Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường hoạt động của trạm xử lý nước thải Khu công nghiệp Yên Phong - Pdf 26

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI KCN VÀ ĐÁNH
GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA XỬ LÝ NƯỚC THẢI 6
CHƯƠNG II: HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG KCN YÊN PHONG VÀ THỰC
TRẠNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI Ở KCN YÊN PHONG 26
CHƯƠNG III: SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CHI PHÍ HIỆU
QUẢ, ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRẠM XỬ LÝ NƯỚC THẢI
CỦA KCN YÊN PHONG – NGHIÊN CỨU TỪ TRƯỜNG HỢP CÔNG TY
CỒN RƯỢU HÀ NỘI 38
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 1: 54
PHỤ LỤC 2: 62
PHỤ LỤC 3: 66
PHỤ LỤC 5 74
PHỤ LỤC 6: 105
SV: Hà Thúc Long Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
KCN Khu công ngiệp
CBA Phân tích chi phí lợi ích.
NPV Giá trị hiện tại ròng.
BCR Tỷ suất lợi nhuận.
IRR Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ.
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam.
XLNT Xử lý nước thải
QC Quy chuẩn
HSMT Hồ sơ mời thầu
SV: Hà Thúc Long Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng

về ô nhiễm môi trường do chất thải rắn, nước thải và khí thải công nghiệp gây
ra.Hoạt động đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước thải tại các khu công nghiệp
chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của các nhà đầu tư, có thể do nguồn vốn
đầu tư cho các hoạt động bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp còn hạn chế, có
thể do các doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm về bảo vệ môi trường,
hoặc có thể do các doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp khó tiếp cận
các nguồn vốn thích hợp để đầu tư xây mới và mở rộng các khu xử lý nước thải tập
trung. Trên thực tế, nếu chỉ trông chờ vào nguồn thu phí thu gom, xử lý nước thải từ
các doanh nghiệp thì chủ đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp khó có thể bù đắp
được các chi phí cho việc xây dựng và vận hành hệ thống cống thu gom, trạm bơm,
trạm xử lý nước thải của khu công nghiệp. Rủi ro càng cao hơn khi trạm xử lý nước
thải phải được xây dựng trước khi các nhà đầu tư xem xét vào khu công nghiệp, khu
công nghiệp không thu hút được nhà đầu tư, tỷ lệ lấp đầy thấp.
Trong quá trình phát triển của mình, Bắc Ninh đã chọn công nghiệp làm
hướng đi mũi nhọn, trong đó đóng vai trò chủ đạo là các KCN trên địa bàn, điển
hình là Khu công nghiệp Yên Phong. Ngày 28/10/2009, Tổng công ty Viglacera
chính thức khởi công trạm xử lý nước thải tại KCN Yên Phong - Bắc Ninh giai
đoạn I. Đây là trạm xử lý nước thải thứ hai (sau trạm xử lý nước thải đầu tiên đã
đưa vào vận hành năm 2008 tại KCN Tiên Sơn – Bắc Ninh) trong các KCN tập
trung được khởi công xây dựng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, sử dụng các thiết bị
nhập khẩu ở các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Đức…với tổng
vốn đầu tư 23 tỷ đồng. Trạm sử dụng công nghệ “Hóa lý và sinh học hiếu khí liên
tục kết được hoàn thành và đưa vào khai thác vận hành trong quý I/2010.
Kết quả 3 năm hoạt động của hệ thống xử lý nước thải cho thấy đã thực hiện
được các mục đặt ra như trong thiết kế, tuy nhiên về vấn đề kinh tế có thật sự là giải
pháp tối ưu trong việc xử lý nước thải của toàn bộ KCN Yên Phong hay chưa vẫn
còn là một dấu hỏi.
SV: Hà Thúc Long Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng

SV: Hà Thúc Long Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
Chương 1: Cơ sở lý luận về xử lý nước thải KCN và đánh giá hiệu quả kinh tế
của xử lý nước thải.
Chương 2: Hiện trạng môi trường KCN Yên Phong và Thực trạng xử lý nước
thải ở khu công nghiệp Yên Phong
Chương 3: Sử dụng phương pháp phân tích chi phí hiệu quả, Đánh giá hiệu
quả hoạt động trạm xử lý nước thải của KCN Yên Phong – trường hợp công ty Cồn
Rượu Hà Nội.
SV: Hà Thúc Long Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung báo cáo đã viết là do bản thân thực hiện, không
sao chép, cắt ghép các báo cáo hoặc luận văn của người khác; nếu sai phạm tôi xin
chịu kỷ luật với Nhà trường.
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2013
Sinh viên: Hà Thúc Long
SV: Hà Thúc Long Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới Thạc Sỹ Nguyễn
Quang Hồng, khoa Môi trường – Đô thị, trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội,
người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài của
mình.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng Xử lý môi trường, Tổng công ty Dung dịch
khoan và hóa phẩm dầu khí đã tạo điều kiện cho tôi tiếp cận các nguồn tài liệu cần
thiết và có những ý kiến đóng góp và tư vấn giúp tôi hoàn thành chuyên đề thực tập

* Nước thải công nghiệp (hay còn gọi là nước thải sản xuất): là nước thải từ
các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu.
* Nước thấm qua: là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách
khác nhau, qua các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hố ga hay hố xí.
* Nước thải tự nhiên: nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở những
thành phố hiện đại, chúng được thu gom theo hệ thống riêng.
* Nước thải đô thị: nước thải đô thị là một thuật ngữ chung chỉ chất lỏng
trong hệ thống cống thoát của một thành phố, thị xã; đó là hỗn hợp của các loại
nước thải trên.
Bằng trực giác, con người có thể nhận thấy được các chất hoà tan trong nước
thải có hàm lượng tương đối cao. Nước thải có những biểu hiện đặc trưng sau:
SV: Hà Thúc Long Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
* Độ đục:
Nước thải không trong suốt. Các chất rắn không tan tạo ra các huyền phù lơ
lửng. Các chất lỏng không tan tạo dạng nhũ tương lơ lửng hoặc tạo váng trên mặt
nước. Sự xuất hiện của các chất keo làm cho nước có độ nhớt.
* Màu sắc:
Nước tinh khiết không màu. Sự xuất hiện màu trong nước thải rất dễ nhận
biết. Màu xuất phát từ các cơ sở công nghiệp nói chung và các sơ sở tẩy nhuộm nói
riêng. Màu của các chất hoá học còn lại sau khi sử dụng đã tan theo nguồn nước
thải. Màu được sinh ra do sự phân giải của các chất lúc đầu không màu. Màu xanh
là sự phát triển của tảo lam trong nước. Màu vàng biểu hiện của sự phân giải và
chuyển đổi cấu trúc sang các hợp chất trung gian của các hợp chất hữu cơ. Màu đen
biểu hiện của sự phân giải gần đến mức cuối cùng của các chất hữu cơ.
* Mùi:
Nước không có mùi. Mùi của nước thải chủ yếu là do sự phân huỷ các hợp
chất hữu cơ trong thành phần có nguyên tố N, P và S. Xác của các vi sinh vật, thực
vật có Prôtêin là hợp chất hữu cơ điển hình tạo bởi các nguyên tố N, P, S nên khi

nằm khoảng 8-10 mg/l và dao động mạnh phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ, sự phân
huỷ hoá chất, sự quang hợp của tảo… Khi nồng độ DO thấp, các loài sinh vật trong
nước giảm hoạt động hoặc chết. Do vậy, DO là một chỉ số quan trọng để đánh giá
sự ô nhiễm nước của các thuỷ vực.
* Chỉ tiêu vi sinh vật:
Nước thải chứa một lượng lớn các vi khuẩn, vi rút, nấm, rêu tảo, giun sán
Để đánh giá mức độ nhiễm bẩn bởi vi khuẩn, người ta đánh giá qua một loại vi
khuẩn đường ruột hình đũa điển hình có tên là Côli (NH4Cl). Côli được coi như
một loại vi khuẩn vô hại sống trong ruột người, động vật. Côli phát triển nhanh ở
môi trường Glucoza 0,5% và Clorua amoni 0,1%; Glucoza dùng làm nguồn năng
lượng và cung cấp nguồn Cacbon, Clorua amoni dùng làm nguồn Nitơ. Loại có hại
là vi rút. Mọi loại vi rút đều sống ký sinh nội tế bào. Bình thường khi bị dung giải,
mỗi con Côli giải phóng 150 con vi rút. Trong 1 ml nước thải chứa tới 1.000.000
con vi trùng Côli.
Ngoài vi khuẩn ra, trong nước thải còn có các loại nấm meo, nấm mốc, rong
tảo và một số loại thuỷ sinh khác Chúng làm cho nước thải nhiễm bẩn sinh vật.
SV: Hà Thúc Long Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
1.1.2. Xử lý nước thải và các phương pháp xử lý nước thải.
a. Xử lý nước thải.
Mục đích của xử lý nước thải là khử các tạp chất sao cho nước sau khi xử lý
đạt tiêu chuẩn chất lượng theo các chỉ tiêu đã đề ra. Để đạt được điều này dây
chuyền công nghệ xử lý nước thải được nhóm thành các công đoạn:
Xử lý cấp 1- Gồm các quá trình xử lý sơ bộ và lắng bắt đầu từ song (hoặc lưới
chắn ) và kết thúc sau lắng cấp 1. Công đoạn này có nhiệm vụ khử các vật rắn nổi có
kích thước lớn và các tạp chất rắn lơ lửng ở bể lắng cấp 1. ở đây thường gồm các quá
trình lọc qua song ( hoặc lưới ) chắn,lắng, tuyển nổi, tách dầu mỡ và trung hoà.
Xử lý cấp 2-Gồm các quá trình sinh học (đôi khi cả hoá học) có tác dụng
khử hầu hết các tạp chất hữu cơ hoà tan có thể phân huỷ bằng con đường sinh học,

và các chất trợ keo tụ để liên kết các chất bẩn ở dạng lơ lửng và keo thành những
bụng cú kích thước lớn hơn lắng xuống.Phương pháp đông tụ làm tăng nhanh quá
trình lắng các chất lơ lửng phân tán nhỏ, keo thậm chí cả các tạp chất khác. Khi đó
nồng độ các chất lơ lửng, mùi, màu sẽ giảm xuống. Các chất đông tụ thường dùng
là nhôm sunfat,sắt sunfat, sắt clorua…
* Xử lý nước thải bằng phương pháp hấp phụ
Hấp phụ là tách các chất hữu cơ và khí hoà tan khỏi nước thải bằng cách tập
chung các chất đó trên bề mặt chất rắn (chất hấp phụ) hoặc bằng cách tương tác
giữa các chất bẩn hoà tan với các chất rắn. Hiện nay phương pháp hấp phụ được sử
dụng rộng rãi để xử lý nước thải công nghiệp. Phương pháp này cho phép xử lý
nước thải chứa một hoặc nhiều loại nước bẩn khác nhau. Kể cả khi nồng độ chất
bẩn trong nước rất thấp. Như vậy phương pháp hấp phụ còn có thể dùng để xử lý
triệt để nước thải sau khi đã xử lý bằng các phương pháp khác. Nếu các chất cần
khử bị hấp phụ tốt và chi phí riêng lượng chất hấp phụ không lớn thì việc ứng dụng
phương pháp này là hợp lý hơn cả.
* Xử lý nước thải bằng phương pháp trích ly
Phương pháp trích ly là một trong những phương pháp phổ biến để xử lý
nước thải chứa phenol và các chất hữu cơ khác như các loại axit béo. Thực chất của
phương pháp này là sử dụng độ hoà tan của các chất bẩn trong dung môi nào đó, mà
dung môi đó lại không tan trong nước thải.
Nếu cho dung môi vào nước thải và khuấy trộn đều thì các chất bẩn sẽ hoà
tan trong dung môi, khi đó nồng độ chất bẩn trong nước thải sẽ giảm nếu tiếp tục
tách dung môi ra khỏi nước thải thì nước thải coi như được làm sạch. Như vậy
nguyên tắc của phương pháp này là: Trong hỗn hợp hai chất lỏng không tan lẫn
nhau, bất cứ một chất thứ ba nào khác, theo độ hoà tan của mình trong hai chất
SV: Hà Thúc Long Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
lỏng trên sẽ được phân bổ vào hai chất lỏng đó theo quy luật phân bổ. Phương pháp
tách chất bẩn hoà tan ra khỏi nước thải như vậy gọi là phương pháp trích ly. Những

11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
lý nước thải bằng phương pháp nhiệt phải căn cứ vào thành phần tính chất hoá lý
và nộng độ các chất bẩn trong nước thải, trạng thái tồn tại các sản phẩm sau khi đốt.
*Xử lý nước thải bằng phương pháp hoá học
Thực chất của phương pháp xử lý hoá học là đưa vào nước thải chất phản
ứng nào đó để gây tác động đối với các tạp chất bẩn, biến đổi hoá học và tạo cặn
lắng hoặc tạo dạng chất hoà tan nhưng không độc hại, không gây ô nhiễm môi
trường. Ví dụ: phương pháp trung hoà nước thải chứa axit và chứa kiềm, phương
pháp oxy hoá khử, phương pháp ozon hoá, phương pháp điện hóa…Theo giai đoạn
và mức độ xử lý, phương pháp hoá học sẽ có tác động tăng cường quá trình xử lý cơ
học hoặc sinh học. Những phản ứng diễn ra có thể là phản ứng oxy hoá khử, các
phản ứng tạo chất kết tủa hoặc các phản ứng phân huỷ chất độc hại.
Phương pháp hoá học thường được áp dụng để xử lý nước thải công nghiệp.
Tuỳ thuộc vào điều kiện địa phương và điều kiện vệ sinh cho phép, phương pháp
xử lý hoá học có thể hoàn tất ở giai đoạn cuối cùng hoặc chỉ là giai đoạn sơ bộ ban
đầu của việc xử lý nước thải.
Các phương pháp hoá học dùng trong xử lý nước thải gồm có: trung hoà,
oxy hóa và khử, phương pháp ozon hoá, phương pháp điện hoá học.
* Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học.
Phương pháp này thường dùng để loại các chất phân tán nhỏ, keovà hoà
tanchất hữu cơ (đôi khi cả vô cơ) khái nước thải. Phương pháp này dựa vào khả
năng sống của vi sinh vật. Chúng sử dụng các chất hữu cơ có trong nước thải làm
chất dinh dưỡng như cacbon, nitơ, phôtpho, kali,….Trong quá trình dinh dưỡng các
vi sinh vật sẽ nhận các chất để xây dựng tế bào và sinh năng lượng nên sinh khối
của nó tăng lên. Quá trình phân huỷ các chất hữu cơ nhờ vi sinh vật gọi là quá trình
oxy hoá sinh hoá.
Như vậy, nước thải được xử lý bằng phương pháp sinh học sẽ được đặc
trưng bởi chỉ tiêu BOD hoặc COD. Để có thể xử lý bằng phương pháp này nước
thải sản xuất cần không chứa các chất độc và tạp chất, các muối kim loại nặng hoặc

các trạm quan trắc tự động hiện có nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật kết
nối để truyền dữ liệu tự động, liên tục thì phải có phương án điều chỉnh để đáp ứng
quy định này”.
- Điều 17 Quy định rõ về Bảo vệ môi trường nước trong khu kinh tế, khu
công nghệ cao, khu công nghiệp và cụm công nghiệp.
SV: Hà Thúc Long Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
1.2.2. Quy định về chất lượng nước thải sau khi xử lý
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng và ban hành các bộ tiêu chuẩn
môi trường nước,
- TCVN 5945-2005 – Nước thải công nghiệp – Tiêu chuẩn thải
- QCVN 24:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công
nghiệp,
- QCVN 24:2009/BTNMT quy định giá trị tối đa cho phép của các thông số
ô nhiễm trong nước thải công nghiệp khi xả vào nguồn tiếp nhận.
Ngoài ra còn có các bộ tiêu chuẩn về nước thải sinh hoạt, nước thải của
những ngành đặc thù như sản xuất bột giấy, dệt may, y tế, chế biến thủy hải sản….
1.3. Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án xử lý nước thải
1.3.1.Phương pháp phân tích chi phí lợi ích.
Phân tích chi phí-lợi ích được sử dụng đối với các dự án ở bất cứ giai đoạn
nào. Đây là phương pháp phân tích kinh tế so sánh những lợi ích thu được( bao hàm
lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội) với những chi phí bỏ ra khi thực hiện hoạt động
phát triển. Trong thực tế, nhiều lợi ích rất khó định lượng( chẳng hạn cuộc sống
hoang dã, vẻ đẹp tự nhiên, ) trong khi đó chí phí lại được đo bằng tiền thực của dự
án. Chính vì lý do đó mà các doanh nghiệp thường chỉ quan tâm đến kết quả phân
tích tài chính.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, hoạt động của dự án đầu tư ngày càng
tác động mạnh mẽ tới môi trường thiên nhiên theo chiều hướng tiêu cực nhiều hơn.
Hàng loạt các văn bản pháp luật liên quan đến môi trường ra đời nhằm điều chỉnh

thể có các mức giá phổ biến và ổn định thì một số khác lại có mức giá biến đổi
trong quá trình triển khai dự án. Và có thể có một số đầu vào, đầu ra không được
đưa ra buôn bán trên thị trường. Điều này khiến cho chúng ta cần phải đưa ra những
phương pháp định giá khác nhau.
CBA mặc định rằng tất cả các mặt hàng đều có một giá trị tiền tệ nhất định.
Điều này là cần thiết trong việc so sánh giữa đầu vào và đầu ra để quyết định xem
liệu một dự án có khả thi về mặt kinh tế hay không. Trong khi chúng ta có những kỹ
năng thích hợp để quy ra tiền với phần lớn các mặt hàng thì chúng ta khó có thể làm
như vậy với một số mặt hàng nhất định. Ví dụ như không khí trong lành và sức
khỏe tốt đều rất đáng quý song sẽ là một thách thức lớn để có thể xác định chính
xác lợi ích ròng của một chương trình mang lại không khí trong lành và sức khỏe
tốt cho mọi người. Tuy nhiên, ta có thể xác định được một khoảng chi phí nào đó
mà nếu chi phí của chương trình nằm trong khoảng đó thì chương trình là có giá trị
và ngược lại.
SV: Hà Thúc Long Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
Cần phải nhận thấy một điều rằng người ta đưa các quyết định liên quan đến
các dự án không chỉ đơn thuần dựa trên cơ sở CBA. Các tính toán chính trị và xã
hội nằm ngoài CBA có thể có tầm quan trọng ít nhất là ngang bằng với các lợi ích
kinh tế trong việc quyết định có nên triển khai dự án hay không. Điều này đúng nhất
là trong trường hợp đưa ra các quyết định công. Lúc đó, các tài nguyên thường
được phân bổ dựa trên các lý do khác chứ không phải là hiệu quả kinh tế. Những
vấn đề công bằng, bình đẳng trong các trường hợp này có thể sẽ thế chỗ cho thậm
chí là những nguồn lợi ròng lớn về kinh tế. Nhưng ít nhất cũng có thể hy vọng rằng
một CBA có thể tác động tới quyết định của một người còn đang do dự hay có thể
đưa chúng ta đến với lựa chọn tối ưu giữa các dự án có tác động chính trị, xã hội
tương tự như nhau.
1.3.1.2.Mục đích và ý nghĩa của CBA.
Mục đích bao quát của CBA là trợ giúp cho nhỡng đánh giá có tính xã hội,

các lợi ích kinh tế mà dựa vào đó mà dự án được thiết kế. Khi lợi ích thu được của
dự án trở nên rất nhỏ thì thời gian sống hữu ích của dự án coi như kết thúc.
- Hệ số chiết khấu được sử dụng trong phân tích kinh tế của dự án. Việc lựa
chọn hệ số chiết khấu là hết sức quan trọng vì hệ số chiết khấu có mối quan hệ tỷ lệ
nghịch với việc lựa chọn biến thời gian thích hợp. Hệ số chiết khấu càng lớn thì thời
gian hữu ích của dự án sẽ càng giảm bởi vì nó làm giảm giá trị hiện tại ròng của dự
án theo thời gian.
* Chiết khấu.
Chiết khấu là một cơ chế mà nhờ đó so sánh chi phí và lợi ích ở các thời
điểm khác nhau trên trục thời gian. Trong sử dụng chiết khấu cần đảm bảo 2 điều
kiện sau:
- Mọi biến số đưa vào tính chiết khấu(Chí phí, lợi ích) phải được đưa về
cùng một đơn vị.
- Giá trị một đơn vị chi phí hoặc lợi ích hiện tại lớn hơn một đơn vị lợi ích
hoặc chi phí trong tương lai.
* Hệ số chiết khấu thích hợp.
Trong phân tích chi phí-lợi ích để lựa chọn hệ số chiết khấu thích hợp cần
chú ý các điều kiện sau:
- Trong phép phân tích kinh tế chỉ sử dụng một hệ số chiết khấu mặc dù
khi phân tích có thể thực hiện lặp đi lặp lại với nhiều giá trị khác nhau của hệ số
chiết khấu.
SV: Hà Thúc Long Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
- Hệ số chiết khấu không phản ánh lạm phát, mọi giá cả sử dụng trong phân
tích là giá thực gọi là hệ số chiết khấu thực. Ngược lại hệ số chiết khấu bao hàm cả
lạm phát gọi là chiết khấu danh nghĩa.
Để xác định và điều chỉnh hệ số chiết khấu cần căn cứ vào chí phí cơ hội của
dự án, chi phí của việc vay mượn tiền để đầu tư cho dự án.
Khi phân tích dự án cần thiết phải có sự hướng dẫn của cơ quan Nhà nước và

t
r
C
C
r
B
NPV
1
0
0
)1()1(
Trong đó:
B
t
là lợi ích năm t
C
t
là chi phí năm t
C
o
là chi phí ban đầu
r là hệ số chiết khấu
n là tuổi thọ của dự án
t: thời gian tương ứng ( )
NPV là một chỉ tiêu kinh tế trợ giúp cho việc ra quyết định đầu tư hay lựa
chọn một phương án tối ưu trong danh mục các phương án thay thế.
Dự án có lãi khi NPV > 0
Dự án hoà vốn khi NPV = 0
SV: Hà Thúc Long Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
18

B
C
B
1
0
1
)1(
)1(
Nếu: B/C > 1 Quyết định đầu tư.
B/C = 1 Có thể đầu tư tuỳ thuộc vào mục đích của dự án.
B/C <1 Không nên đầu tư.
* Hệ số hoàn vốn nội tại (IRR-Internal Rate of Return).
Hệ số hoàn vốn nội tại là mức lãi suất mà nếu dùng nó làm tỷ suất chiết khấu
thì giá trị hiện tại ròng bằng 0.
Việc đưa ra quyết định đầu tư được thực hiện trên cơ sở so sánh hệ số hoàn
vốn nội tại (IRR) với hệ số chiết khấu. Dự án chỉ được chấp nhận khi IRR> r. Trong
trường hợp phải lựa chọn thì dự án nào có IRRmax và lớn hơn r sẽ được chọn.
IRR được sử dụng khá phổ biến. Giá trị IRR sau khi tính toán được so sánh
với lãi suất hoặc hệ số chiết khấu.
IRR > lãi suất hoặc hệ số chiết khấu thì dự án có lãi
IRR = lãi suất hoặc hệ số chiết khấu thì dự án hoà vốn
IRR < lãi suất hoặc hệ số chiết khấu thì dự án bị lỗ
Tổng hợp cả ba chỉ tiêu đã trình bày ở trên, căn cứ vào giá trị hiện tại của
dòng lợi ích và chi phí, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau thể hiện qua
bảng sau
SV: Hà Thúc Long Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
19
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
Bảng 1.1. Các chỉ tiêu đánh giá của phương pháp CBA
NPV B /C IRR Quyết định

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quang Hồng
phân phối lợi ích và chi phí, thu nhập ngoại hối, khả năng cạnh tranh quốc tế của
sản phẩm… Đối với những tác động mà mức độ ảnh hưởng của chúng không thể
lượng hoá được, có thể sử dụng phân tích định tính thông qua những xem xét bổ
sung như tác động đến kết cấu hạ tầng, trình độ công nghệ kỹ thuật, môi trường
Khi phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội trên giác độ kinh tế quốc dân, người
ta không sử dụng giá thị trường thực tế mà sử dụng giá điều chỉnh (adjust) hay còn
gọi là giá ẩn, giá mờ (shadow price) gần giống như giá xã hội (chi phí xã hội cần
thiết). Nguyên nhân là do trong thực tế không có những nền kinh tế thị trường cạnh
tranh hoàn hảo và giá thị trường trong nhiều trường hợp không phản ánh đúng chi
phí xã hội do ó sự can thiệp của Nhà nước và tính không hoàn hảo của thị trường.
Tương tự, tỷ giá hối đoái chính thức cũng được thay bằng tỷ giá điều chỉnh (tỷ giá
thực) và ảnh hưởng của yếu tố thời gian không được xác định bằng cách chiết khấu
theo tỷ lệ lãi suất thực tế trên thị trường vốn mà theo tỷ suất chiết khấu xã hội. Tóm
lại, giá cả được sử dụng trong phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội phải phản ánh
đúng lợi ích và chi phí thực của xã hội.
Các chỉ tiêu dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án bao gồm:
(1) Giá trị gia tăng thuần tuý ( NVA )
Đây là chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả kinh tế xã hội của dự án. Giá trị gia
tăng thuần tuý là mức chênh lệch giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào.
NVA = O –(MI+I)
Trong đó :
NVA: là giá trị gia tăng thuần tuý do dự án đem lại
O: là giá trị đầu ra của dự án
MI: là giá trị đầu vào vật chất thường xuyên và các dịch vụ mua ngoài theo
yêu cầu.
I: là vốn đầu tư bao gồm chi phí xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc
thiết bị
Nếu NVA > 0 thì dự án khả thi và ngược lại.
(2)Các chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng của dự án ( NPV), tỷ suất lợi nhuận

động tích cực có thể là làm đẹp cảnh quan môi trường, cải thiện điều kiện sống, sinh
hoạt cho dân cư địa phương…Các tác động tiêu cực bao gồm việc ô nhiễm nguồn
nước, không khí đất đai, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân trong khu vực .
- Các tác động đến kết cấu hạ tầng:
Sự gia tăng năng lực phục vụ của kết cấu hạ tầng sẵn có, bổ sung năng lực phục vụ
của kết cấu hạ tầng mới.
SV: Hà Thúc Long Lớp: Kinh tế và quản lý môi trường 51
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status