VÀ ĐỊA
PHƯƠNG CHÍ XƯA VÀ NAY
1.1. Thế kỷ XV Nguyễn Trãi viết Dư địa chí và những bạn của ông
là Lý Tử Tấn, Nguyễn Thiờn Tớch, Nguyễn Thiờn Tỳng viết cẩn án và
thông luận cho sách này chắc chắn đã nhận rõ cái chung và cỏi riờng trong
truyền thống các cộng đồng cư dân Đại Việt qua quá trình phát triển lịch sử