Đề án môn học GVHD:
MỤC LỤC
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI 1
VÀ QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI 1
1.1. Tổng quan về nợ nước ngoài 1
1.1.1. Khái niệm về nợ nước ngoài 1
1.1.2. Phân loại nợ nước ngoài 1
1.1.3. Tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế 2
1.2. Quản lý nợ nước ngoài 3
1.2.1. Vai trò của quản lý hoạt động vay, trả nợ nước ngoài 3
1.2.2. Mục tiêu của quản lý nợ nước ngoài 3
1.2.3. Nội dung của quản lý nợ nước ngoài 4
1.2.4. Chỉ số đánh giá hiệu quả của quản lý nợ nước ngoài 5
1.2.4.1. Các chỉ tiêu chung đo lường mức độ an toàn nợ nước ngoài của một quốc gia 5
1.2.4.2. Tiêu chí đánh giá an toàn nợ nước ngoài của IMF 5
Bảng 1.1: Tiêu chí đánh giá mức độ an toàn về nợ của IMF 6
Bảng 1.2: Ngưỡng nợ nước ngoài theo tiêu chuẩn HIPCs 7
1.2.4.3. Tiêu chí đánh giá mức độ nợ nước ngoài của WB 7
Bảng 1.3: Tiêu chí đánh giá mức độ nợ nước ngoài của WB 7
1.2.4.4. Sức mạnh thể chế và chất lượng chính sách quản lý nợ nước ngoài 8
Bảng 1.4: Mức ngưỡng phụ thuộc vào chính sách và thể chế 8
1.3. Kinh nghiệm quản lý nợ nước ngoài ở một số nước trên thế giới 8
1.3.1. Kinh nghiệm quản lý nợ nước ngoài của Hy Lạp và Nhật Bản.9
1.3.1.1. Hy Lạp 9
1.3.1.2. Nhật Bản 10
1.3.2. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt nam 11
2.1. Tình hình nợ nước ngoài của Việt nam 13
2.1.1.Quy mô nợ nước ngoài của Việt nam 13
2.1.2.Cơ cấu nợ nước ngoài: 13
Biểu 2.1: Cơ cấu dư nợ chính phủ và được chính phủ bảo lãnh phân
theo điều kiện tín dụng 14
3.2.2. Hướng đến cân đối tiết kiệm – đầu tư: 31
3.2.3. Nâng cao hoạt động kiểm toán 32
SV: Lớp:
Đề án môn học GVHD:
3.2.4. Hoàn thiện cơ chế quản lý nợ nước ngoài 32
SV: Lớp:
Đề án môn học GVHD:
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế
SNA Hệ thống thống kê tài khoản quốcgia
ODA Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
OECD Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển
WB Ngân hàng Thế giới
WTO Tổ chức thương mại thế giới
NIB Ngân hàng đầu tư Bắc Âu
BIS Ngân hàng tái thiết quốc tế
IBRD Ngân hàng quốc tế tái thiết và phát triển
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
GNI Tổng sản lượng quốc dân
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NSNN Ngân sách nhà nước
ICOR Hệ số sử dụng vốn
NHTM Ngân hàng thương mại
FDI Nguồn vốn đầu tư trực tiếp
SV: Lớp:
Đề án môn học GVHD:
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH
I. BẢNG
Bảng 1.1: Tiêu chí đánh giá mức độ an toàn về nợ của IMF Error: Reference source
(không bao gồm nghĩa vụ nợ dự phòng) về trả gốc và lãi tại một thời điểm của các
khoản vay nước ngoài của Việt Nam. Nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm nợ nước
ngoài của khu vực công và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân”.
Theo khoản 5, điều 3, Luật quản lý nợ công 2009 do Quốc hội ban hành, “nợ
nước ngoài của quốc gia” được xác định: “ là tổng các khoản nợ nước ngoài của
Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của doanh nghiệp và tổ chức khác
được vay theo phương thức tự vay, tự trả theo quy định của pháp luật Việt Nam."
1.1.2. Phân loại nợ nước ngoài.
• Phân loại theo người đi vay:
Nợ nước ngoài của khu vực công: bao gồm nợ nước ngoài của Chính phủ,
nợ nước ngoài(nếu có) của chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương,
nợ nước ngoài của doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức tài chính, tín dụng nhà nước
và các tổ chức kinh tế nhà nước( sau đây gọi tắt là doanh nghiệp nhà nước) trực tiếp
vay nước ngoài;
Nợ nước ngoài của khu vực tư nhân.
• Phân loại theo loại hình vay: gồm vay Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
và vay thương mại
• .Phân loại theo thời hạn vay: gồm vay ngắn hạn, vay trung và dài hạn.
• Phân loại theo chủ nợ và nhóm chủ nợ :
Chủ nợ chính thức: gồm chủ nợ song phương là các Chính phủ hoặc cơ
quan đại diện cho Chính phủ và các chủ nợ đa phương là các tổ chức tài chính quốc
tế đa phương;
Chủ nợ tư nhân: gồm các ngân hàng thương mại; người sở hữu trái phiếu;
các chủ nợ tư nhân khác.
Thứ hai, phân loại dựa trên định nghĩa thì nợ nước ngoài được chia thành:
• Nợ nước ngoài của Chính phủ trực tiếp vay.
• Nợ nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.
SV: Lớp:
1
Đề án môn học GVHD:
Luca
Ricci
(2002):”
External
D
ebt and Growth”,
Magazine Finance and Development of the IMF.
Mặc dù mô hình “debt overhang” không trực tiếp phân tích ảnh hưởng của
nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế nhưng lại gợi ý rằng tổng nợ lớn sẽ kìm hãm
tăng trưởng do góp phần giảm đầu tư. Do vậy ở mức nợ hợp lý, vay nợ tăng lên sẽ
có tác động tích cực đến tăng trưởng nhưng tổng nợ tích lũy lớn sẽ có thể cản trở
tăng trưởng. Từ đó có thể kết luận rằng tăng trưởng và nợ có mối quan hệ phi
tuyến.
SV: Lớp:
2
Debt Overhang
Khảnăng
trả nợ
Dung lượng nợ
Đề án môn học GVHD:
Đỉnh đường cong Laffer nợ đã gợi ý điểm mà tại đó sự tăng lên trong tổng
nợ bắt đầu tạo ra gánh nặng cho đầu tư, cải tổ kinh tế và các hoạt động khác. Đây là
điểm mà tại đó nợ bắt đầu ảnh hưởng ngược chiều đến tăng trưởng. Vì vậy đỉnh của
đường cong Laffer nợ là mức độ nợ tối đa mà một quốc gia có thể duy trì mà không
tiến hành một cách đồng bộ, trên cơ sở phối hợp các nhóm chiến lược vay và trả nợ
nước ngoài trong ngắn hạn, trung và dài hạn. Nội dung quản lý nợ nước ngoài cần
phải được nghiên cứu cẩn thận, trên cơ sở xem xét các khung giải pháp chuẩn đã
được Chính phủ ban hành. Một số nội dung quản lý nợ nước ngoài như sau:
• Xây dựng chiến lược và kế hoạch vay trả nợ nước ngoài: Đây là một
trong những công cụ quan trọng để quản lý nợ nước ngoài. Việc xây dựng chiến
lược và kế hoạch vay nợ giúp Chính phủ định hướng tốt mức vốn vay phù hợp
cũng như đảm bảo khả năng trả nợ đúng hạn. Ngoài ra, chiến lược vay trả nợ nước
ngoài cũng cần phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và 10 năm
của đất nước.
• Ban hành khung chể thế, xây dựng cơ chế, tổ chức bộ máy quản lý nợ
nước ngoài: Không chỉ xây dựng chiến lược và kế hoạch vay trả nợ, Nhà nước còn
cần xây dựng được một khuôn khổ pháp lý và thể chế cho quản lý nợ nước ngoài,
trong đó có sự phân định rõ ràng giữa trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan
chức năng được ủy quyền thay mặt Chính phủ trong việc vay, trả nợ, phát hành bảo
lãnh và thực hiện các giao dịch tài chính như cho vay lại. Sự phân định giữa trách
nhiệm và quyền hạn trên cần được luật hoá bằng các văn bản luật, như Luật Ngân
sách Nhà nước, Luật Quản lý nợ hoặc Luật Quản lý nợ nước ngoài và các quy chế
cụ thể. Hệ thống các văn bản pháp luật nhất thiết phải nhất quán và đồng bộ cho
việc thực hiện.
• Hiệu quả của chương trình, dự án sử dụng vốn vay. Đây là một nội dung
cần được quản lý chặt chẽ. Đối với các khoản vay ODA, đôi khi các nước vẫn có tư
tưởng coi đó là khoản cho không nên việc sử dụng vốn không được quản lý kỹ, dẫn
đến thất thoát vốn, tham nhũng xảy ra.
• Đảm bảo cân đối giữa vay và khả năng trả nợ, cân đối ngoại tệ và các cân
đối vĩ mô khác của nền kinh tế về dài hạn: Chính phủ phải có những chính sách
quản lý đảm bảo cân đối giữa lượng vốn vay và nhu cầu sử dụng vốn vay sao cho
phù hợp. Tránh tình trạng vốn vay về không biết sử dụng vào đâu. Gây lãng phí
nguồn vốn và tăng áp lực trả nợ dẫn đến tình trạng vỡ nợ.
SV: Lớp:
mạnh đồng nghĩa với kém an toàn về nợ.
SV: Lớp:
5
Đề án môn học GVHD:
Bảng 1.1: Tiêu chí đánh giá mức độ an toàn về nợ của IMF.
Gánh nặng nợ theo tiêu chí DSF
NPV của nợ (%) Dịch vụ nợ (%)
XK GDP Thu ngân sách XK Thu ngân sách
An toàn 100 30 200 15 25
Trung bình 150 40 250 20 30
Mạnh 200 50 300 25 35
Nguồn: IFM
Trong đó:
- Tỷ lệ NPV của nợ/xuất khẩu (NPV/X): đo lường hiện giá thuần của nợ
nước ngoài liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia từ nguồn thu xuất khẩu.
Ngưỡng an toàn của tỷ lệ này là 150%.
- Tỷ lệ NPV của nợ/thu ngân sách nhà nước (NPV/DBR): đo lường hiện giá
thuần của nợ nước ngoài liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia lấy từ nguồn
thu ngân sách nhà nước. Ngưỡng an toàn của tỷ lệ này là 250%.
Một quốc gia được xem là an toàn nếu như tỷ lệ NPV/X nhỏ hơn 150%; tỷ lệ
NPV/DBR nhỏ hơn 250%. Theo mức ngưỡng của HIPCs, chỉ tiêu thứ hai chỉ được
sử dụng nếu như đáp ứng hai điều kiện: Tỷ lệ xuất khẩu/GDP (X/GDP) phải lớn
hơn hoặc bằng 30%; tỷ lệ thu ngân sách nhà nước/GDP (DBR/GDP) phải lớn hơn
15%.
- Tỷ lệ NPV của nợ/GDP (NPV/GDP): đo lường hiện giá thuần của nợ nước
ngoài trên tổng thu nhập quốc nội;
- Dịch vụ nợ/xuất khẩu (TDS/X) và dịch vụ nợ/nguồn thu ngân sách
(TDS/DBR): là những chỉ tiêu đo lường tính lỏng được Ngân hàng Thế giới và IMF
đưa vào để đánh giá mức độ bền vững nợ công. TDS/X đo lường khả năng thanh
toán dịch vụ nợ từ nguồn thu xuất khẩu. Còn TDS/DBR đo lường khả năng thanh
với
kim
ngạch
xuất
khẩu
hàng
hóa và dịch vụ
≤ 18% 18 – 30% ≥ 30%
4.Tỷ lệ % nghĩa vụ trả nợ so với
kim ngạch xuất khẩu hàng hóa so
với GDP
≤ 2% 2 – 4% ≥ 4%
5.Tỷ
lệ
%
nghĩa
vụ
trả
lãi
cú sốc liên quan đến nợ. Trong vài năm gần đây, Ngân hàng Thế giới đã đưa ra một
cách tiếp cận mới để đánh giá chất lượng quản lý nợ công đó là dựa vào chất lượng
chính sách và thể chế. Các quốc gia có chính sách và thể chế tốt thì có thể chống đỡ
được mức nợ cao hơn so với mức ổn định nợ cơ bản.
Bảng 1.4: Mức ngưỡng phụ thuộc vào chính sách và thể chế
Mức ngưỡng (%)
Đánh giá sức mạnh thể chế và chất lượng chính sách
Kém
CPIA ≤3
Vừa
3< CPIA <3.9
Mạnh
CPIA ≥ 3.9
NPV của nợ/GDP
30% 45% 60%
NPV của nợ/xuất
khẩu
100% 200% 300%
NPV của nợ/thu
ngân sách trừ đi
các khoản hỗ trợ
200% 275% 350%
Dịch vụ nợ/GDP
15% 25% 35%
Dịch vụ nợ/thu
ngân sách trừ các
khoản hỗ trợ
20% 30% 40%
Nguồn: Ngân hàng Thế giới (2005)
Cách tiếp cận này đưa ra giá trị mức ngưỡng dựa vào tỷ lệ nợ truyền thống
sẵn có buộc chính phủ Hy Lạp tăng cường vay nợ tài trợ cho chi tiêu công.
Thứ hai, chi tiêu công tăng cao dẫn đến thâm hụt ngân sách. Tiết kiệm trong
nước thấp là một nguyên nhân quan trọng nhưng chi tiêu công cao tác động trực
tiếp đến việc thâm hụt ngân sách dẫn đến nợ công.
Thứ ba, nguồn thu giảm sút cũng là một nhân tố dẫn tới tình trạng thâm hụt
ngân sách và gia tăng nợ công. Trốn thuế và hoạt động kinh tế ngầm ở Hy Lạp là
nhân tố làm giảm nguồn thu ngân sách. Theo đánh giá của WB, kinh tế không chính
thức ở Hy Lạp chiếm tới 25 - 30% GDP(so với mức 15,6% GDP của Việt Nam;
13,1% GDP của Trung Quốc và Singapore; 11,3% GDP của Nhật Bản). Hệ thống
thuế với nhiều mức thuế cao và bộ luật phức tạp cùng với sự điều tiết dư thừa và
thiếu hiệu quả của cơ quan quản lý là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trốn thuế và
kinh tế ngầm phát triển ở Hy Lạp.
Thứ tư, sự tiếp cận dễ dãi với nguồn vốn đầu tư nước ngoài và việc sử dụng
nguồn vốn không hiệu quả. Bên cạnh đó, việc gia nhập Eurozone năm 2001 là cơ
hội lớn để Hy Lạp có thể tiếp cận với thị trường vốn quốc tế với việc sử dụng một
đồng tiền được những nền kinh tế lớn như Đức và Pháp bảo đảm cùng với sự quản
lý chính sách tiền tệ của Ngân hàng TƯ châu Âu (ECB). Nhờ việc gia nhập
SV: Lớp:
9
Đề án môn học GVHD:
Eurozone Hy Lạp nghiễm nhiên có được hình ảnh ổn định cao và chắc chắn trong
mắt các nhà đầu tư, dễ dàng thu hút vốn đầu tư nước ngoài với mức lãi suất thấp.
Gần một thập kỷ qua, Chính phủ Hy Lạp liên tục bán trái phiếu để thu về hàng trăm
tỷ USD. Số tiền này lẽ ra có thể giúp kinh tế Hy Lạp tiến rất xa nếu chính phủ có kế
hoạch chi tiêu hợp lý. Tuy nhiên, chính phủ Hy Lạp đã chi tiêu quá tay (phần lớn
cho cơ sở hạ tầng) mà hầu như không quan tâm đến các kế hoạch trả nợ.
Thứ năm, thiếu tính minh bạch và niềm tin của các nhà đầu tư. Sự thiếu minh
bạch trong số liệu thống kê của Hy Lạp đã làm mất niềm tin của các nhà đầu tư mà
quốc gia này đã tạo dựng được với tư cách là một thành viên của Eurozone và
nhanh chóng xuất hiện các làn sóng rút vốn ồ ạt khỏi các ngân hàng của Hy Lạp,
của Nhật Bản chỉ thực sự bộc phát khi kinh tế toàn cầu chìm sâu vào cuộc khủng
hoảng tài chính. Nợ công ở Nhật Bản hiện đã lên đến mức gấp 2 lần tổng sản phẩm
quốc nội GDP, với tỷ lệ nợ cao hơn Hy Lạp tới 50%. Dư nợ bình quân đầu người
của Nhật Bản hiện lên tới gần 90.000 USD. Theo IMF, nợ công của Nhật Bản có
thể vượt tổng tài sản tài chính của các hộ gia đình vào năm 2015. Tuy nhiên, điều
đáng chú ý là mặc dù nợ công có quy mô lên tới hơn 200% GDP,nhưng con số này
vẫn được đánh giá ở ngưỡng an toàn. Vậy nguyên nhân là do đâu?
Chúng ta hãy xem xét 2 sự khác biệt lớn giữa nợ công của Nhật Bản và nợ
công của Hy Lạp:
Thứ nhất, 95% trái phiếu chính phủ của Nhật Bản do người dân Nhật Bản
nắm giữ, trong khi 70% nợ chính phủ Hy Lạp do người nước ngoài nắm giữ;
Thứ hai, lợi tức trái phiếu Nhật Bản chỉ chạm mức cao nhất là 1,4%, trong
khi đó Hy Lạp đã tiếp cận ngưỡng 8%, điều này cho thấy Nhật Bản vẫn có thể đảo
ngược tình thế để tránh nguy cơ vỡ nợ.
1.3.2. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt nam.
Qua nghiên cứu thành công cũng như bài học thất bại từ Hy Lạp và Nhật bản
trong quản lý nợ công, nợ nước ngoài, có thể rút ra các bài học kinh nghiệm cho
Việt nam trong việc nâng cao quản lý nợ nước ngoài trong quá trình phát triển kinh
tế như sau:
Thứ nhất, Không nên quá phụ thuộc vào nguồn vay bên ngoài. Học tập Nhật
bản, lựa chọn các phương thức huy động vốn khác nhau sao cho khai thác tối đa
nguồn vốn không gây nợ nước ngoài, đặc biệt là phát hành trái phiếu trong nước,
với 95% trái phiếu chính phủ do người dân nắm giữ trong khi đó 70% trái phiếu
Chính Phủ Hy Lạp do bên ngoài nắm giữ. Rút kinh nghiệm từ Hy Lạp, vay nước
ngoài một cách ồ ạt, không có phương hướng trả nợ, trong khi đó hiệu quả sử dụng
nguồn vốn lại thấp, đầu tư dàn trải không thu được nguồn trả nợ trong tương lại.
Thứ hai, Kiểm soát chi phí vay vốn. Nhật Bản biết cách huy động vốn với
chi phí thấp, chỉ dưới 1,4%. Mặc dù lãi suất trái phiếu có vai trò quan trọng trong
việc huy động vốn nhưng không có nghĩa là vay vốn với bất kỳ mức lãi suất nào.
Phải biết kết hợp giữa huy động vốn và khả năng trả nợ. Nếu như huy động vốn với
2.1. Tình hình nợ nước ngoài của Việt nam.
Chúng ta sẽ xem xét nợ nước ngoài của Việt Nam trên ba khía cạnh là: Quy
mô, cơ cấu và lãi suất.
2.1.1.Quy mô nợ nước ngoài của Việt nam.
Đến năm 2006, tổng dư nợ nước ngoài của Việt Nam bằng 31.4% GDP giảm
so với các năm trước đó và chiếm 52% tổng kim ngạch xuất khẩu và khoảng gần 2
lần dự trữ ngoại hối. Năm 2007, tổng nợ tính là 32.5% GDP, chiếm 51% kim ngạch
xuất khẩu.
Theo Bản tin nợ nước ngoài - Bộ Tài chính, đến 31/12/2009, tổng nợ nước
ngoài của Việt Nam (gồm nợ nước ngoài của Chính phủ và nợ do Chính phủ bảo
lãnh) là 27,929 tỷ USD, tương đương với khoảng 479,5 nghìn tỷ đồng; trong đó, nợ
nước ngoài của Chính phủ là trên 23,9 tỷ USD. Đến 31/12/2010, tổng nợ nước
ngoài của Việt Nam lên tới hơn 32,5 tỷ USD, chiếm 42,2% GDP (so với mức 38,8%
GDP mà Chính phủ dự kiến hồi cuối năm 2010) và tăng 4,6 tỷ USD so năm 2009,
đạt mức nợ cao nhất kể từ năm 2005; trong đó, 62% là nợ nước ngoài của Chính
phủ, 38% là nợ nước ngoài của doanh nghiệp. Đối với nợ của Chính phủ, 93% nợ là
vốn ODA và nợ ưu đãi (trong đó 74% là vốn ODA). Đây là các khoản nợ dài hạn và
có lãi suất thấp,chủ yếu có lãi suất cố định từ 1 - 2,99%/năm.
Bản tin số 1 về nợ công của Việt nam giai đoạn 2010-2011 do Bộ Tài chính
công khai tháng 12/2012 cho hay, nợ công của 2 năm 2010 và 2011 tương đương
56,3% va 54,9% GDP, vẫn nằm trong tầm kiểm soát.
Bản tin cho hay, nợ nước ngoài tương đương 42,2% GDP năm 2010 và
41,5%GDP năm 2011. Dư nợ chính phủ so với GDP là 44,6% GDP năm 2010 và
43,2% GDP năm 2011. Nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ so với thu ngân sách năm
2010 là 17,6% và năm 2011 là 15,6%. Như vậy, có thể thấy rằng cả nợ công cũng
như nợ nước ngoài ở Việt nam vẫn nằm trong giới hạn an toàn.
2.1.2.Cơ cấu nợ nước ngoài:
Cơ cấu nợ nước ngoài theo nhóm người đi vay:
Cơ cấu nợ của Việt Nam năm 2006-2012 gồm nợ chính phủ chiếm
78,1%, còn lại là nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương.
Đề án môn học GVHD:
Nợ ngắn hạn chiếm từ 4% - 11% trong thời kỳ trước năm 2000, còn kể từ năm 2001
đến nay, tỷ lệ nợ ngắn hạn tụt xuống còn dưới 2%, tổng nợ tích lũy hàng năm.
Có thể thấy rằng, hiện tại với cơ cấu vay nợ chủ yếu là trung và dài hạn thì Việt
Nam chưa phải trả các khoản nợ lớn nhưng cũng cần phải xem xét, xây dựng phương
án trả nợ hợp lý để tránh khỏi rủi ro tài chính do vay nợ gây ra.
2.1.3. Lãi suất vay nợ nước ngoài của Việt nam
Sang năm 2010, vay nợ với lãi suất thấp 1 - 2,99%/năm chiếm khoảng 65,5%
tổng dư nợ. Đặc biệt, các khoản vay có lãi suất cao từ 6 - 10%/ năm trong năm 2010
cũng đã lên tới 1,89 tỷ USD, gấp hơn 2 lần năm 2009. Hiện các chủ nợ chính của
Việt Nam vẫn là Nhật Bản, Pháp, ADB, WB Các chủ nợ này đã nâng lượng nắm
giữ trái phiếu Chính phủ Việt Nam lên hơn 2 tỷ USD trong năm 2010 (so với con số
hơn 1 tỷ USD của năm 2009).
Theo Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, lãi suất trung bình nợ nước
ngoài của Chính phủ đã tăng từ 1,54%/năm vào năm 2006 lên 1,9%/năm trong năm
2009 và năm 2010 đạt tới 2,1%/năm.
2.2. Tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế ở Việt nam
Trong chương 1, bài nghiên cứu đã trình bày những điểm cơ bản nhất về lý
thuyết “ debt overhang” mô phỏng dưới dạng đồ thị đường cong Laffer nợ để
phân tích mối liên hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế.
Trong nghiên cứu này tác giả tập trung phân tích tìm ngưỡng nợ nước ngoài
thông qua mô phỏng đường cong Laffer nợ và đo lường mức độ tác động của tỷ lệ
nợ nước ngoài trên GDP đến GDP thực của Việt Nam trong suốt giai đoạn năm
1986-2009. Nghiên cứu sử dụng mô hình định lượng tương tự như Tokunbo và
cộng sự (2007) khi đo lường mối quan hệ nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế
Nigeria. Tác giả sử dụng số liệu của Ngân hàng Thế giới để thực hiện mô hình. Đầu
tiên nghiên cứu thực hiện mô phỏng đường cong Laffer nợ với sự hỗ trợ của phần
mềm SPSS (Statistical Package for the Social Sciences). Đường cong Laffer nợ
trong trường hợp này thể hiện mối quan hệ phi tuyến dạng phương trình bậc hai
giữa tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP với GDP. Đỉnh của đường cong chính là tỷ lệ nợ
cứu mong đợi α2> 0, α3<0. Độ mở nền kinh tế gia tăng sẽ tác động tích cực đếng
GDP nên hệ số tương quan α4>0.
SV: Lớp:
16
Đề án môn học GVHD:
Biểu đồ 2.1: Mô phỏng đường cong Laffer nợ của Việt Nam
Kết quả thực nghiệm
Đường cong Laffer nợ
và giá trị ngưỡng nợ.
Như đã trình bày nghiên cứu sử dụng hàm phi tuyến dạng đường cong phương
trình bậc hai để mô phỏng đường cong Laffer nợ. Để vẽ được đường cong này
nghiên cứu sử dụng phần mềm thống kê SPSS để vẽ đường cong theo các điểm
phân tán của biến GDP. Đường cong được tìm thấy như Hình 2. Đỉnh của đường
cong được
xác định với giá trị bằng 65%; đây chính là ngưỡng nợ nước ngoài mà nghiên
cứu cần tìm.
Kiểm định giả thuyết về ý nghĩa các hệ số hồi quy trong mô hình (2)
Kiểm định hệ số hồi quy β1
Giả thuyết H0 : α1= 0 (Y không có quan hệ tuyến tính với П)
Giả thuyết H1 : α1≠ 0 (Y có quan hệ tuyến tính với П)
Với mức ý nghĩa α = 5%, số biến quan sát sau điều chỉnh n = 22 nên bậc tự do
d.f = 21. Từ Excel với hàm TINV(α,d.f) ta xác định giá trị t-crit = 2,0796.
Xét giá trị tuyệt đối của thống kê t tương ứng với α1 là 4,2491 lớn hơn giá trị
tuyệt đối t-crit nên bác bỏ giả thuyết H0, nghĩa là với mức ý nghĩa α = 5% tồn tại
khả năng α1≠ 0.
Thực hiện kiểm định tương tự cho các biến còn lại, cũng với mức ý nghĩa α =
5% nghiên cứu bác bỏ giả thuyết α2= 0, α3= 0.
SV: Lớp:
17
nhiệm thống nhất quản lý nhà nước về vay trả nợ của Chính phủ, vay trả nợ nước
ngoài của quốc gia và xây dựng chiến lược, kế hoạch vay trả nợ trong nước, ngoài
nước. Năm 2003, Bộ Tài chính có Quyết định về việc tổ chức lại Vụ Tài chính đối
ngoại và Ban quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế - những đơn vị chủ chốt giúp
việc cho Bộ trong công tác lập kế hoạch, theo dõi và quản lý nợ nước ngoài. Nghị
định số 134 (2005) của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế quản lý vay và trả nợ
nước ngoài thay thế cho Nghị định 90 (1998). Tiếp đó, một loạt các Quy chế và
SV: Lớp:
18
Đề án môn học GVHD:
Quyết định mới được ban hành năm 2006 chứng tỏ quyết tâm thể chế hóa các lĩnh
vực quản lý nợ nước ngoài để tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước toàn diện
trong lĩnh vực này như: Văn bản quy định về các quy chế thu thập, báo cáo, tổng
hợp, chia sẻ và công bố thông tin về nợ nước ngoài ban hành tháng 10 năm 2006;
Quy chế cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ đối với các khoản vay nước ngoài ban
hành tháng 11 năm 2006; Quyết định của Bộ trưởng Tài chính ban hành quy chế
lập, sử dụng và quản lý Quỹ tích lũy trả nợ nước ngoài vào tháng 10 năm 2006. Các
cố gắng này cho thấy một hệ thống lập kế hoạch và quản lý nợ nước ngoài với
nhiều đổi mới đang dần được hình thành.
2.3.2. Nội dung quản lý nợ nước ngoài
Trong các văn bản pháp quy, nội dung quản lý nợ nước ngoài được đề cập
khá chi tiết. Sau đây là một số nội dung về quản lý nợ nước ngoài được đề cập
trong Nghị định số 134 (2005) của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế quản lý vay và
trả nợ nước ngoài và Quyết định 958 (2012) của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt
chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của Quốc gia giai đoạn 2011-2020 và tầm
nhìn đến năm 2030:
Chính phủ thống nhất quản lý toàn diện nợ nước ngoài của quốc gia, từ việc
huy động, tiếp nhận, phân bổ sử dụng, quản lý, theo dõi và giám sát bằng các công
cụ sau:
• Chiến lược nợ dài hạn, Chương trình quản lý nợ trung hạn và Kế hoạch
Tình hình thực hiện vay và trả nợ nước ngoài hàng năm của quốc gia,
phân tích thực trạng nợ quốc gia theo các chuẩn mực quốc tế, đánh giá rủi ro và
mức độ các nghĩa vụ nợ dự phòng của ngân sách nhà nước;
Kế hoạch rút vốn vay và trả nợ nước ngoài của khu vực công, bao gồm:
nợ Chính phủ, nợ của các doanh nghiệp, tổ chức thuộc khu vực công;
Tổng hạn mức vay thương mại nước ngoài của quốc gia, bao gồm hạn
mức vay nước ngoài của khu vực công và dự báo mức vay nước ngoài của khu vực
• Các chính sách, chế độ phù hợp và phân công trách nhiệm quản lý giữa
các cơ quan quản lý nhà nước:
Bộ Tài chính, cơ quan đầu mối của Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà
nước về vay và trả nợ nước ngoài của quốc gia, có trách nhiệm:
Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quản lý
nợ trung hạn, Kế hoạch hàng năm về vay và trả nợ nước ngoài trên cơ sở tổng hợp
kế hoạch vay và trả nợ nước ngoài của Chính phủ, của các tổ chức thuộc khu vực
công và tổng hạn mức vay thương mại nước ngoài của quốc gia;
Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng, trình Thủ tướng
Chính phủ quyết định đề án huy động và kế hoạch sử dụng vốn vay thương mại
nước ngoài của Chính phủ khi Chính phủ có nhu cầu vay thương mại nước ngoài;
Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ thống các chỉ tiêu
giám sát nợ quốc gia, quy trình thu thập, báo cáo, tổng hợp, chia sẻ và công bố
thông tin về nợ nước ngoài;
SV: Lớp:
20