MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế là vấn đề được quan tâm hàng đầu
của các quốc gia hiện nay. Hai vấn đề này không đồng nhất với nhau nhưng có
mối quan hệ chặt chẽ, tăng trưởng kinh tế là 1 trong những nhân tố để đánh giá
phát triển kinh tế. Trong lịch sử kinh tế học, tăng trưởng kinh tế là vấn đề được
nghiên cứu nhiều nhất, theo dòng thời gian, từ trường phái cổ điển, tân cổ điển,
phái Keynes và lý thuyết hiện đại, các mô hình về tăng trưởng kinh tế đã có sự
thay đổi lớn lao, từ các quan điểm về sự vận động của nền kinh tế, vai trò của
Chính phủ cho đến việc xác định các yếu tố chủ yếu tác động đến tăng trưởng
kinh tế và việc lượng hoá các tác động của chúng. Với đề tài” Phân tích quá
trình thay đổi trong quan niệm về các yếu tố nguồn lực trong tăng trưởng
kinh tế và vai trò của các yếu tố nguồn lực trong tăng trưởng kinh tế Việt
Nam”, em xin đưa ra một số bình luận về tính kế thừa và sự tiến bộ trong quan
điểm về vai trò của các yếu tố nguồn lực tác động đến tăng trưởng kinh tế theo
các mô hình tăng trưởng kinh tế đại diện cho các trường phái kinh tế.
1
PHẦN 1: CÁC MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
I.Mô hình tăng truưởng kinh tế D.Ricardo
1. Xuất phát điểm của mô hình
Trường phái cổ điển với mô hình tăng trưởng của David Ricardo
Trường phái cổ điển xuất hiện vào những năm đầu của thế kỉ XIX với hai đại
diện tiêu biểu là Adam Smith và David Ricardo.
Adam Smith (1723-1790) ông được coi là người sáng lập ra kinh tế học
với tác phẩm tiêu biểu la “của cải của đất nước”,theo ông chính lao động được
sử dụng trong những hoạt động có ích, có hiệu quả là nguồn gốc tạo ra giá trị
của xã hội. Số công nhân “hữu ích và hiệu quả” cũng như năng suất lao động
của họ phụ thuộc vào lượng tư bản tích lũy. Adam Smith coi sự gia tăng tư bản
là yếu tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế. Ông đưa ra hai học thuyết cơ bản:
- Học thuyết về “Giá trị lao động” : ông cho rằng lao động là nguồn gốc
cơ bản tạo ra mọi của cải cho đất nước.
Như vậy, khi chưa đến điểm dừng Ro thì R là yếu tố quyết định tăng trưởng, khi
đạt điểm dừng Ro thì tích lũy cho khu vực công nghiệp mới là yếu tố quyết định
tăng trưởng.
Ý tưởng về một mô hình hai khu vực kinh tế cổ điển: để có sự tăng
trưởng liên tục kể cả khi nông nghiệp đã khai thác đến R
0,
là sự hình thành 2 khu
vực kinh tế.
Khu vực truyền thống (NN) Khu vực hiện đại (CN)
- Khu vực trì trệ tuyệt đối
(MP
L
=0)
- Có dư thừa lao động
- Không đầu tư
- Có lợi thế nhờ quy mô
- Giải quyết lao dộng dư thừa cho
NN
- Tăng cường quy mô đầu tư
Như vậy lý luận của Ricardo là : tăng trưởng là hàm của tích lũy, tích lũy là
hàm của lợi nhuận,lợi nhuận lại phụ thuộc vào chi phí sản xuất lương thực, chi
phí sản xuất lương thực phụ thuộc vào đất đai. Do đó đất đai là giới hạn đối với
sự tăng trưởng.
3. Phê phán quan điểm của Ricardo
3
Sự phủ nhận vai trò của yếu tố công nghệ, đã đưa đến những quyết định
không chính xác, gọi là” cạm bẫy Ricardo”: Số và chất lượng ruộng đất có điểm
dừng, nnong nghiệp luôn có dư thừa lao động và trì trệ tuyệt đối; không đầu tư
cho nông nghiệp khi ở đây nằm trong tình trạng lợi ích biên bằng 0, tăng trưởng
kinh tế chỉ đạt được nhờ kết quả tích lũy và đàu tư cho công nghiệp; khi đầu tư
trong hàm sản xuất của Harrod- Domar:
Y=F(K,L,R)
Trong đó L và R được xem là các yếu tố nguồn lực được huy động vào
hoạt động trên cơ sở khả năng tạo ra sự gia tăng(K) của nền kinh tế.
- Vai trò của yếu tố vốn trong mô hình Harrod- Domar
Mối quan hệ giữa ΔK và ΔY - Hệ số gia tăng vốn - sản lượng (ICOR-
Incremetal capital output ratio):
k
t
(ICOR) = ΔK
t
/ΔY
t
= I
t-1
/ ΔY
t
Hệ số ICOR là mức vốn đầu tư cần thiết của giai đoạn trước đểcó thêm một
đơn vị thu nhập (GDP) của giai đoạn sau. Hệ số này nói lên vốn được tạo nên
bằng đầu tư là yếu tố cơ bản tạo nên mức tăng trưởng , hệ số ICOR phản ánh
trình độ kỹ thuật của sản xuất, năng lực của vốn đầu tư à hiệu quả sử dụng vốn
đầu tư. Hệ số ICOR chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: Tính chất công nghệ kỹ
thuật của vốn sản xuất, nếu trình độ kỹ thuật của sản xuất thô sơ, sử dụng công
nghệ thủ công, sử dụng nhiều lao động thì hệ số ICOR nhỏ và ngược lại; mức độ
khan hiếm nguồn lực, nếu nguồn lực càng khan hiếm, thì chi phí cho đầu tư cao
hơn, làm cho hệ số ICOR càng cao; hiệu quả quản lý và sử dụng vốn.
Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng với tỷ lệ tiết kiệm:
Nếu gọi thu nhập của nền kinh tế(GDP) là Y, tốc độ tăng trưởng thu nhập
là g, thì:
g
t-1
/ (k
t
x Y
t-1
)
s là tỷ lệ tích luỹ trong GDP và mức tích luỹ là S:
s = S/Y
Do đó chúng ta có:
g
t
= s
t-1
/k
t
Như vậy, bằng việc mô tả dưới dạng công thức, phương trình Harrod-
Domar đã xây dựng mối liên kết chắc chắn giữa tốc độ tăng trưởng của nền kinh
5
tế với hai biến cơ bản: khả năng tiết kiệm của nền kinh tế và hệ số gia tăng vốn-
sản lượng. Bằng cách đẩy mạnh tỉ lệ tiết kiệm thì sẽ có thể đẩy nhanh tỷ lệ tăng
trưởng, hạ thấp hệ số vốn- sản lượng thì tăng trưởng cũng được thúc đẩy nhanh.
Kết luận của Harrod – Domar: Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa
tốc đọ tăng trưởng với tiết kiệm và hệ số gia tăng vốn- snar lương, Harrod-
Domar đã đưa ra khái niệm về tốc độ tằn trưởng có ý nghĩa với nền kinh tế. Tốc
độ tăng trưởng luôn phụ thuộc vào tiết kiệm và hệ số ICOR, tồn tại 3 trạng thái
tốc độ tăng trưởng khác nhau:
-Tốc độ tăng trưởng bảo đảm : gw = s/k (dự kiến)
- Tốc dộ tăng trưởng thực tế: gr = s/k (thực tế)
- Tốc độ tăng trưởng tự nhiện (gf)
= I/S
Hệ số trễ của vốn đầu tư (μ
i
): phần vốn đầu tư chưa trở thành vốn sản xuất
gia tăng
6
μ
i
= ΔK/I
Trên thực tế: s trong công thức trên được điều chỉnh thành:
s
0
(điều chỉnh) = s
0
x μ
s
x(1-
μ
i
)
Tốc độ tăng trưởng kế hoạch được xác định:
g
k
= [s
0
x μ
s
x(1-
0
(n/ c) > s
0
(k/n): Đây là trường hợp
khá phổ biến đối với các nước phát triển do nhu cầu vốn cao hơn khả năng tích
lũy. Các nhà hoạch định đề xuất các giải pháp huy động thêm nguồn vốn tiết
kiệm.(ii) Nếu s
0
(n/ c) < s
0
(k/n): Đây là trường hợp dư thừa vốn đầu tư so với
nhu cầu. Các nhà hoạch định có thể đề xuất các giải pháp khác nhau như: nâng
mục đích tăng trưởng lên so với ban đầu, tham gia vốn đầu tư nước ngoài…
3.3 Sử dụng chính sách điều tiết vĩ mô thực hiện kế hoạch tăng trưởng
Kế hoạch tăng trưởng kinh tế được xác lập trên cơ sở tiết kiệm dự kiến và
hệ số ICOR dự kiến như trình bày ở trên, Harros- Domar gọi đó là tăng trưởng
bảo đảm. Tuy vậy, trên thực tế, kế hoạch trên có thể không thực hiện được do
bản thân các yếu tố cấu thành tổng cầu luôn có xu hướng biến đổi. Cụ thể có thể
xảy ra 2 trường hợp: (i) Nếu tổng cầu tăng lên, tác nhà snar xuất sẽ tăng cường
hoạt động của máy móc, thiệt bị ầu tăng mức dự kiến, như vậy hệ số ICOR sẽ
giảm xuống so với ICOR dự kiến. Mặt khác, do cầu tăng lên nên trong thời kỳ
tiếp theo các nhà sản xuất lại tăng đầu tư của mình dẫn đến hệ số ICOR lại tiếp
tục hạ xuống. Cứ như thế nếu nền kinh tế chệch khỏi trạng thái tăng trưởng ổn
định thì nó ngày càng xa rời trạng thái đó và nền kinh tế sẽ rơi vào con đương
tăng trưởng bùng nổ.(ii) hợp ngược lại khi tổng cầu giảm, đầu tư sẽ giảm đi và
cuối cùng trở thành giá trị âm do đầu tư không đỉ bù đắp phần hao mòn vốn cố
định đã được trang bị, nền kinh tế sẽ đi vào thời kỳ suy thoái ngày càng trầm
7
trọng, thất nghiệp kéo dài các yếu tố nguồn lực bị lãng phí tăng trưởng thực tế
nhỏ hơn tăng trưởng bảo đảm.
là khi quy mô tài sản hữu hình lớn đến một mức nào đó, thì đầu tư không dẫn
đến gia tăng mức sản lượng của nền kinh tế.
2. Vai trò của các yếu tố nguồn lực
8
2.1 Các yếu tố trực tiếp tác động đến tăng trưởng:
Theo Solow hoạt động sản xuất trong nền kinh tế là sự kết hợp các yếu tố
vốn(K), lao động(L) và kỹ thuật công nghệ(T). Hàm sản xuất của Solow: Y = F(
K,L,T):
Trong đó T tạo nên hiệu quả của lao động (E); hiệu quả lao động phản ánh
trình độ công nghệ của xã hội. E và L luôn đi đôi với nhau, LxE được gọi là số
lao động hiêu quả.
Hàm sản xuất của Solow cụ thể: Y(t) = F(K, ExL).
9
2.2 Vai trò của các yếu tố tác động đến tăng trưởng:
2.2.1 Tiết kiệm và đầu tư với tăng trưởng:
- Để xem xét vai trò của tiết kiện, Solow đã sử dụng dạng hàm tổng sản
xuất Cobb-Douglas giản đơn:
Y= K
α
L
1-α
Chia hai vế cho L để có được một dạng hàm sản xuất mới:
y = k
α
.
- Từ mô hình Harrod-Domar: S =I = sxY suy ra i = s.y
Δk= i – б.k
Ta có từ 3 phương trình trên: Δk = i –бk = sk
α
11
Trường hợp tốc độ tăng trưởng dân số tăng
Ta có sơ đồ
nếu n tăng lên từ n
1
đến n
2
thì k
*
1
xuống còn k
*
2
như vậy, theo Solow, các
nước có tốc độ tăng dân số cao sẽ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp
2.2.3 Tiến bộ công nghệ với tăng trưởng
Hàm sản xuất có yếu tố công nghệ:
Y = K
α
(LxE)
1-α
E là biến mới gọi là hiệu qủa lao động
LxE số công nhân hiệu quả
Nếu E tăng với tốc độ g, L tăng với tốc độ n
→ LxE tăng với tốc độ là (g+n)
Chia cả 2 vế cho (LxE) ta vẫn có: y = k
α
Sự thay đổi của của mức vốn trên mỗi công nhân hiệu quả: Δk = i – (б + n
+ g)k
3.3 Chính sách khuyến khích tiến bộ công nghệ:
- Hỗ trợ hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ
- Trực tiếp đầu tư nghiên cứu và triển khai công nghệ cao
- Khuyến khích nghiên cứu thông qua hệ thống bản quyền và quyền lợi của
người có bản quyền.
4. Hạn chế của mô hình Solow
Solow đã nhấn mạnh đến vai trò quyết định của yếu tố tiến bộ công nghệ
đến tăng trưởng GDP và GDP/người nhưng lại cho rằng tiến bộ công nghệ là
yếu tố ngoại sinh và không giải thích được nó. Điều này dẫn đến 3 hạn chế lớn:
+ Nếu không có cú sốc công nghệ từ bên ngoài vào thì tất cả các nền kinh
tế đều không có tăng trưởng khi đạt tới điểm dừng
+ Mọi sự gia tăng GDP nếu không phải là do Vốn và lao động đều là do
công nghệ “số dư Solow” (trên 50%)
+ Phủ nhận vai trò của các chính sách Chính phủ và các quyết định của các
chủ thể kinh tế
13
IV. Các mô hình tăng trưởng nội sinh
1. Xuất phát điểm của các mô hình
Mô hình Solow bất lực trong giải thích các hiện tượng tăng trưởng kinh tế
của nhiều nước nhất là các nước đang phát triển. Bỏ qua quy luật lợi tức giảm
dần theo quy mô: phân chia vốn làm 2 loại: Vốn hữu hình và vốn nhân lực. Vốn
nhân lực hình thành trong quá trình học tập, đào tạo, và từ kinh nghiệm thực
tiễn. Vốn nhân lực không chịu sự chi phối bởi quy luật lợi tức giảm. Quan điểm
của trường phái hiện đại về vai trò của chính phủ trong tăng trưởng.
2. Các yếu tố nguồn lực trong tăng trưởng
2.1 Các yếu tố trong hàm sản xuất
Cũng như mô hình Solow, các yếu tố trong hàm sản xuất của mô hình nội
siinh cũng bao gồm vốn, lao động và công nghệ, kỹ thuật. Hàm sản xuất nói
chung: Y = F( K, L, E)
E – hiệu quả lao động không phải chỉ là yếu tố công nghệ (như Solow) mà
K
= ΔK/K = (sY – бK)/K = (sAK – бK)/K = sA – б
sA> б, g luôn >0
sA> б thì g luôn >0 (có tăng trưởng vĩnh viễn cho dù không có tiến bộ công
nghệ)→ tiết kiệm và đầu tư dẫn đến tăng trưởng vĩnh viễn
14
Lý do: coi A là hằng số (không đổi) bởi vì K bao gồm cả vốn nhân lực –
không theo quy luật lợi tức giảm dần, thậm chí còn có thể tăng lên.
2.2.2.Mô hình Lucas đơn giản – mô hình tăng trưởng hai khu vực
Mô hình Lucas chia nền kinh tế làm 2 khu vực: (i)Khu vực sản xuất hàng
hoá, bao gồm các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá và được sử dụng trong tiêu
dùng cá nhân và đầu tư vào vốn sản xuất. (ii)Khu vực giáo dục, bao gồm các
trường đại học sản xuất kiến thức sử dụng cho cả hai khu vực. Nền kinh tế được
mô tả bằng 2 hàm sản xuất: của khu vực sản xuất và khu vực các trường đại học
và phương trình tích luỹ vốn.
Gọi: u là tỷ lệ lao động của khu vực giáo dục
1-u là tỷ lệ lao động khu vực sản xuất.
E là lượng kiến thức (quyết định hiệu quả lao động)
K là vốn tích luỹ của khu vực sản xuất
(1 – u)LE là hiệu qủa tích luỹ của khu vực giáo dục thể hiện ở số lao
động hiệu quả của khu vực sản xuất
g(u) là tốc độ tăng trưởng lao động khu vực giáo dục
s là tỷ lệ tiết kiệm và б là tỷ lệ khấu hao
Từ gogic trên, có các phương trình liên quan đến tăng trưởng:
Y = K
α
[(1 –u)EL]
1-α
Hàm sản xuất của các doanh nghiệp
ΔE = g(u)E Hàm sản xuất của các trường đại học
kinh tế quan trọng nhất, đây là thời kỳ bùng nổ dân sồ trên thế giới, vì vậy mà
vai trò của nông nghiệp được đánh giá là không thể thiếu, có lẽ vì thế mà tất cả
mọi thứ đều do nông nghiệp quyết định, tăng trưởng kinh tế cũng không nằm
ngoài quy luật đó. Theo Ricacdo, trong các nhân tố: vồn (K), lao động (L) và đất
đai (R) thì yếu tố R là yếu tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế, R chính là giới
hạn của tăng trưởng. Chúng ta có thể nhận thấy, trong mô hình của Ricacdo
thiếu vắng vai trò của yếu tố công nghệ (T), điều này cũng dễ lí giải, bởi lẽ thời
kỳ này, khoa học công nghệ chưa phát triển, vì vậy ít có đóng góp đến sản xuất
kinh tế. Phái tiếp theo nghiên cứu đến tăng trưởng kinh tế là phái Keyness, với
đại diện là Harrod – Domar. Mô hình tăng trưởng của Harrod – domar được đưa
ra trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế xảy ra trầm trọng trên thế giới dẫn đến
tình trạng thất nghiệp liên miên, theo lý luận của phái Keyness sản xuất luôn
luôn cân bằng ở dưới mức sản lượng tiềm năng và do dó luôn luôn tồn tại một
khoảng suy thoái rY. Cần phải tác động làm tăng tổng cầu để giảm khoảng rY
và thúc đẩy đầu tư là biện pháp kích cầu tốt nhất. nhưng tiết kiệm là nguồn gốc
của đầu tư, do dó, theo Harrod – Domar thì chính tiết kiệm là yếu tố tạo nên tăng
trưởng kinh tế. Đến thời Solow (đại diện của kinh tế học tân cổ điển) là điểm
đánh dấu cho sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, Solow đã đưa ra các
lập luận phản bác lại Harrod – Domar và cho rằng không phải tiết kiệm mà
17
chính là công nghệ (T) mới là yếu tố quyết định đến tăng trưởng. Và gần đây
nhất là sự ra đời của lý thuyết tăng trưởng hiện đại với đại diện là Samuelson,
chính sự xuất hiện của các nền kinh tế hỗn hợp trên thế giới đã tạo tiền đề cho
nghiên cứu của Samuelson đưa ra các kết luận chung nhất về vai trò của toàn bộ
các yếu tố nguồn lực tác động đến tăng trưởng kinh tế.
Các mô hình kinh tế sau có sự kế thừa và hoàn thiện các yếu tố của mô
hình kinh tế trước. Như Ricacdo và Harrod – Domar đều có yếu tố T nhưng sự
khác biệt ở đây đó là theo Ricacdo T không có tác động gì đến tăng trưởng còn
Harrod – Domar có đưa vai trò của T vào quá trình tăng trưởng, nhưng do ông
nghiên cứu trong ngắn hạn vì vậy ông đã cố định T và không đưa T vào hàm sản
động đến tăng trưởng đó là đặt thêm yếu tố T vào hàm sản xuất. Theo ông do có
công nghệ nên hệ số kết hợp hiệu quả giữa vốn và lao động là không cố định, có
nhiều cách kết hợp các yếu tố đó để có được mức chi phí thấp nhất. Yếu tố công
nghệ là yếu tố quyết định đến tăng trưởng trong dài hạn, các yếu tố khác chỉ
đóng vai trò trong ngắn hạn. Solow phản lại quan điểm của Harrod – Domar,
theo ông ngay cả không có đầu tư thì vẫn có tăng trưởng nếu biết cách tận dụng
hiệu quả tất cả các yếu tố ban đầu. Và ngay cả khi đầu tư hiệu quả vẫn không có
tăng trưởng (khi đầu tư chỉ đủ bù đắp cho khấu hao) và khi đó nền kinh tế đạt tới
điểm dừng. Mô hình tăng trưởng hiện đại tuy không đưa thêm yếu tố nào mới
vào trong phân tích tăng trưởng nhưng việc hoàn thiện các yếu tố K, L và đặc
biệt là yếu tố TFP là một thành công lớn của mô hình này.
II. vai trò của các yếu tố nguồn lực trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam
hiện nay
Có thể nhận thấy rằng, theo thời gian các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế
ngày càng hoàn thiện hơn, đóng góp lớn cho quá trình tăng trưởng và phát triển
kinh tế của các nước dựa trên đặc điểm các yếu tố nguồn lực riêng. Vậy hiện
nay, Việt Nam đang sử dụng các yếu tố nguồn lực như: vốn, lao động, công
nghệ như thế nào?
Ngay sau khi giành độc lập nước ta chọn con đường công nghiệp hoá để
xây dựng 1 nền kinh tế độc lập, tự chủ thực sự. Quan điểm “tự lực cánh sinh
19
truyền thống” đã không phát huy được hiệu quả mà còn làm tiêu tan lợi thế đáng
được hưởng do sự phân công lao động quốc tế mang lại. Tuy nhiên trong bối
cảnh quốc tế mới, việc chuyển sang chính sách công nghiệp hoá theo hướng xuất
khẩu đã mang lại lợi thế cho nước ta đẩy mạnh tăng trưởng trên cơ sở tận dụng
những lợi thế so sánh của mình.
Đi lên từ 1 nước công nghiệp lạc hậu, nền sản xuất hàng hoá giản đơn nên
việc tạo vốn cho tăng trưởng nhanh là vấn đề gay gấn đối với nước ta. Xuất phát
điểm thấp nên tích trữ tư bản thấp không đủ cho đầu tư phát triển nhanh chóng
nền công nghiệp còn non trẻ. Vào những năm gần đây với những nỗ lực không
ta chỉ mới bước đầu tiếp cận các tiến bộ khoa học ấy, công nghệ giữa nước ta và
nước phát triển vẫn là 1 khoảng cách dài, bài toán đặt ra là thu hẹp khoảng cách
này. Nước ta nên tận dụng lợi thế của nước đi sau , thông qua nhập khẩu đầu tư
trực tiếp nước ngoài để thu hút công nghệ tiên tiến của thế giới và sau đó thông
qua quá trình sản xuất chuyển hoá thành công nghệ của mình để cuối cùng tự
phát minh ra công nghệ mới rồi đưa vào sản xuất cho xuất khẩu. Tuy nhiên trên
thực tế quá trình tiếp thu công nghệ cao của nước ta vẫn khá chậm, vì vậy sản
phẩm xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm thô, sơ chế hoặc mới chỉ được sơ chế bước
đầu nên giá trị sản phẩm chưa cao, hạn chế cho quá trình tăng trưởng. Quá trình
tăng trưởng ở nước ta chủ yếu là dựa vào khai thác các nguồn nguyên liệu tự
nhiên nên tăng trưởng không bền vững, cần thực hiện nghiên cứu và áp dụng
tiến bộ công nghệ để khai thác hiệu quả hơn nữa các tiềm năng tự nhiên vốn có,
nước ta cũng cần trang bị cho mình những yếu tố cần thiết để có thể tiếp thu tốt
công nghệ được chuyển giao từ nước ngoài.
Có thể nhận thấy rằng tăng trưởng của nước ta trong thời gian qua là khá
cao( trung bình là 7,56% từ năm 1991 đến năm 2008) nhưng theo nhận định của
1 số chuyên gia thì tăng trưởng của nước ta chưa thực sự ổn định và bền vững.
Tăng trưởng có xu hướng dựa ngày càng nhiều vào tăng vốn đầu tư và ngành
công nghiệp chế biến, ít tạo ra việc làm và hiệu quả chưa cao. Đóng góp của
năng suất lao động vào tăng trưởng còn thấp. Tăng trưởng chủ yếu dựa vào xuất
khẩu, nhất là các mặt hàng thô: nông sản, khoáng sản và sơ chế. Đáng chú ý là
tăng trưởng nhanh lại đi đôi với tăng ô nhiễm môi trường và những ngành làm
21
tăng ô nhiễm môi trường lại là những ngành tạo ra nhiều công ăn việc làm và là
đàu tầu tăng trưởng của cả nước. Tăng trưởng nước ta dựa vào khai thác tài
nguyên nhưng chưa tạo được các lợi thế cạnh tranh, động lực của tăng trưởng và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế là các ngành gia công, chế biến có chi phí trung gian
cao, lệ thuộc vào nhập khẩu…Hơn nữa hiệu quả đầu tư thấp, hệ số ICOR ngày
càng cao, đầu tư mất cân đối, đầu tư cho con người và công nghệ còn thấp. Hiệu