Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
NGUỒN: TỔNG CỤC THỐNG KÊ NGHỆ AN
79
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
HĐND : Hội đồng nhân dân
UBND : Ủy ban nhân dân
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
ICOR : Hệ số sử dụng vốn
SNA : Hệ thống tài khoản quốc gia
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
ODA : Viện trợ chính thức
KH&CN : Khoa học công nghệ
ATK : Vùng an toàn khu
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
NSNN : Ngân sách nhà nước
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
BT : Xây dựng - Chuyển giao
BOT : Xây dựng - Khai thác - Chuyển giao
PPP : Hợp tác nhà nước - tư nhân
PIP : Chương trình đầu tư công cộng
cần tiếp tục nghiên cứu, từ việc xác định tỷ trọng hợp lý của đầu tư trong GDP và
ngân sách của tỉnh, đến việc lựa chọn và quyết định dự án, chương trình đầu tư, xác
định cơ cấu đầu tư, chủ đầu tư, tổ chức thực hiện đầu tư, giám sát và đánh giá hiệu
quả của đầu tư. Hiệu quả thấp trong đầu tư công cũng được nói đến rất nhiều trong
thời gian qua. Không ít hiện tượng tiêu cực trong lĩnh vực đầu tư công diễn ra rất
nghiêm trọng và gây ra mối quan ngại về tính hiệu quả của đầu tư công như lãng
phí, tham nhũng, đầu tư dàn trải, đầu tư không đúng mục tiêu… Tất cả những vấn
đề này bắt nguồn cả từ thể chế phân bổ và quản lý đầu tư công chưa hoàn thiện, lẫn
từ sự yếu kém của cơ quan quản lý.
Việc nghiên cứu đầu tư công của tỉnh Nghệ An, đặc biệt trong bối cảnh hiện
nay, có ý nghĩa cả về lý thuyết và thực tiễn. Nghiên cứu, tổng kết, đánh giá thực tiễn
đầu tư công của tỉnh để thấy được điểm yếu, rút ra những bài học và đề xuất cơ sở
khoa học cho việc hoạch định chính sách đầu tư công và hoàn thiện cơ chế quản
lý.Vì vậy em chọn đề tài “Đầu tư công tại tỉnh Nghệ An - Thực trạng và giải pháp”
làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp của mình. Chuyên đề nhằm đóng
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
1
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
góp một số ý kiến về đầu tư công trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội mới gắn
với thực tiễn tại tỉnh Nghệ An.
Bố cục Chuyên đề chia làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đầu tư công
Chương 2: Thực trạng đầu tư công tại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2008 - 2011
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư công trong mô
hình tăng trưởng kinh tế mới ở tình Nghệ An.
Trong thời gian thực tập tại Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nghệ An, là một sinh
viên năm cuối đang trong quá trình tìm hiểu và học hỏi kinh nghiệm thực tế em
nhận thấy đây là môi trường để em có thể trau dồi những lý thuyết đã được học trên
bản. Chỉ có tăng tư bản làm tăng năng lực sản xuất vật chất mới tính là đầu tư, còn
tăng tư bản trong lĩnh vực tài chính tiền tệ và kinh doanh bất động sản không được
tính vào phạm trù đầu tư.
Trong thống kê của Việt Nam có hai chỉ tiêu “tổng tích lũy tài sản” (K) và
“vốn đầu tư” (I) mà nội hàm không đồng nhất. “Tổng tích lũy tài sản” được tính
theo phương pháp của thống kê quốc tế khi phản ánh cơ cấu phân bổ GDP. Còn
“vốn đầu tư” được dùng để phản ánh số tiền bỏ ra trong một thời hạn nhất định (1
năm, 5 năm) của các thành phần kinh tế nhằm mục đích tăng cường năng lực sản
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
3
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
xuất kinh doanh. Ở Việt Nam, loại chi phí này cũng được coi là đầu tư. Đây là một
điểm khác biệt lớn trong cách thức đo lường trị giá đầu tư ở Việt Nam so với quốc tế.
Chi phí đền bù đất đai và tài sản chiếm một tỷ trọng rất lớn trong một số loại công trình
xây dựng ở đô thị và những nơi đông dân mà Việt Nam hiện coi là một loại chi phí đầu
tư làm cho tổng giá trị đầu tư tăng lên và vì vậy hiệu suất đầu tư giảm đi (ví dụ như
ICOR của đầu tư công rất cao).
Ở Việt Nam, vốn đầu tư I được thống kê (thông qua báo cáo và các cuộc điều
tra, khảo sát, ước lượng) và được sử dụng một cách thông dụng trong quản lý nhà
nước, còn tích lũy tài sản K thì được tính toán một cách ước lượng trong hệ thống
tài khoản quốc gia SNA (bao gồm tài sản cố định và thay đổi tồn kho). Gọi là ước
lượng, bởi vì hệ thống hạch toán hiện nay, các doanh nghiệp thống kê và báo cáo tài
sản theo nguyên giá tại thời điểm mà tài sản được hình thành, nên trong điều kiện
lạm phát khá cao thì số liệu về tài sản tích lũy có thể ít có ý nghĩa
1
. Số liệu về tích lũy
tài sản K ít được sử dụng trong các nghiên cứu và trong công tác quản lý nhà nước của
các ngành và địa phương. Tuy nhiên, K có ý nghĩa khi phân tích so sánh quốc tế, vì số
2009 371,3 225,3 60,7
2010 400,2 248,7 62,1
2011 362,8 225,9 62,3
Nguồn:Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê 2009, 2011.
1.1.2. Đầu tư công
Việc gia tăng tư bản tư nhân được gọi là đầu tư tư nhân. Việc gia tăng tư bản xã
hội được gọi là đầu tư công. Việc gia tăng tư bản xã hội thuộc chức năng của chính
phủ, vì vậy đầu tư công thường được đồng nhất với đầu tư mà chính phủ thực hiện.
Ở Việt Nam, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đầu tư của Nhà
nước là chủ yếu và lúc đó trong quản lý kinh tế và thống kê chỉ sử dụng khái niệm
"đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước". Đầu tư của khu vực tập thể và nhân dân
(chủ yếu bằng công lao động và nguyên vật liệu địa phương) xây dựng các công
trình công cộng (như đường xá, thủy lợi, ) hầu như không thống kê được. Thuật
ngữ "đầu tư công" được sử dụng ở Việt Nam từ khi chuyển sang cơ chế thị trường,
bên cạnh các thuật ngữ "đầu tư của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh" và "đầu tư
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
5
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
trực tiếp nước ngoài". Các khái niệm "đầu tư công" và "đầu tư của Nhà nước" được
sử dụng với ý nghĩa giống như nhau. Theo thống kê hiện nay, đầu tư công (hay đầu
tư của Nhà nước) bao gồm:
- Đầu tư từ ngân sách (phân cho các Bộ ngành Trung ương và phân cho các
địa phương).
- Đầu tư theo các chương trình hỗ trợ có mục tiêu (thường là các chương
trình mục tiêu trung và dài hạn) cũng được thông qua trong kế hoạch ngân sách
hàng năm, nhưng về chủ trương lại thường được quyết định cho thời kỳ dài hơn 1
năm, ví dụ 3-5 năm.
- Tín dụng đầu tư (vốn cho vay) của Nhà nước có mức độ ưu đãi nhất định.
đang được Dự thảo Luật Đầu tư công của Việt Nam đề nghị áp dụng. Theo cách
hiểu này, lĩnh vực đầu tư công gồm:
- Chương trình mục tiêu, dự án phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã
hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; các dự án đầu tư không có điều kiện xã hội
hoá thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, y tế, khoa học, giáo dục, đào tạo và
các lĩnh vực khác.
- Chương trình mục tiêu, dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước,
đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, kể cả việc mua sắm,
sửa chữa tài sản cố định bằng vốn sự nghiệp.
- Các dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị - xã hội - nghề
nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được hỗ trợ từ vốn nhà nước theo quy định của
pháp luật.
- Chương trình mục tiêu, dự án đầu tư công khác theo quyết định của
Chính phủ.
Như vậy, ở quan niệm này, đầu tư nhằm mục đích kinh doanh của các doanh
nghiệp thuộc sở hữu nhà nước không nằm trong đầu tư công. Song cũng không thể
coi nó là đầu tư tư nhân, bởi vì đây là tài sản thuộc sở hữu nhà nước. Vì vậy, việc sử
dụng quan niệm này thực ra không làm đơn giản hơn cách phân loại và quản lý đầu
tư của Nhà nước. Trước hết nó đòi hỏi phải bổ sung thêm khái niệm "đầu tư nhằm
mục đích kinh doanh của các đơn vị thuộc khu vực nhà nước", bên cạnh các khái
niệm "đầu tư tư nhân" và "đầu tư công". Sau nữa, nó làm cho quá trình phân loại để
thống kê trở nên phức tạp hơn. Chẳng hạn, một con đường, nếu được đầu tư bằng
vốn ngân sách thì sẽ thuộc loại đầu tư công, nhưng nếu thực hiện bằng vốn "xã hội
hóa" - tức là do cộng đồng hoặc tư nhân bỏ vốn đầu tư - sẽ thuộc đầu tư tư nhân,
còn nếu có cả sự hỗ trợ vốn của chính phủ thì sẽ rất khó phân định đó là đầu tư công
hay đầu tư tư nhân.
Hiện tại "đầu tư công" vẫn được quan niệm một cách đơn giản hơn: đó là bao
gồm tất cả các khoản đầu tư do chính phủ và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh
tế nhà nước tiến hành. Trong quan niệm này, đầu tư công được xét không phải từ
SV: Đặng Anh Tuấn
sinh xã hội, thể trạng sức khỏe, môi trường sinh thái, sự tham gia vào các hoạt động
xã hội,… Có thể nói một cách khác, phúc lợi xã hội thể hiện qua mức độ hài lòng
trong cuộc sống bản thân và đời sống xã hội.
- Tài trợ: Sự khác biệt thứ hai giữa dự án công và dự án tư là ở chi phí tài trợ.
Phần lớn nguồn tài trợ cho dự án tư đều xác định được chi phí một cách tường
minh. Nguồn tài trợ các dự án công một phần đến từ thuế mà chi phí cơ hội của thuế
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
8
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
không dễ xác định.
- Hiện tượng chèn lấn: Khi thực hiện các dự án đầu tư của mình, Chính phủ
sẽ thu hút một phần nguồn lực của nền kinh tế dành cho các dự án khác và tăng
cung thay cho những dự án khác, trong đó có dự án của khu vực tư nhân. Nên trước
khi thực thi một dự án, khu vực công luôn phải có câu trả lời rõ ràng và dứt khoát
đối với câu hỏi tại sao Chính phủ can thiệp vào lĩnh vực này.
Tuy nhiên tại một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, tình trạng thị trường tư
nhân chưa phát triển cũng là một lý do khiến Chính phủ phải can thiệp vào hoạt
động kinh tế. Trong tình huống này, không phải Chính phủ chèn lấn khu vực tư, mà
Chính phủ đề xuất các dự án nhằm tạo động lực, kích thích khu vực tư phát triển.
- Phân cấp dự án đầu tư: Ở Việt Nam, các dự án đầu tư được phân cấp cho
địa phương thích ứng với nhiệm vụ chi ngân sách.
- Thị trường các đầu ra của dự án công: Có những dự án công mà đầu ra có
thị trường. Tuy nhiên vẫn nảy sinh tình trạng nhiều dự án công thiếu thị trường của
đầu ra. Ví dụ cho những trường hợp đầu ra không có thị trường là dự án cải tạo hệ
thống cấp, thoát nước, dự án nạo vét luồng, lạch, kênh và mương, dự án thủy lợi, dự
án vệ sinh môi trường, dự án nâng cấp trường công lập, dự án nâng cao thể trạng
người dân, dự án phủ xanh đồi trọc, dự án xóa đói giảm nghèo, dự án chống biến
đổi khí hậu và nước biển dâng,…
mẽ thay đổi quan niệm cổ điển về nền kinh tế có xu hướng tự điều chỉnh đi đến cân
đối mới, nơi có công ăn và việc làm đầy đủ cho tất cả mọi người. Trong nghiên cứu
của mình ông đánh giá cao vai trò của tiêu dùng trong việc xác định sản lượng và đi
đến kết luận, muốn thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp, nhà nước phải thực hiện
điều tiết bằng các chính sách kinh tế nhằm tăng cầu tiêu dùng. Để đạt được điều
này, ông đề nghị sử dụng ngân sách nhà nước để kích thích đầu tư thông qua các
đơn đặt hàng của nhà nước và trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp. Để thúc đẩy tăng
trưởng và giảm lãi suất nhằm kích thích đầu tư, Chính phủ chấp nhận lạm phát có
mức độ, đẩy mạnh đầu tư vào các công trình công cộng và các biện pháp khác nhau
như một cú huých trợ lực khi đầu tư tư nhân giảm sút.
Trường phái kinh tế hiện đại ra đời với đại diện là P.A Samuelson, những nội
dung cơ bản của lý thuyết này là:
Trên thực tế, sản lượng cân bằng thường ở dưới mức sản lượng tiềm năng,
trong điều kiện hoạt động bình thường, nền kinh tế luôn có thất nghiệp và lạm phát.
Nhà nước cần xác định tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và mức lạm phát có thể chấp nhận
được. Sự cân bằng của nền kinh tế được xác định tại giao điểm của tổng cung và
tổng cầu.
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế này cũng thống nhất với cách xác định của mô
hình kinh tế tân cổ điển về các yếu tố tác động đến sản xuất. Họ cho rằng tổng mức
cung của nền kinh tế được xác định bởi các yếu tố đầu vào của sản xuất, đó là
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
10
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
nguồn lao động, vốn sản xuất, tài nguyên thiên nhiên và khoa học công nghệ.
Y=f(K,L,R,T).
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Samuelson cho rằng thị trường là yếu tố cơ
bản điều tiết hoạt động của nền kinh tế. Mặt khác, trong sự phát triển kinh tế hiện
nay, việc mở rộng kinh tế thị trường đòi hỏi phải có sự can thiệp của nhà nước
các doanh nghiệp tổ chức sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp muốn đứng vững
được trên thị trường phải luôn luôn đổi mới về sản phẩm, về tổ chức quản lý. Do
vậy, nó luôn tạo ra lực lượng sản xuất cho xã hội, tạo ra sự dư thừa hàng hóa để cho
phép thỏa mãn nhu cầu ở mức tối đa. Trong nền kinh tế thị trường, các doanh
nghiệp chủ yếu hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, dẫn đến những thất bại của thị
trường. Sự can thiệp của Nhà nước sẽ bảo đảm cho sự vận động của thị trường được
ổn định, nhằm tối đa hóa hiệu quả kinh tế, bảo đảm định hướng chính trị của sự phát
triển kinh tế. Một trong những kênh để Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế đó là
đầu tư công. Nhà nước bỏ vốn thực hiện các dự án thuộc những lĩnh vực mà tư nhân
không có khả năng hoặc không có nhu cầu đầu tư. Ví dụ như các dự án xây dựng
công trình cầu, đường, các công trình công cộng; đầu tư phát triển cho vùng miền
núi, dân tộc thiểu số, Bởi đó đều là những dự án phải bỏ nhiều vốn đầu tư ban
đầu, thời gian thu hồi vốn lâu, hoặc khả năng thu hồi được vốn là không cao. Do đó,
cần có đầu tư của nhà nước để đảm bảo các nhu cầu tối thiểu của cộng đồng được
đáp ứng, giữ vững ổn định xã hội, tránh tình trạng bất công bằng, bất bình đẳng
trong xã hội.
Vai trò đầu tư công ở Việt Nam gắn liền với quan niệm về vai trò chủ đạo
của kinh tế nhà nước nói chung và vai trò bà đỡ của bàn tay nhà nước nói riêng
trong quá trình CNH - HĐH theo yêu cầu phát triển bền vững và đảm bảo an sinh
xã hội. Trong nhiều thập kỷ qua, đầu tư công ở nước ta được xem là động lực quan
trọng nhất cho sự phát triển của nền kinh tế, là một thành phần quan trọng của tổng
cầu xã hội, cũng như góp phần gia tăng tổng cung và năng lực kinh tế; định vị và
củng cố nền kinh tế của đất nước trong mối quan hệ của khu vực và quốc tế; đầu tư
mồi, tạo cú huých và duy trì động lực tăng trưởng, thúc đẩychuyển dịch cơ cấu kinh
tế, tạo việc làm xã hội. Thực tế cho thấy, nhà nước đã và đang là nhà đầu tư áp đảo,
dẫn dắt thị trường, tác động mạnh tới diễn biến của thị trường…
Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì đầu tư công càng nổi bật vai
trò duy trì động lực tăng trưởng kinh tế và góp phần bảo đảm việc làm và an sinh xã
hội thông qua các gói kích cầu của Chính phủ. Đầu tư công thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế dựa trên việc đầu tư cho các công trình hạ tầng, cơ sở vật chất – kĩ thuật tối
quy mô lớn trong việc tạo ra hoặc kiểm soát các công ty tài chính trung gian, cũng
như việc sẵn sàng nhìn nhận lại việc quản lý, giám sát và đầu tư của các tổ chức
kinh tế và tập đoàn nhà nước sẽ có những tác động tốt trong việc ứng phó và phát
triển kinh tế khi có khủng hoảng.
Một phương pháp phổ biến dùng để đánh giá vai trò của đầu tư nói chung và
đầu tư công nói riêng đối với tăng trưởng kinh tế là phân tích sự đóng góp của các
yếu tố vào sự tăng trưởng GDP. Ở đây người ta sử dụng hàm sản xuất, với hai yếu
tố đầu vào cơ bản là vốn (K) và lao động (L). Sự gia tăng sản lượng trong nền kinh
tế là do hai phần chính: (1) Sự gia tăng của các yếu tố đầu vào K, L; (2) Sự gia tăng
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
13
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
về năng suất bằng hệ số năng suất nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity -
TFP). TFP là quan hệ giữa đầu ra với tổng hợp các đầu vào, bao gồm cả các yếu tố
không định lượng được như quản lý, khoa học công nghệ,… Khi hàm sản xuất chỉ
có hai yếu tố vốn (K) và lao động (L) theo dạng: thì A
t
trong mô
hình chính là TFP. Chỉ tiêu TFP phản ánh hiệu quả của các nguồn lực được sử dụng
trong quá trình sản xuất. Ngoài ra, TFP còn phản ánh hiệu quả do thay đổi công
nghệ, trình độ tay nghề của công nhân, trình độ quản lý,…
Giả thiết rằng hàm sản xuất dạng Cobb - Douglass là hàm số liên tục theo
thời gian và được biểu diễn như sau:
Chia hai vế của phương trình trên cho Y và sau phép biến đổi ta có:
Dưới dạng rút gọn, ta có:
Trong đó:
G(Y): tốc độ tăng của sản lượng (Y).
G(A): tốc độ tăng của năng suất các yếu tố tổng hợp
Sau khi tính được tốc độ tăng của từng yếu tố lao động G(L) và vốn G(K), chúng ta
sẽ xác định được đóng góp của chúng vào tốc độ tăng trưởng của GDP như sau:
Đóng góp của TFP = G(TFP)/G(Y)
Đóng góp của lao động = α.G(L)/G(Y)
Đóng góp của vốn = (1 - α).G(K)/G(Y)
1.3. Phân loại hoạt động đầu tư công
Chủ trương của Đảng là “vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước tập trung cho kết
cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ, y tế,
trợ giúp vùng khó khăn. Vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước dành ưu tiên cho việc
xây dựng các cơ sở thuộc kết cấu hạ tầng có thu hồi vốn và hỗ trợ đầu tư một số dự
án quan trọng của nền kinh tế Xây dựng Chiến lược thu hút và sử dụng vốn
ODA, tập trung vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở các trung tâm kinh tế và các
vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn.” (Văn kiện Đại hội X, Trang 239-240).
Theo đây, đầu tư công bao gồm các hoạt động chủ yếu sau đây:
(1) Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
Có đầu tư mạnh mẽ thì mới có tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo thế nhưng
có đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đi trước thì mới tạo điều kiện để tăng trưởng
nhanh vốn đầu tư toàn xã hội. Kinh tế kết cấu hạ tầng là chủ đề quan trọng đối với
công cuộc phát triển đất nước và ngày càng được chú trọng phát triển.
(2) Đầu tư phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ
Gắn phát triển văn hoá với phát triển kinh tế-xã hội. Nhà nước chú trọng xây
dựng môi trường văn hoá lành mạnh, nếp sống văn minh, gia đình hạnh phúc trong
cộng đồng dân cư. Nâng cao tính văn hoá trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã
hội và sinh hoạt của nhân dân.
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
15
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định phát triển khoa học và công nghệ
ngân sách hằng năm, nhưng về chủ trương được quyết định cho thời kỳ dài hơn 1
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
16
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
năm, thường là 3 đến 5 năm. Đây cũng là vốn không hoàn lại. Có hai loại chương
trình quốc gia: “Chương trình mục tiêu quốc gia” là những chương trình xuyên suốt
các ngành và địa phương, nhằm những mục tiêu được xác định cụ thể; “Chương
trình ngành” thực hiện trong một số ngành hay vùng cụ thể.
Trong thời kỳ 2001 - 2005 có 6 chương trình mục tiêu quốc gia; thời kỳ 2006
- 2010 có 11 chương trình mục tiêu quốc gia
2
. Ngoài ra, có hai chương trình, tuy
không được gọi là chương trình mục tiêu quốc gia, nhưng quy mô lớn hơn nhiều
chương trình mục tiêu quốc gia và cũng bao trùm nhiều tỉnh; đó là Chương trình
phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi và dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn
(Chương trình 135) và Dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng. Có hơn 30 “Chương
trình ngành” hỗ trợ các mục tiêu khác
3
, nhằm thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của
Bộ chính trị và một số nghị quyết của Chính phủ.
1.4.2. Vốn vay
(1) Vốn vay trong nước
Bên cạnh vốn từ quỹ đầu tư phát triển của Nhà nước được cấp không hoàn
trả cho các dự án đầu tư không nhằm mục đích kinh doanh, có nguồn vốn tín dụng
đầu tư do Nhà nước bảo lãnh có mức độ ưu đãi nhất định. Chính phủ cho vay theo
lãi suất ưu đãi bằng nguồn vốn tự có hoặc vốn vay ODA và cho vay lại để đầu tư
vào các dự án thuộc lĩnh vực được ưu tiên trong kế hoạch nhà nước đối với một số
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Về mặt nguyên tắc, chủ đầu tư được
Một nguồn vốn đầu tư vay trong nước quan trọng khác là từ trái phiếu chính
phủ. Đây là vốn Nhà nước vay của nhân dân để đầu tư cho phát triển theo một số
mục tiêu nhất định (như giáo dục, năng lượng…) và sẽ hoàn trả từ ngân sách sau
một thời hạn nhất định.Việc phát hành trái phiếu luôn đảm bảo nguyên tắc công
khai, minh bạch, công bằng. Toàn bộ số tiền thu được từ phát hành trái phiếu Chính
phủ đều được tập trung vào ngân sách trung ương để sử dụng theo đúng mục đích
phát hành theo quy định của pháp luật. Hiện có 6 loại trái phiếu Chính phủ: Tín
phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu ngoại tệ và công trái xây dựng Tổ
quốc, trái phiếu đầu tư và trái phiếu công trình Trung ương.
(2) Vốn vay ngoài nước
Vốn vay ngoài nước là khoản tiền mà Chính phủ vay nợ, nhận viện trợ từ bên
ngoài thông qua kênh hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) để tập trung đầu tư những
dự án đã được cam kết với các nhà tài trợ.
Ở nước ta, ODA là một trong những nguồn vốn quan trọng của Nhà nước, sử
dụng cho những mục tiêu ưu tiên trong phát triển kinh tế - xã hội. Một trong những
trọng tâm sử dụng vốn ODA là để đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội. Căn cứ
vào nhu cầu vốn đầu tư và định hướng phát triển theo ngành, lĩnh vực và vùng lãnh
thổ đề ra trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ Việt
Nam đưa ra định hướng chiến lược, chính sách và những lĩnh vực ưu tiên sử dụng
vốn ODA cho từng thời kỳ. Năm lĩnh vực ưu tiên thu hút và sử dụng ODA bao gồm:
- Phát triển nông nghiệp và nông thôn (bao gồm nông nghiệp, thủy lợi, lâm
nghiệp, thủy sản kết hợp xóa đói, giảm nghèo).
- Xây dựng hạ tầng kinh tế theo hướng hiện đại.
- Xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục và đào tạo, dân số và phát
triển và một số lĩnh vực khác).
- Bảo vệ môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
- Tăng cường năng lực thể chế và phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao
công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai.
1.4.3. Vốn của doanh nghiệp Nhà nước
SV: Đặng Anh Tuấn
Nghiên cứu khả thi
Ý tưởng và định dạng
Thực hiện dự án
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
+ Phân tích thị trường hay sức cầu nhằm ước tính, định lượng hóa và lý giải
chứng minh sức cầu hàng hóa và dịch vụ, giá cả hay các nhu cầu tương đối về dịch
vụ xã hội.
+ Phân tích kỹ thuật nhằm xác định một cách chi tiết các thông số đầu vào
của dự án và xây dựng các ước tính về chi phí.
+ Phân tích nhân lực và quản lý nhằm định rõ chi tiết nhu cầu về nhân lực
cần thiết cho việc thực hiện cũng như vận hành dự án, xác định và định hướng cụ
thể nguồn nhân lực.
+ Phân tích hiệu quả kinh tế nhằm điều chỉnh các dữ liệu tài chính theo ý nghĩa
kinh tế, thẩm định chi phí và lợi ích của dự án trên quan điểm của cả nền kinh tế.
+ Phân tích hiệu quả xã hội nhằm thẩm định dự án theo quan điểm của những
đối tượng được hưởng lợi từ dự án và những đối tượng phải chịu chi phí cho dự án.
Khi có thể được, cần lượng hóa lợi ích thụ hưởng và chi phí phải chịu của các nhóm
này.
- Giai đoạn nghiên cứu khả thi là giai đoạn nghiên cứu khả năng dự án có thể
đáp ứng các tiêu chí về tài chính, kinh tế và xã hội mà chính quyền đề ra cho các
khoản đầu tư không. Chức năng của giai đoạn này là nhằm tăng cường mức độ
chính xác các tính toán những biến số chủ chốt nếu dự án cho thấy có triển vọng
thành công. Chính vào giai đoạn này là lúc mà quyết định quan trọng nhất phải
được đưa ra là liệu có nên chấp thuận dự án không.
- Giai đoạn thiết kế chi tiết là lúc phải xác định rõ các yêu cầu kỹ thuật, tăng
cường độ chính xác của mọi dữ kiện đã được sử dụng trong các phần phân tích
trước đó để có thể xây dựng kế hoạch vận hành chính thức. Sau khi quy trình này
hoàn tất, dự án sẽ được xem xét lại một lần nữa để xác định có còn đáp ứng được
những tiêu chuẩn đề ra được phê duyệt và thực hiện hay không.
pháp luật cần rõ ràng, minh bạch, có cách hiểu thống nhất, đảm bảo định hướng
hoạt động của dự án đầu tư công đáp ứng đúng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
(4) Bối cảnh thực tế
Các yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị, tiến bộ khoa học - công nghệ… đều có
ảnh hưởng đến hoạt động, kết quả đạt được của dự án đầu tư. Những biến động này
đôi khi phải dẫn đến việc điều chỉnh dự án, hoặc ngưng không thực hiện dự án nữa
do không còn phù hợp.
(5) Công luận và thái độ của các nhóm liên quan
Sự ủng hộ hay phản đối của công luận có tác động không nhỏ đến việc thực
hiện dự án. Các dự án công bị người dân phản đối, ngăn chăn ngay từ khâu giải tỏa
mặt bằng sẽ gặp rất nhiều khó khăn về sau. Bên cạnh đó, mỗi dự án được thực hiện
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
21
Chuyên đề thực tập
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Thu Hà
sẽ mang lại lợi ích và bất lợi cho những nhóm đối tượng khác nhau và do vậy cũng
sẽ nhận được sự ủng hộ và phản đối của các nhóm đối tượng tương ứng.
1.7. Đánh giá hiệu quả của đầu tư công
1.7.1. Phương pháp đánh giá đầu tư công
1.7.1.1. Phương pháp tài chính
Theo cách thức phân tích tài chính, các dự án được đánh giá trên cơ sở xác
định doanh thu và chi phí của mọi đầu vào theo giá trị thị trường của chúng.
Phương pháp này quan tâm đến dòng tiền ròng đơn thuần và phân tích ảnh hưởng
đến một nhóm dân cư cụ thể mà không tính đến tác động tổng thể lên toàn nền kinh
tế. Mặc dù phương pháp tài chính không phù hợp với dự án đầu tư công nhưng
không nên bỏ qua bởi một dự án không thể đem lại phúc lợi xã hội bền vững khi nó
không tự “nuôi” được chính nó. Vì thế trước khi sử dụng phương pháp phân tích lợi
ích - chi phí cần phải dùng phương pháp phân tích tài chính để đánh giá tính bền
vững về mặt tài chính của dự án.
gánh chịu chi phí, tại sao họ phải gánh chịu, gánh chịu trong bao lâu,… Phân tích
phân phối thu nhập được xây dựng trên cơ sở các phân tích lợi ích - chi phí và tài
chính với điều kiện chúng được thực hiện theo quan điểm của tất cả các bên liên
quan tới dự án. Nó được xây dựng bằng tất cả ngoại ứng do dự án tạo ra, dẫn đến
thay đổi thu nhập của các nhóm khác nhau trong xã hội.
1.7.1.4. Phương pháp nhu cầu cơ bản
Trong phân tích nhu cầu cơ bản, các hình thức thưởng/phạt đối với ngoại ứng
mà dự án tạo ra khi làm thay đổi mức tiêu dùng một số hàng hóa hay dịch vụ nhất
định được xã hội coi là nhu cầu cơ bản hay có tác dụng tiêu cực. Các nhà phân tích
quy ra các mức thưởng/phạt đẻ phản ánh giá trị của ngoại ứng được cộng đồng gán
ghép với việc tiêu thụ loại hàng hóa và dịch vụ mà xét theo quan điểm xã hội là
đáng khen (như giáo dục) hay đáng trách (như nghiện ma túy).
Trong bốn phương pháp nói trên, hai phương pháp đầu là quan trọng nhất và
cần phải được phân biệt rõ ràng. Sự khác biệt chủ yếu giữa phương pháp phân tích
lợi ích - chi phí và phương pháp tài chính là ở chỗ: trong khi đánh giá tài chính xem
xét dự án từ quan điểm phúc lợi của một bộ phận nhỏ dân cư thì phân tích lợi ích -
chi phí gộp chung lợi ích và chi phí của toàn xã hội để xác định xem dự án có cải
thiện phúc lợi xã hội của nền kinh tế không. Đánh giá tài chính tập trung vào dòng
tiền ròng tính theo giá thị trường, giá tài chính, còn phân tích lợi ích - chi phí quan
tâm đến lợi ích kinh tế.
1.7.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư công
1.7.2.1. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư công ở tầm vĩ mô
Ở tầm vĩ mô, các hiệu quả kinh tế thường biểu hiện một cách không rõ nét,
SV: Đặng Anh Tuấn
Lớp: Kinh tế đầu tư 51G
23