A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Giải quyết tốt các vấn đề xã hội là một trong những chủ trương, giải pháp lớn
nhằm phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới. Những vấn đề xã
hội Đảng ta quan tâm bao gồm các lĩnh vực liên quan đến sự phát triển của con người
và xã hội như: dân số và nguồn nhân lực, lao động và việc làm, giáo dục và y tế, đạo
đức và văn hoá, những đảm bảo về an ninh và an toàn xã hội của đời sống cá nhân và
cộng đồng.
Các vấn đề xã hội có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, do vị trí của con
người trong xã hội quy định. Song, do địa vị của con người ở mỗi chế độ xã hội khác
nhau là không giống nhau, cho nên vai trò, bản chất của các vấn đề xã hội cũng khác
nhau. Trong chủ nghĩa tư bản, nhân dân lao động là người làm thuê, mục tiêu của chủ
nghĩa tư bản là tăng lợi nhuận, duy trì sự thống trị của giai cấp tư sản. Để đạt tới mục
tiêu đã được xác định, chủ nghĩa tư bản đã có nhiều chủ trương, giải pháp về các vấn
đề xã hội, trong đó có những mặt tiến bộ như coi trọng giảm nhẹ sự bất bình đẳng
trong xã hội cũng như tìm cách giảm căng thẳng trong xã hội.
Tuy nhiên, những mặt tiến bộ ấy không bền vững vì mâu thuẫn cơ bản của chủ
nghĩa tư bản là xã hội hoá của sản xuất và chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất vẫn
còn tồn tại. Trong chủ nghĩa xã hội, nhân dân lao động là người làm chủ, con người
được coi là vốn quý nhất, mục tiêu phục vụ của chủ nghĩa xã hội là nâng cao chất
lượng cuộc sống cho con người. Do vậy, nhà nước xã hội chủ nghĩa luôn tạo ra những
khả năng khách quan để thủ tiêu tình trạng người bóc lột người, cải thiện không ngừng
các điều kiện sống, tạo ra các tiền đề cho sự phát triển của cá nhân, của người lao động
để họ tự giác tham gia có hiệu quả các hoạt động sống, cũng như xây dựng một xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là xã
hội vì con người, đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển kinh tế, văn hoá,
xã hội và lấy việc nâng cao chất lượng cuộc sống con người làm mục tiêu phục vụ.
Đảng ta luôn nhấn mạnh phát triển kinh tế phải đi liền với việc giải quyết tốt các vấn
đề xã hội. Phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa lại càng đòi hỏi phải
giải quyết tốt những vấn đề xã hội, bởi lẽ phát triển kinh tế phải là sự phát triển bền
vững dựa trên những yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường vững
chắc…. Bền vững về mặt xã hội là bảo đảm vừa đạt được tăng trưởng kinh tế, vừa giữ
của rất nhiều người.Một điều rõ ràng là, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta, khi thực tiễn đất nước nảy sinh hàng loạt vấn đề cần được giải đáp về mặt lý
luận, Đảng ta đã luôn luôn đứng trên lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ
nghĩa Mác-Lênin để tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn và đưa ra được đường lối,
chủ trương, chính sách cùng với bước đi và cách làm cụ thể phù hợp với thực tiễn cách
mạng nước ta. Chẳng hạn, trong quá trình đổi mới đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, Đảng ta đã coi đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về chủ nghĩa xã hội
là khâu đột phá, coi đổi mới kinh tế là trọng tâm và phải đi trước một bước. Đảng ta
cũng khẳng định, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị phải gắn kết với nhau, nhưng
đổi mới chính trị phải trên cơ sở thành tựu của đổi mới kinh tế và phục vụ cho tiếp tục
đổi mới kinh tế, ngược lại, đổi mới kinh tế phải đúng định hướng chính trị, phải góp
2
phần tăng cường ổn định chính trị. Thực tiễn những năm đổi mới đã mang lại nhiều
bằng chứng xác nhận tính đúng đắn của những quan điểm nêu trên.Có thể khẳng định,
chúng ta không thể đưa công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
đến thành công nếu xa rời lập trường quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Mặt khác, việc tìm ra những giải pháp để đưa công cuộc
đổi mới đến thành công không thể không gắn liền vận dụng và phát triển sáng tạo lý
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thông qua tổng kết kinh
nghiệm thực tiễn theo phương pháp khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh. Như vậy, đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và phát triển
lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một quá trình thống nhất. Đó
là sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, sự thống nhất giữa tính khoa học và tính
cách mạng của lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
2. Chủ nghĩa xã hội đổi mới - Thực tiễn sinh động của sự thống nhất giữa
tínhkhoa học và tính cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin
Trước hết cần khẳng định sự ra đời của chủ nghĩa xã hội hiện thực là hoàn toàn
phù hợp với quy luật vận động, phát triển khách quan của lịch sử xã hội, phù hợp với
tiến trình lịch sử tự nhiên của các hình thái kinh tế - xã hội. Cho dù đến nay, chủ nghĩa
xã hội vẫn chưa xuất hiện ở những nơi mà chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến trình độ
quan trọng nhất của chủ nghĩa Mác-Lênin. Là một học thuyết khoa học và cách mạng,
học thuyết Mác - Lênin đã đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng của thời đại, phản
ánh chính xác những nhu cầu cơ bản cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản
nhằm thay đổi thế giới và giải phóng con người. Để hoàn thành sự nghiệp vĩ đại đó,
các Đảng cộng sản phải vận dụng sáng tạo bản chất khoa học và cách mạng của chủ
nghĩa Mác-Lênin trong tiến trình cách mạng, nhất là trong xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở những nước lạc hậu, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, quá độ dần lên chủ
nghĩa xã hội. Tuy nhiên, sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
Đông Âu, đã có không ít người hoài nghi tính đúng đắn của học thuyết Mác - Lênin về
chủ nghĩa xã hội. Các thế lực phản động quốc tế coi sự sụp đổ đó là “sự cáo chung”
của toàn bộ lý luận mác xít về chủ nghĩa xã hội, về thời kỳ quá độ và khả năng quá độ
lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong tình hình cực kỳ khó
khăn phức tạp như vậy, công cuộc đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và
lãnh đạo đã thể hiện mạnh mẽ sức sống của chủ nghĩa xã hội hiện thực và thu được
những thành tựu ngày càng to lớn. Thắng lợi của đường lối đổi mới đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hai mươi năm qua đã cho thấy, những luận điểm,
tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội vẫn giữ nguyên giá trị,
vẫn là cơ sở lý luận, là kim chỉ nam cho mọi hành động của chúng ta trên con đường
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vấn đề không phải là bản thân lý luận của chủ nghĩa Mác-
Lênin về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vấn đề nằm ở
chỗ chúng ta có nhận thức thật sự đúng đắn bản chất khoa học và cách mạng của chủ
nghĩa Mác - Lênin và biết vận dụng một cách sáng tạo nó trong thực tiễn xây dựng chủ
nghĩa xã hội hay không. Thực tiễn cho thấy, công cuộc đổi mới đất nước ngày càng đi
vào chiều sâu thì chúng ta càng phải đối diện với những vấn đề khó khăn, phức tạp
4
mới. Đất nước hiện đang đứng trước cả cơ hội lớn và thách thức lớn. Tất cả đều đòi
hỏi chúng ta phải nhận thức lại cho đúng, vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển lý
luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với bối cảnh mới của thế giới và
trong nước hiện nay. Vận dụng sáng tạo bản chất khoa học và cách mạng của chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã ngày càng làm sáng tỏ con
5
thắng trong cuộc đấu tranh đầy gian khổ trước đây, sẽ thành công trước thách thức mới
trên chặng đường mà chưa một ai đi qua”.
3. Chủ chương của Đảng về xây dựng văn hóa mới trong công cuộc đổi mới
Các vấn đề xã hội có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, do vị trí của con
người trong xã hội quy định. Song, do địa vị của con người ở mỗi chế độ xã hội khác
nhau là không giống nhau, cho nên vai trò, bản chất của các vấn đề xã hội cũng khác
nhau. Trong chủ nghĩa tư bản, nhân dân lao động là người làm thuê, mục tiêu của chủ
nghĩa tư bản là tăng lợi nhuận, duy trì sự thống trị của giai cấp tư sản. Để đạt tới mục
tiêu đã được xác định, chủ nghĩa tư bản đã có nhiều chủ trương, giải pháp về các vấn
đề xã hội, trong đó có những mặt tiến bộ như coi trọng giảm nhẹ sự bất bình đẳng
trong xã hội cũng như tìm cách giảm căng thẳng trong xã hội. Tuy nhiên, những mặt
tiến bộ ấy không bền vững vì mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản là xã hội hoá của
sản xuất và chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất vẫn còn tồn tại. Trong chủ nghĩa xã
hội, nhân dân lao động là người làm chủ, con người được coi là vốn quý nhất, mục tiêu
phục vụ của chủ nghĩa xã hội là nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người. Do
vậy, nhà nước xã hội chủ nghĩa luôn tạo ra những khả năng khách quan để thủ tiêu tình
trạng người bóc lột người, cải thiện không ngừng các điều kiện sống, tạo ra các tiền đề
cho sự phát triển của cá nhân, của người lao động để họ tự giác tham gia có hiệu quả
các hoạt động sống, cũng như xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xã
hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là xã hội vì con người, đặt con người
vào vị trí trung tâm của sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và lấy việc nâng cao chất
lượng cuộc sống con người làm mục tiêu phục vụ. Đảng ta luôn nhấn mạnh phát
triểnkinh tế phải đi liền với việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Phát triển kinh tế theo
định hướng xã hội chủ nghĩa lại càng đòi hỏi phải giải quyết tốt những vấn đề xã hội,
bởi lẽ phát triển kinh tế phải là sự phát triển bền vững dựa trên những yếu tố chính trị,
kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường vững chắc…. Bền vững về mặt xã hội là bảo đảm
vừa đạt được tăng trưởng kinh tế, vừa giữ được ổn định xã hội, không có những xáo
trộn xung đột, nổi loạn làm ảnh hưởng đến việc huy động các nguồn lực cho sự phát
triển. Trong phát triển bền vững, yếu tố kinh tế và yếu tố xã hội quyện vào nhau, hoà
Thứ hai, thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo lao động và
hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực
khác vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội, đi đôi
với chính sách điều tiết hợp lý, bảo vệ quyền lợi của người lao động.
Thứ ba, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói, giảm nghèo,
thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng, các dân
tộc, các tầng lớp dân cư.
Thứ tư, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”, “đền
ơn đáp nghĩa”, “nhân hậu, thủy chung”
Thứ năm, các vấn đề chính sách xã hội đều được giải quyết theo tinh thần xã hội.
Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các
doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham
gia giải quyết những vấn đề xã hội. Đại hội IX của Đảng không nhắc lại các quan điểm
chỉ đạo của Đại hội VIII, nhưng nhấn mạnh “Thực hiện các chính sách xã hội, hướng
7
vào phát triển và lành mạnh hoá xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo
động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình
đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp” và “Các
chính sách xã hội được tiến hành theo tinh thần xã hội hoá, đề cao tinh thần trách
nhiệm của chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân, các tổ chức
xã hội” 4. Đồng thời Đại hội IX cũng chỉ ra những nhiệm vụ, mục tiêu của từng lĩnh
vực cụ thể cần tập trung giải quyết trong những năm tới là: giải quyết việc làm là
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của chính sách xã hội; Tiền lương và thu nhập; xoá đói,
giảm nghèo; đền ơn đáp nghĩa; uống nước nhớ nguồn; xâydựng cơ sở hạ tầng xã hội;
chính sách dân số; chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân; chính sách
chăm sóc và bảo vệ trẻ em; phong trào toàn dân tập luyện thể dục, thể thao; phong
trào toàn dân đấu tranh phòng chống tội phạm
Trên cơ sở khái quát những thành tựu và hạn chế của 20 năm đổi mới, trong đó
có thành tựu và hạn chế của việc xây dựng và phát triển các vấn đề xã hội, Đại hội X
của Đảng khẳng định quan điểm: “Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã
trông chờ, thụ động.
- Coi trọng chỉ tiêu GDP bình quân đầu người gắn với chỉ tiêu phát triển con
người (HDI). Từ điểm xuất phát thấp, trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, chúng ta phải rất quan tâm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, rút
ngắn khoảng cách giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy,
coi trọng chỉ tiêu tăng trưởng GDP là rất cần thiết. Mặt khác, mục tiêu phát triển kinh
tế là để phục vụ con người, để con người phát triển toàn diện. Chỉ tiêu HDI liên quan
trực tiếp đến các mức độ đáp ứng các nhu cầu xã hội của con người đến chất lượng
cuộc sống. Tăng trưởng GDP là cơ sở để thực hiện chiến lược con người và các chính
sách xã hội. Vì vậy, Đại hội X xác định yêu cầu coi trọng chỉ tiêu GDP phải gắn liền
với chỉ tiêu con người HDI trong suốt quá trình phát triển và trong từng chính sách
kinh tế- xã hội. Từ thực tiễn xây dựng đất nước trong những năm qua, nhằm từng bước
thực hiện quan điểm của Đảng để xây dựng và phát triển các vấn đề xã hội trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chúng ta cần đồng thời triển khai thực hiện
các chủ trương và giải pháp lớn như sau:
Trước hết là khuyến khích mọi người dân làm giàu theo pháp luật, thực hiện có
hiệu quả các chính sách xoá đói giảm nghèo. Với nội dung này, trong những năm tới
cần thực hiện các yêu cầu là tạo điều kiện và cơ hội tiếp cận bình đẳng nguồn lực phát
triển, hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản, vươn lên xoá đói giảm nghèo bền vững ở
các vùng, khắc phục tình trạng bao cấp dàn đều, tư tưởng ỷ lại, phấn đấu không còn hộ
đói, giảm mạnh hộ nghèo, tăng nhanh hộ giàu, từng bước xây dựng gia đình cộng đồng
và xã hội phồn vinh. Tạo được động lực làm giàu trong đông đảo các tầng lớp dân cư,
khuyến khích những người đã thoát nghèo mạnh dạn vươn lên làm giàu và giúp những
người khác sớm thoát khỏi hộ nghèo. Xây dựng chương trình xoá đói giảm nghèo sát
với điều kiện cụ thể của từng địa phương, dành nguồn ưu tiên hỗ trợ các vùng xa, khó
khăn, có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số. Giảm dần chênh lệch về phát triển kinh tế và
đời sống của nhân dân giữa các vùng, miền và các tầng lớp dân cư. Phấn đấu đến năm
2010 giảm 1/2 tỷ lệ nghèo theo Chuẩn quốc tế so với năm 2000. Giảm 3/4 tỷ lệ nghèo
9
về lương thực, thực phẩm so với năm 2000. Giảm 3/5 tỷ lệ hộ nghèo so với năm 2000
để phát hiện, bồi dưỡng và phát triển tài năng thể thao phù hợp với điều kiện và tố chất
người Việt Nam, đưa nền thể thao nước ta tới vị trí cao của khu vực, từng bước tiếp
cận với châu lục và quốc tế ở những bộ môn thể thao mà Việt Nam có ưu thế. Nghiên
cứu xây dựng và tuyên truyền hướng dẫn chế độ dinh dưỡng trong cơ cấu bữa ăn phù
hợp với lứa tuổi. Quan tâm chăm sóc sức khoẻ sinh sản. Đẩy mạnh phong trào xã hội
10
chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi
trường an toàn, lành mạnh, phát triển hài hoà về trí tuệ, đạo đức, giảm nhanh tỷ lệ trẻ
em suy dinh dưỡng. Đẩy mạnh công tác bảo vệ giống nòi, bảo vệ sức khoẻ nhân dân,
thực hiện các giải pháp mạnh mẽ, kiên trì và có hiệu quả để phòng chống HIV/AIDS
và các tệ nạn xã hội.
Thứ năm, thực hiện tốt các chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình. Cụ thể là
giảm tốc độ dân số. Tiếp tục duy trì kế hoạch giảm sinh, phấn đấu sớm đạt mục tiêu
mức sinh quy định, đảm bảo quy mô và cơ cấu dân số hợp lý. Nâng cao chất lượng dân
số. Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với
những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Xây dựng gia đình ấm no,
bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lạnh mạnh của
xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách của
con người, bảo tồn nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy
văn hoá truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
Thứ sáu, chú trọng các chính sách ưu đãi xã hội. Cụ thể là thực hiện tốt chính
sách xã hội đối với người có công, gia đình thương binh liệt sỹ như vấn đề nhà ở,
khám chữa bệnh và điều dưỡng phục vụ sức khoẻ, các chính sách ưu tiên trong giáo
dục, vấn đề trợ cấp cho những người có công với cách mạng. Vận động toàn dân tham
gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với các lão thành cách
mạng, người có công với nước, người được hưởng chính sách xã hội. Chăm sóc đời
sống vật chất và tinh thần của người già. Giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam, người tàn
tật, trẻ mồ côi.
Thứ bảy, đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng
sao biến quá trình được giáo dục thành quá trình tự học hỏi, tự ý thức vươn lên bằng
bản lĩnh và ý chí của mình trở thành những con người độc lập có tri thức, có lý luận
chính trị, làm chủ đời sống XH mà mình đang sống, hoà nhập mà không hoà tan vào
đời sống XH góp phần thúc đẩy phát triển XH theo hướng dân chủ-bình đẳng-ấm no-
hạnh phúc. Bổ xung học tập, rèn luyện về mặt chính trị tư tưởng (học tập và làm việc
theo tấm gương đạo đức của Bác). Từ đó, rèn luyện hơn nữa về mặt đạo đức, cộng với
việc học văn hóa, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Không vi phạm đường lối
của Đảng, pháp luật của Nhà nước và những nội quy của nhà trường. Hăng hái tham
gia các phong trào của lớp, của trường góp phần đẩy mạnh phong trào thi đua học tập
của tập thể đi lên. Cùng tuyên truyền, phổ biến phong trào “Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh”, đưa phong trào trở nên rộng khắp. Cùng tập thể lớp,
trường và thế hệ Thanh niên Việt Nam thực hiện được lời di trúc của Bác “đưa Việt
Nam lên đài vinh quan, sánh vai với các cường quốc năm châu”.
12
C. KẾT LUẬN
Từ khi ra đời cho đến nay, nhờ nắm vững và vận dụng sáng tạo bản chất khoa
học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin mà Đảng ta đã dẫn dắt cách mạng Việt
Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chủ nghĩa xã hội đổi mới Việt Nam đã
chứng tỏ sức sống mãnh liệt của mình và ngày càng thu được những thành tựu to lớn.
Điều đó trước hết bắt nguồn từ bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-
Lênin.
Tuy hiện nay, việc xây dựng xã hội mới gặp vô vàn khó khăn thách thức một
phần do nền kinh tế thị trường đã tha hóa một số lớp trẻ làm lệch lạc lý tưởng, dẫn đến
vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, dưới sự dẫn dắt của sang suốt của Đảng, nhất định Đảng
ta sẽ lãnh đạo nhân dân ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội của thời kỳ đổi mới
gắn với dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Trong bài viết có thể còn có nhiều sai sót, tôi rất mong sự nhận xét, giúp đỡ của
thầy
13