]-Mâu thuẫn cơ bản của nền sản xuất hàng hoá giản đơn là gì? Vì sao nó chứa đựng khả năng sản xuất " thừa " trong Chủ nghĩa tư bản - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Kể từ năm 1987 Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt nam có hiệu lực, khởi đầu
cho dòng chảy các luồng vốn từ bên ngoài vào nước ta. Lúc đầu, các nhà đầu tư
nước ngoài chủ yếu tập trung vào lónh vực kinh doanh dòch vụ bất động sản, nhà
hàng, khách sạn, văn phòng cho thuê, khu vui chơi giải trí,... Những năm về sau,
thì họ chuyển sang lónh vực sản xuất, gia công chế biến hàng công nghiệp cho
tiêu dùng và xuất khẩu. Từ đó, đã hình thành những khu vực sản xuất công
nghiệp tập trung trải dài trên nhiều đòa phương và các vùng trên cả nước. Cùng
với dòng chảy của các luồng vốn đầu tư, là dòng chảy của lực lượng lao động đổ
về các khu sản xuất công nghiệp tập trung: khu công nghiệp, khu chế xuất, khu
công nghệ cao, đặc khu kinh tế, cụm công nghiệp...
Riêng đối với tỉnh Bình Dương, việc tăng nhanh thu hút vốn đầu tư và nguồn
nhân lực vào các khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong KCN, thời gian
qua đóng góp một phần lớn trong phát triển kinh tế, duy trì nhòp độ tăng trưởng
kinh tế cao, thúc đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH của đòa phương, tăng thu ngân
sách, giải quyết hơn 135.000 việc làm, nhất là làm cho đời sống của người lao
động ngày càng phát triển.Vai trò của NLĐ ngày càng được khẳng đònh, đời
sống vật chất và tinh thần được quan tâm hơn, nhưng những bức xúc giữa họ và
chủ DN cũng xuất hiện. Bộ Luật Lao động 1994 và sửa đổi, bổ sung các năm
2002, 2006 đã thúc đẩy và tạo nền tảng cơ bản về quyền và nghóa vụ của các
bên khi tham gia vào QHLĐ cũng như từng bước hướng các quan hệ này vào quỹ
đạo chế tài từ luật đònh. Bên cạnh những thành tựu đạt được, phát sinh những
vấn đề phức tạp về QHLĐ, đây là vấn đề nhạy cảm trong hệ thống quản lý.
Trong thực tiễn đã bộc lộ nhiều tiêu cực phát sinh, đã làm ảnh hưởng đến
phát triển kinh tế xã hội. Một trong những tiêu cực thấy rõ trong thời gian gần
đây là hiện tượng vi phạm pháp luật, các thắc mắc, khiếu nại, tranh chấp lao
động và liên tiếp xảy ra các cuộc đình lãn công tập thể kéo theo hàng trăm,
thậm chí hàng ngàn lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
tại các khu công nghiệp của tỉnh, không những đã làm thiệt hại đáng kể đến sản
xuất, đến lợi ích doanh nghiệp và người lao động, mà còn ảnh hưởng đến môi

cải cách chế độ tiền lương” của TS.Lê Hồng Tiến đăng trên thời báo Kinh Tế
Việt Nam số 86/2006 và qua thực tế tình hình của tỉnh Bình Dương chúng ta
phân tích và đánh giá mối quan hệ lao động giữa người lao động và người sử
dụng lao động, trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ở các khu công nghiệp
tỉnh Bình Dương.
3. Nội dung, đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là QHLĐ trong khu vực kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài trong các KCN Bình Dương. Một số thông tin, số liệu sử dụng
trong luận án được điều tra và tham khảo tại các Sở, Ban ngành liên quan tỉnh
Bình Dương, từ đó đi đến phân tích và đưa ra đònh hướng về QHLĐ.
3.1. Phân tích các yếu tố tác động đến các lợi ích của NLĐ, chủ doanh
nghiệp và nhà nước ở Tỉnh Bình Dương và mối quan hệ giữa chúng.
3
3.2. Đưa ra đònh hướng và đề xuất các giải pháp để xây dựng các mối quan
hệ lao động về các lợi ích và phân phối thu nhập một cách hợp lý, hài hòa ở khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Nội dung của đề tài có liên quan đến một số ngành, một số lónh vực, do đó
những phương pháp sau đây sẽ được vận dụng:
• Phương pháp trừu tượng hóa khoa học
• Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lòch sử
• Phương pháp thống kê
• Phương pháp mô tả, đều tra phân tích các số liệu thống kê
• Phương pháp phân tích và so sánh
• Phương pháp tổng hợp
Thông tin và số liệu thứ cấp được thu thập từ sách, báo, tạp chí chuyên
ngành, mạng Internet, các tài liệu từ các hội thảo chuyên đề về QHLĐ, Luật
Đầu tư, Luật Lao động, các nghò đònh, thông tư và văn bản của Chính phủ, Bộ
Ngành liên quan; các số liệu điều tra do Sở Lao động – Thương binh và Xã hội,
Liên đoàn Lao động, Ban Quản lý các KCN, Cục Thống kê tỉnh Bình Dương.

hệ quản lý giữa người điều hành và người thừa hành, nó không chứa đựng quan
hệ bóc lột lao động làm thuê.
1.1.1.2 Điều kiện xuất hiện quan hệ lao động và sự khác biệt giữa các quan
hệ lao động trong các chế độ xã hội khác nhau
Quan hệ lao động chỉ xuất hiện khi xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ
nghóa. Trong điều kiện quan hệ sản xuất phong kiến chủ nghóa chưa có quan hệ
lao động. Quan hệ giữa chúa phong kiến và nông nô không phải là quan hệ lao
động, bởi vì, chúa phong kiến không thuê mướn người nông dân làm thuê và trả
lương cho người nông dân, mà người nông dân không có đất, muốn tồn tại họ
phải lónh canh đất đai của chúa phong kiến để canh tác và nộp đòa tô cho chúa
phong kiến. Người nông nô không được tự do hoàn toàn như người công nhân
trong chủ nghóa tư bản, họ và gia đình họ phải bò gắn chặt với đất đai của chúa
phong kiến để tồn tại.
Trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghóa, xuất hiện người lao động đi bán sức
lao động (làm thuê) cho các chủ tư bản. Sức lao động đã biến thành hàng hoá,
bởi vì trong chủ nghóa tư bản đã có hai điều kiện để sức lao động biến thành
hàng hoá, đó là: 1) người lao động được tự do thân thể 2) người lao động không
có tư liệu sản xuất. Trong chủ nghóa phong kiến người nông nô chưa được tự do
hoàn toàn, họ không thể bỏ mảnh đất của đòa chủ này để sang lónh canh mảnh
đất của đòa chủ khác. Nhưng trong chủ nghóa tư bản người lao động làm thuê
6
được tự do về thân thể, họ được quyền tự do lựa chọn đi làm thuê cho chủ tư bản
này hay chủ tư bản khác. Luật pháp tư bản đã thừa nhận và bảo vệ quyền tự do
đó, trong khi luật pháp phong kiến không có điều khoản nào bảo vệ quyền tự do
của người nông nô. Đồng thời, nếu người lao động có tư liệu sản xuất thì họ sẽ
tự tổ chức sản xuất ra hàng hoá đem đi bán, trao đổi trên thò trường chứ họ
không đi làm thuê. Nhưng vì không có tư liệu sản xuất, muốn tồn tại, sống còn
họ phải đi làm thuê cho các nhà tư bản để nhận lương. Thu nhập tiền lương là
điều kiện duy nhất để người lao động làm thuê tồn tại trong chủ nghóa tư bản.
Quan hệ giữa nhà tư bản chủ tư liệu sản xuất và người lao động làm thuê thể

Tiền lương được xem xét trên hai mặt: tiền lương danh nghóa và tiền lương
thực tế.
+ Tiền lương danh nghóa là tiền công mà người lao động nhận được dưới hình
thức tiền mặt;
+ Tiền lương thực tế thể hiện bằng số lượng sản phẩm và những dòch vụ mà
người lao động có thể mua được từ tiền lương danh nghóa.
Về hình thức chủ yếu của tiền lương, chúng ta phân biệt có 2 loại: tiền lương
theo thời gian và tiền lương theo sản phẩm.
+ Tiền lương theo thời gian được áp dụng cho những công việc không tính cụ
thể được hao phí lao động (nghiên cứu khoa học, công tác quản lý,..) được thể
8
hiện qua các bậc, thang lương do nhà nước hoặc do doanh nghiệp quy đònh và
được trả hàng tháng cho người lao động.
+ Tiền lương theo sản phẩm được xây dựng trên cơ sở đònh mức sản xuất và
được thể hiện thông qua hình thức khoán từng phần việc, hoặc khoán gọn, bảo
đảm tăng tiền lương ứng với tăng năng suất lao động. Nó thể hiện tính khoa học
cao vì nó phản ảnh đúng số lượng và chất lượng lao động, thể hiện sự hợp lý
trong phân phối lao động, đồng thời lại kích thích tinh thần lao động, khuyến
khích người lao động chăm lo rèn luyện tay nghề, cải tiến kỹ thuật, nâng cao
năng suất lao động …
Tiền lương biểu hiện một tập hợp phức tạp các mối quan hệ kinh tế: giữa
người lao động riêng biệt và toàn xã hội; giữa tập thể lao động vì công lao động
phụ thuộc vào kết quả hạch toán kinh tế hoạt động của các doanh nghiệp; giữa
người lao động và tập thể người lao động vì tiền lương của mỗi người được xác
đònh trong khuôn khổ quỹ tiền lương của doanh nghiệp.
Nguyên tắc quan trọng nhất để phân biệt tiền lương là đại lượng phụ thuộc
trực tiếp không những vào số lượng mà cả mức độ phức tạp của lao động. Kết
quả cuối cùng của hoạt động kinh tế (nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm
nguyên vật liệu, chất lượng sản phẩm) đều được phản ánh trong sự tăng thêm
của quỹ tiền lương, hay của lợi nhuận.

10
Như vậy, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay,
thì lợi ích kinh tế của các thành phần tham gia, kể cả Nhà nước phải hài hòa. Mà
hướng đến của toàn xã hội mong muốn là phải tăng năng suất lao động, phát
triển sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân lao động; cũng là tiêu chuẩn để xác
đònh tính hợp lý về lợi ích kinh tế của các chủ sở hữu trong việc sử dụng cơ cấu
kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. Từ tiêu chuẩn này, phải thừa nhận tính hợp
lý của mức thu nhập cao đối với những người lao động đạt năng suất và hiệu quả
cao cho xã hội, dù thu nhập đó cao gấp nhiều lần so người lao động có năng suất
và hiệu quả thấp. Phải phê phán và khắc phục khuynh hướng đòi hỏi và bảo
đảm lợi ích theo nhu cầu bình quân, vì đó là lợi ích không hợp lý, không thúc
đẩy mà cản trở sản xuất, trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Hiện nay, trong nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu, có
nhiều lợi ích kinh tế: lợi ích kinh tế của nhà nước (xã hội), lợi ích kinh tế của tập
thể lao động, lợi ích kinh tế của cá nhân người lao động và của người chủ sở hữu
tư nhân, cá thể.
Các lợi ích kinh tế trên vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau. Mối quan hệ
biện chứng giữa các lợi ích được phản ánh qua sự liên kết, đan xen giữa các hình
thức sở hữu trong quá trình tái sản xuất. Trong kinh tế nhà nước có phần của nhà
nước, của tập thể lao động, phần vốn của cá nhân người lao động hoặc các chủ
sở hữu cá thể, tư nhân trong và ngoài nước. Trong kinh tế tập thể, có phần kinh
tế của nhà nước, của tập thể lao động, phần vốn của cá nhân người lao động
hoặc của các chủ sở hữu cá thể, tư nhân. Trong các doanh nghiệp cổ phần, loại
hình doanh nghiệp mà Nhà nước đang có chính sách đẩy mạnh công tác cổ phần
hóa, tạo điều kiện thuận lợi; nhất là trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đã hội
nhập vào nền kinh tế thế giới, nhằm tập trung khả năng về vốn, quản lý, công
11
nghệ… mà các doanh nghiệp trong nước phải đương đầu để tồn tại và phát triển
trong môi trường tự do thương mại toàn cầu cạnh tranh khốc liệt.
Do vậy, trong việc quản lý nền kinh tế nhiều thành phần trong giai đoạn

tế, hành chánh và tư tưởng để xây dựng con người mới hoàn thiện, xã hội công
bằng và văn minh; tránh tình trạng phân hóa quá nhiều giữa các tầng lớp xã hội
trong quá trình xây dựng, đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa
để phát triển nền kinh tế đất nước trong giai đoạn hội nhập; cũng như hạn chế
những vấn đề nóng của xã hội phát triển như đình, lãng công trong thời gian gần
đây xảy ra trong cả nước, nhất là các tỉnh - thành có tốc độ phát triển nhanh như:
Bình Dương, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Long An …
1.2 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA MỐI QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRONG VIỆC
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Phát triển kinh tế - xã hội, bên cạnh tăng thu nhập quốc dân tính theo đầu
người còn bao hàm sự thay đổi cơ cấu kinh tế, thể chế kinh tế và chất lượng cuộc
sống tinh thần và vật chất của người và cộng đồng xã hội.
Để tồn tại và phát triển, con người phải đáp ứng nhu cầu vật chất cho cuộc
sống. Sự tiêu dùng của con người chính là nguồn gốc của động lực phát triển
kinh tế – xã hội, mục đích của sản xuất là tiêu dùng. Khối lượng tiêu dùng và cơ
cấu tiêu dùng là yếu tố quyết đònh về quy mô và cơ cấu sản xuất, kinh doanh,
dòch vụ. Với tư cách là người sản xuất, con người có vai trò hết sức quan trọng
13
đối với sự phát triển, con người với khả năng trí tuệ và thể lực của mình là yếu
tố cơ bản nhất, quyết đònh nhất của sự phát triển sản xuất xã hội. Trong bất kỳ
giai đoạn lòch sử nào, trình độ sản xuất nào, lao động của con người luôn đóng
vai trò quyết đònh. Cùng với sự phát triển tiến bộ kỹ thuật, công nghệ trong sản
xuất sẽ dẫn tới sự thay đổi của vò trí lao động giản đơn và lao động kỹ thuật, lao
động trí tuệ ngày càng đóng vai trò then chốt cho sự phát triển kinh tế – xã hội.
Muốn phát triển kinh tế – xã hội, điều cơ bản phải có sự tăng trưởng kinh tế.
Nhưng không phải bất cứ sự tăng trưởng nào cũng dẫn tới phát triển kinh tế, tuy
nhiên thu nhập thực tế tăng lên của mỗi người dân phản ánh tính xã hội của sự
tăng trưởng. Như vậy sự phát triển kinh tế – xã hội đi đôi với tăng thu nhập thực
tế của đại bộ phận dân cư nhờ phân phối kết quả thu nhập của mối quan hệ lao
động giữa người sử dụng lao động và người lao động. Ngày nay, phát triển kinh

quốc gia, từng doanh nghiệp, mỗi con người nếu biết sử dụng và khai thác. Kinh
tế tri thức, ra đời từ các nước công nghiệp tiên tiến, nó có thể sinh sôi và phát
huy khả năng ở mọi nơi, kể cả các nước kinh tế có trình độ thấp, khi biết tạo
dựng thành một môi trường thuận lợi, phù hợp cho sự phát triển. Sự phát triển
kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau nhưng
“nguồn nhân lực được xem là nhân tố đóng vai trò quyết đònh” về tốc độ, chất
lượng tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững.
Trong quá trình đổi mới, Nhà nước ta cũng đã khẳng đònh, phát triển nguồn
nhân lực là nhiệm vụ trọng tâm, quyết đònh sự thành công trong công cuộc công
nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, nguồn nhân lực giữ vai trò quan trọng nhất
15
trong các nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội. Do vậy, chúng ta xây dựng một
xã hội dân chủ, công bằng và tiến bộ, một xã hội xã hội chủ nghóa tạo cho con
người đầy đủ những điều kiện phát triển toàn diện, phát huy tốt nhất nhân tố con
người để phát triển kinh tế, xã hội.
1.2.2 Quan hệ lao động góp phần thúc đẩy và hoàn thiện quan hệ sản xuất
mới
Các quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất sẽ tạo động lực cho lực lượng sản xuất phát triển, ngược lại, khi
không phù hợp, đây sẽ là nhân tố cản trở, kìm hãm sự phát triển.
Trong quan hệ sản xuất thì cơ chế kinh tế và cơ chế thò trường là yếu tố có
ảnh hưởng lớn. Cơ chế kinh tế sẽ là nhân tố kích thích hay cản trở sự phát triển
kinh tế, thực tiễn lòch sử cho thấy, cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp đều cản
trở sự phát triển kinh tế. Hiện nay cơ chế thò trường có sự quản lý của nhà nước
theo đònh hướng xã hội chủ nghóa là cơ chế thích hợp nhất đối với sự phát triển
quan hệ sản xuất trong nền kinh tế chuyển đổi của đất nước, trong xu thế chủ
động hội nhập nền kinh tế thế giới xây dựng chế độ chủ nghóa xã hội văn minh
và tiến bộ. Cơ chế thò trường với tác động của quy luật giá trò, cạnh tranh và
cung – cầu kích thích tối đa tính năng động, sáng tạo của các doanh nghiệp,
buộc các doanh nghiệp phải đổi mới kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, nậng cao

vững, do tài nguyên là có hạn; trái lại, muốn tăng trưởng bền vững thì phải dựa
vào nhân tố con người, tất nhiên tài năng và trí tuệ con người là bền vững và vô
tận. Muốn phát huy nhân tố con người phải có hệ thống giáo dục, y tế tốt. Nhân
17
tố học vấn của con người không thể thông qua cơ chế thò trường bởi lẽ thò trường
bản thân tự nó không đủ khả năng cung cấp một nền giáo dục và đào tạo đúng
mức. Do vậy. Chính phủ phải đóng vai trò chủ đạo trong việc đào tạo và sử dụng
nhân tài. Lúc bấy giờ, đến lượt nó, tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện cho quan hệ
lao động phát triển , làm cho mối quan hệ sản xuất mới được cải thiện.
1.3 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH THỰC HIỆN MỐI QUAN HỆ LAO ĐỘNG Ở
VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
Thực tế, trong những năm gần đây, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, không chỉ bổ sung nguồn vốn và mang đến công nghệ tiên tiến, thiết bò
hiện đại, nguồn vốn đầu tư nước ngoài mà còn góp phần nâng cao khả năng tiếp
cận thò trường quốc tế và kỹ năng quản lý của người Việt. Sự phát triển “theo
dây chuyền” của các ngành công nghệ, thông tin, viễn thông, cảng sông, cảng
biển, cầu đường… vừa tác động gián tiếp đến việc chuyển dòch lao động trong
nhiều ngành và nhiều lónh vực khác nhau. Khu vực này đã góp phần quan trọng
giải quyết công ăn việc làm và tạo động lực tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, khi
khu vực này càng mở rộng thì mối quan hệ về lợi ích và phân phối thu nhập giữa
người lao động và người sử dụng lao động có nhiều bất cập, nên xảy ra nhiều
cuộc tranh chấp. Đáng tiếc hơn nhiều cuộc đình công ngày càng xảy ra dồn dập,
quy mô lớn và có tính chất gay gắt và phức tạp hơn. Một bộ phận người lao động
có mức thu nhập thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy đònh, trả tiền
tăng ca, thưởng chưa tương xứng với sự đóng góp của người lao động, từ đó là
một trong những nguyên nhân chính xảy ra đình - lãn công, bỏ sang doanh
nghiệp khác thậm chí họ chòu cảnh thất nghiệp vài ba tháng để tìm một nơi vừa
ý. Gần đây một số doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trong
khu công nghiệp không có sự kết hợp quyền lợi giữa người lao động và người sử
18

06 tháng 01 năm 2006, về điều chỉnh lại mức lương tối thiểu khu vực này. Song
khi ban hành các cuộc đình lãn công vẫn xảy ra, với tốc độ và độ phức tạp vẫn
không thay đổi, đó chính là sự thiếu nghiên cứu tỉ mỉ và chuẩn bò kỹ nên sau khi
ban hành đã vấp phải những khó khăn nhất đònh. Người sử dụng lao động đã
lúng túng về tài chính bởi hợp đồng lao động năm 2006 đã được ký kết từ cuối
năm trước, có nhiều công ty nhất là những công ty con của các tập đoàn lớn, đã
lên kế hoạch tài chính năm 2006, rất khó cho họ khi thay đổi chính sách lương vì
kèm theo đó các hợp đồng sản xuất đã ký với giá nhân công đã đònh. Trong khi
đó, người lao động cũng rất thiệt thòi khi doanh nghiệp chưa hoặc không kòp làm
hệ thống thang bảng lương, tiền lương trả không thích hợp giữa lao động mới với
lao động lâu năm. Cùng lúc đó các doanh nghiệp lợi dụng lấy luôn mức lương tối
thiểu làm lương cơ bản trả cho công nhân và giảm các phụ cấp khác, cắt thưởng
bù vào lương cơ bản. Ngoài ra sự bất cập trong quan hệ lao động trong khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài còn do không thực hiện chế độ chính sách đã quy đònh
là bảo hiểm xã hội; mặc dù, hàng tháng các doanh nghiệp vẫn trừ lương, nhưng
công nhân bệnh vẫn phải lấy tiền túi ra điều trò. Việc chậm trả lương cũng là
một nguyên nhân; chậm ký kết hợp đồng lao động cho công nhân đã qua thời
gian thử việc; không tổ chức khám sức khoẻ đònh kỳ hàng năm cho công nhân
hoặc khám cho có lệ như khám ở các phòng khám không đủ tiêu chuẩn rẻ tiền
(thực ra chưa có hướng dẫn cụ thể nào về yêu cầu chất lượng để khám sức khoẻ
đònh kỳ); không giải quyết phép năm, không quan tâm đến đời sống vật chất và
tinh thần của công nhân: đa số công nhân thường phải ở nhà trọ chật hẹp và và
hầu như không được sinh hoạt văn hóa tinh thần. Trong tình trạng chốn an cư
20
không có, mọi việc đều có tính chất tạm bợ, lại tăng ca liên tục, thu nhập thấp,
tất yếu người lao động dẫn đến đình lãn công.
21
Chương 2
TÌNH HÌNH QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRONG KHU
VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở

nhà.
Trong những năm qua, vận dụng đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng, tỉnh
Bình Dương có chính sách thu hút đầu tư thông thoáng, chính quyền Tỉnh tạo
môi trường đầu tư thuận lợi, đến nay Bình Dương có 16 Khu Công Nghiệp đang
hoạt động, 3 Khu Công Nghiệp khác được quy hoạch được Chính phủ chấp thuận
chủ trương (KCN Bàu Bàng, Rạch Bắp, An Tây) chưa kể Khu liên hợp Công
nghiệp – Dòch vụ – Đô thò Bình Dương đang xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật,
thu hút nhiều dự án đầu tư trong và ngoài nước.
Dự báo tình hình thu hút dự án đầu tư và lao động sẽ tiếp tục tăng nhanh
trong thời gian tới. Sự gia tăng nhanh chóng số lượng doanh nghiệp và CNLĐ đã
có tác động tích cực về mặt phát triển kinh tế đòa phương..., song cũng làm phát
sinh một số vấn đề xã hội bức xúc, trong đó tình trạng tranh chấp lao động dẫn
đến đình lãn công làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội, thiệt hại kinh tế của NLĐ,
DN và của cả xã hội. Từ đó, mối quan hệ giữa NSDLĐ và NLĐ được đặt ra, là
mối quan tâm của chính quyền trong việc giải quyết mối quan hệ ngày diễn ra
càng phức tạp này, cần có chính sách vó mô hạn chế những mặt tiêu cực của nó
trong quá trình phát triển của nền kinh tế thò trường.
23
2.1 THỰC TRẠNG VỀ MỐI QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRONG KHU VỰC
KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH
BÌNH DƯƠNG.
2.1.1 Về quan hệ lợi ích kinh tế
2.1.1.1 Lợi nhuận
Hiển nhiên, đầu tư mà không mang đến lợi nhuận thì tất yếu dòng vốn đầu tư
khu vực kinh tế có vốn nước ngoài trong các khu công nghiệp của tỉnh Bình
Dương sẽ chuyển đi nơi khác.
Hiện nay, đa số doanh nghiệp nước ngoài trong khu vực này đều làm ăn có
hiệu quả, từ năm 2000 – 2006 theo bảng 2.1.
Bảng 2.1:
Lợi nhuận và doanh thucủa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại KCN

với tổ chức, từ đó tạo nên cơ sở vững chắc để DN có ưu thế cạnh tranh trên thò
trường. Một chế độ tiền lương hợp lý và có sức hấp dẫn sẽ kích thích tính tích
cực của NLĐ hoạt động có hiệu quả, thúc đẩy NLĐ cố gắng hoàn thành mục
tiêu phát triển của DN.
Qua đó việc thực hiện điều chỉnh mức lương tối thiểu theo nghò đònh 03/NĐ-
CP ngày 06/01/2006 từ 710.000/người/tháng đến 790.000 đồng/người/tháng tuỳ
KCN thành lập theo đòa bàn của Tỉnh thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài,
riêng mức lương khởi điểm trả cho NLĐ đã qua đào tạo nghề và thời gian thử
việc nêu trên phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu quy đònh. Đa số
25

Trích đoạn Về giao thông Cải cách hành chánh CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ LAO ĐỘNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status