Điều tra khả năng sử dụng trạng từ của trẻ mẫu giáo lớn - Pdf 26

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mục lục
Phần I: Mở đầu
I. Lý do chọn đề tài .....................................................................................3
II. Mục đích nghiên cứu ............................................................................3
III. Nhiệm vụ nghiên cứu ..........................................................................4
IV. Nhiệm vụ nghiên cứu ...........................................................................4
V. Phơng pháp nghiên cứu ........................................................................4
Phần II: Nội dung nghiên cứu
Chơng I: Cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài
I. Cơ sở tâm lý .............................................................................................5
II. Cơ sở giáo dục .......................................................................................9
III. Cơ sở sinh lý..........................................................................................10
IV. Cơ sở ngôn ngữ .....................................................................................11
Chơng II: Điều tra khả năng sử dụng trạng từ của trẻ mẫu giáo lớn
I. Địa bàn điều tra ......................................................................................13
II. Kỹ thuật điều tra ....................................................................................15
III. Cách thức điều tra ...............................................................................15
IV. Kết quả điều tra ....................................................................................15
V. Nhận xét phân tích kết quả điều tra .................................................17
VI. Kết luận .................................................................................................19
Chơng III: Đề xuất một số biện pháp tích cực nhằm phát triển trạng từ cho trẻ
mẫu giáo lớn.
I. Nguyên tắc xây dựng biện pháp .............................................................20
II. Các biện pháp ........................................................................................21

1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời cảm ơn
Qua một thời gian học tập và nghiên cứu thực tiễn về việc phát triển trí tuệ trẻ thơ
thông qua những nhận thức trong cuộc sống cũng nh trong sinh hoạt học tập hàng ngày của

Trờng Mầm Non việc chăm sóc và giáo dục đợc thực hiện ở nhiều chơng trình
khác nhau ,một trong những chơng trình vô cùng quan trọng đó là phát triển ngôn
ngữ để chuẩn bị cho trẻ vào trờng phổ thông .Ngôn ngữ là cánh cửa mở ra cho trẻ vô
vàn những điều mới lạ kì diệu của cuộc sống nh Vgôtki dánh giá:Ngôn ngữ nh nền
tảng cho tất cả các quá trình t duy bậc cao nh điều khiển ,chú ý ,ghi nhớ có chủ định
và ghi nhớ, phân loại, kế hoạch hoá hoạt động và giải quyết vấn đề. Việc phát triển
vốn từ cho trẻ đã đợc thực hiện ở trờng Mầm Non nhng cha có công trình nghiên cứu
nào điều tra về vấn đề: Khả năng sử dụng trạng từ của trẻ lứa tuổi mầm non (một
trong những tiêu điểm của trẻ mẫu giáo là phát triển vốn từ cho bé đặc biêt là trạng
từ). Chính vì vậy
mà tôi lựa chọn đề tài: Điều tra khả năng sử dụng trạng từ của trẻ Mẫu giáo lớn.
II.Mục đích nghiên cứu :

3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đề tài nghiên cứu đợc xuất phát điểm với mục đích: Có những biện pháp tích cực
hoá sử dụng trạng từ cho trẻ mẫu giáo lớn.
III. Đối tợng nghiên cứu :
Khả năng sử dụng trạng từ của trẻ mẫu giáo lớn.
IV.Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Đọc và su tầm tài liệu có liên quan đến đề tài.
- Tìm hiểu khả năng sử dụng trạng từ của trẻ mẫu giáo lớn ở trờng Mầm Non
thị trấn Thọ Xuân- Thanh Hoá
- Đề xuất một số biện pháp tích cực để giúp trẻ sử dụng trạng từ đúng và tốt.
V.Phơng pháp nghiên cứu:
1. Phơng pháp nghiên cứu lí luận.
2. Phơng pháp lấy ý kiến chuyên gia.
3. Phơng pháp điều tra.
4. Phơng pháp phân tích xử lí số liệu.


hoàn thành được mối liên hệ giữa các âm tiết trong câu hỏi và đối tượng mà
người lớn chỉ cho.
Như vậy trong quá trình tiếp xúc đầu tiên với người lớn, sự thông hiểu
ngôn ngữ của bé dần dần mang tính chất tích cực hơn và trở thanh phương
tiện quan trọng để mở rộng giao tiếp của trẻ với những người xung quanh.
Sang đến lứa tuổi ấu nhi , nhữg hình thức “chỉ đạo câm ” (tức là sự chỉ đạo
của người lớn đối với trẻ bằng cử chỉ, điệu bộ , nét mặt...) đã tỏa ra lỗi thời ,
không đáp ứng được nhu cầu chiếm lĩnh, phương thức sử dụng đồ vật của trẻ.
Hứng thú ngày càng tăng của trẻ đối với hoạt động với đồ vật, càng kích thích
trẻ hướng tới người lớn, mở rộng giao tiếp với họ để được họ giúp đỡ trong
việc nắm vững cách thức sử dụng đồ vật xung quanh. Đó chính là yếu tố làm
nãy sinh ở trẻ nhu cầu giao tiếp với người lớn bằng ngôn ngữ.

5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Sự xuất hiện ngôn ngữ nói là sự kiện quan trọng. Ngôn ngữ vừa là thay
thế cho đồ vật thật, vừa là phương tiện giao tiếp.
Theo Piaget , ngôn ngữ có ba ưu thế so với hành động vật chất:
1- Hành động bằng tay diễn ra với tốc độ chậm so với lời
nói mô tả.
2- Hành động bằng tay bị hạn chế bởi không gian chật hẹp
và thời gian trực tiếp, trong khi đó nhờ ngôn ngữ, tư
duy dễ dàng vượt ra khỏi giới hạn đó.
3- Hoạt động bằng tay diễn ra trình tự, từng tí một, còn
ngôn ngữ thì cho biểu tượng về toàn bộ.
Việc phát triển ngôn ngữ của trẻ ở thời điểm này phần lớn tùy thuộc
vào sự dạy bảo của người lớn. Những đứa trẻ mà người lớn ít giao tiếp
hay ít được thỏa mãn nhu cầu giao tiếp thì thường nói rất chậm. Để kích
thích trẻ nói người lớn cần đòi hỏi trẻ phô bày tỏ nguyện vọng của mình
bằng lời nói mới đáp ứng được nguyện vọng đó.

b. Hình thành ngôn ngữ tích cực.
Trẻ lên 2 hành động với các đồ vật ngày càng phong phúthì giao tiếp
với người xung quanh ngày càng mở rộng, đặc biệt từ tháng 20 trở đi đứa
trẻ trở nên mạnh dạn hơn , có nhiều sáng kiến hơn, điều đó không chỉ
thúc đẩy trẻ lĩnh hội ngôn ngữ, thông hiểu lời nói của những người xung
quanh mà còn kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ tích cực. Đay chỉ là phát
cảm ngôn ngữ. Trẻ không chỉ luôn đòi hỏi biết tên các đồ vật mà còn cố
gắng phát ra tên các đồ vạt đó.
Trong cư sử và hành động trẻ thường bắt gặp những sự vật và hiện
tượng lạ lùng , đầy hấp dẫn khiến trẻ muốn nói lại những điều thích thú
và ngạc nhiên cho người xung quanh. Để mong sự đồng cảm với mình trẻ
phải tìm cách diễn đạt ý nghĩa của mình sao cho người khác hiểu được,
điều đó đòi hỏi trẻ phải nắm được về mặt ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ. Ban
đầu trẻ dùng câu một tiếng, sau đó trẻ dùng câu 2 tiếng theo mô hình Chủ
- Vị, Vị ngữ + Bổ ngữ.
“Trẻ lên 3 cả nhà học nói ” . Đúng vậy, lên 3 ngôn ngữ tích cực của
trẻ phát triển mạnh mẻ , trẻ rất thích và hỏi luôn mồm suốt ngày. Nhờ đó
việc sử dụng các hình thức ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ đạt tới tiến bộ nhất
định, lời nói của trẻ thường gắn liền với quá trình tri giác và như là một
loại hình thức cú pháp riêng khác với người lớn. Có thể coi đây là một
loại hình cú pháp chuyển tiếp đến cú pháp chuẩn mực.
Nói đúng ngữ pháp tiếng mẹ đẻ là một thể hiện trẻ đã đạt tới một trình
độ cao trong sự phát triển ngôn ngữ. Về thực chất thì ngôn ngữ đã trở
thành một phương tiện để giao tiếp, để tiếp thu kinh nghiệm Xã hội, để tư
duy, tìm hiểu thế giới xung quanh và là một phương tiện để phát triển các
chức năng tâm lý khác. Những quá trình tâm lý của trẻ như tri giác, tư
duy, trí nhớ được cải tổ dưới hình ảnh ngôn ngữ . Đồng thời sự phát triển
ngôn ngữ của trẻ chịu ảnh hưởng của các quá trình tâm lý đó. Nhờ trí tuệ
phát triển việc lĩnh hội ý nghĩa của các từ cũng biến đổi.
Sang đến lứa tuổi Mẫu giáo ngôn ngữ của trẻ ngày càng được hoàn

ngôn ngữ khác, ít phụ thuộc vào tình huống hơn , ít nhất là trẻ cần phải mô tả
lại cho người khác những điều mà mình đã mắt thấy tai nghe, kiểu ngôn ngữ
này là ngôn ngữ ngữ cảnh , mang tính rõ ràng , khúc triết . Một kiểu ngôn ngữ
khác cũng đang phát triển đó là ngôn ngữ giải thích . Ở mẫu giáo lớn trẻ có
nhu cầu giải thích cho các bạn cùng tuổi về nội dung trò chơi, cách tạo ra trò
chơi và những thứ khá . Không những thế trẻ còn muốn giải thích cho người
lớn những điều mà trẻ cần họ hiểu. Ngôn ngữ giải thích đòi hỏi trẻ phải trình
bày ý kiến của mình theo một trình tự nhất định, phải nêu bật những điểm chủ
yếu và những mối quan hệ liên kết các sự vật và hiện tượng một cách hợp lý
để người nghe dễ đồng tình – gọi là ngôn ngữ mạch lạc. Muốn có ngôn ngữ
mạch lạc thì những điều trẻ định nói ra cần phải được suy nghỉ rõ ràng, rành
mạch ngay từ đầu, tức là cần được tư duy hổ trợ. Mặt khác ngôn ngữ mạch lạc
là phương tiện là cho tư duy của trẻ phát triển đến một chất lượng mới là Tư
duy logic , nhờ đó mà toàn bộ sự phát triển của trẻ được nâng lên trình độ
mới, cao hơn.

8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
II. Cơ sở giáo dục
Ngôn ngữ của trẻ được phát triển thông qua các hoạt động khác nhau.
Trước hết là thông qua hoạt động vui chơi. Thông qua vui chơi trẻ vừa học
vừa lao động cũng vừa là hình thức, là phương pháp giáo dục tốt nhất. Trên cơ
sở đó cô giáo đã sử dụng hoạt động chơi làm phương tiện giáo dục và phát
triển cho trẻ Mẫu Giáo. Chơi là một hoạt động độc đáo của trẻ, thông qua đó
trẻ được nói, ngôn ngữ của trẻ phát triển. Vui chơi trẻ phản ánh cuộc sống đã
làm cho chơi trở thành phương tiện giáo dục mạnh mẽ. Chính bởi vì cô giáo
có thể làm cho trẻ chú ý đến những hiện tượng mà nội dung của nó có giá trị
giáo dục. Hơn nữa trong khi hướng dẫn trẻ chơi cô giáo thông qua trò chơi
giáo dục tất cả mọi mặt cho cá nhân trẻ: ý thức tình cảm, ý chí, hành vi của trẻ
và sử dụng trò chơi nhằm mục đích phát triển trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, thể

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đôi khi biết hy sinh ý muốn cái nhân vì lợi ích chung của cả nhóm và cũng ở
nhóm chơi của mình mà trẻ biết nhận xét đánh giá bạn bè và ngay cả bản thân
mình.
Dạy học ở trường Mẫu giáo là quá trình phát triển có hệ thống , có kế
hoạch, có mục đích các năng lực nhận thức của trẻ , vũ trang cho trẻ hệ thống
tri thức sơ đẳng hình thành kỹ năng, kỹ xảo tương ứng . Trên cơ sở đó góp
phần hình thành nhân cách cho trẻ.
Trong quá trình dạy học gồm có nhiều hoạt động khác nhau như: làm
quen với văn học, hình thành biểu tượng toán học, làm quen môi trường xung
quanh … tất cả các hoạt động này nhằm mục đích mở rộng kiến thức hiểu biết
cho trẻ và bên cạnh đó còn có một nhiệm vụ vô cùng quan trọng là phát triển
ngôn ngữ cho trẻ. Hiện nay ở các trường Mẫu giáo có hai hình thức phát triển
lời nó cho trẻ đó là: các tiết học và ngoài tiết học . Các tiết học như biết tập
nói , làm quen với chữ cái(tiết học chuyên biệt)- làm quen với môi trường
xung quanh , làm quen với tác phẩm vưn học (tiết học có ưu thế phát triển lời
nói), các tiết học khác như tổ chức hoạt động tạo hình, giáo dục âm nhạc…
Tất cả giờ học đều phát triển lời nói cho trẻ. Vì vậy trong giờ học các hoạt
động khác chúng ta phải chú ý phát triển ngôn ngữ cho trẻ vì ngôn ngữ là cửa
ngõ để trẻ có thể phát triển toàn diện nhân cách.
III. Cơ sở sinh lý.
Mỗi người sinh ra đả có sẵn bộ máy phát âm , đó là tiền đề vật chất để sản
sinh ra âm thanh ngôn ngữ. Đó là một trong nhữnng điều kiện vật chất quan
trọng nhất mà thiếu nó không thể có ngôn ngữ; nếu như trong cấu tạo của nó có
một sự khiếm khuyết nào đó chẳng hạn như hở hàm ếch , lưỡi ngắn, sứt môi, thì
việc hình thnàh lời nói cũng hết sức khó khăn.
Mỗi con người không phải đả có ngay một hệ thống phát âm hoàn chỉnh,
mà chính lứa tuổi mầm non là giai đoạn hoàn thiện dần dần bộ máy đó. Đó là sự
xuất hiện của hai hàm răng, sự vận động của môi , lưỡi…Quá trình đó diễn ra tự
nhiên theo quy luật sinh học. Tuy nhiên , bộ máy phát âm hoàn chỉnh mới chỉ là

Ngôn ngữ chíng là một trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành
một thành viên của xã hội loài người. Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu để trẻ
có thể bày tỏ những nguyện vọng của mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có
thể chăm sóc, điều khiển, giáo dục trẻ là một điều kiện quan trọng để trẻ tham
gia vào mọi hoạt động và trong hoạt động hình thành nhân cách của trẻ.
Ngôn ngữ là công cụ phát triển trí tuệ. Ngôn ngữ là hiện thực của tư
duy. Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư duy của con người không được
diễn ra được. Ngôn ngữ làm cho các kết quả của tư duy được cố định lại, do đó
có thể khách quan hóa nó cho người khác và cho bản thân chủ thể tư duy.
Ngoài ra ngôn ngữ còn là công cụ để trẻ học tập, vui chơi: Ngôn ngữ
được tích hợp trong tất cả các loại hình hoạt động giáo dục, ở mọi lúc, mọi nơi.
Như vậy ngôn ngữ cần cho tất cả các hoạt động và ngược lại, mọi hoạt kkộng
tạo điều kiện cho ngôn ngữ trẻ phát triển.
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ được các nhà tâm lý- ngôn ngữ học nhìn
nhận từ những góc độ khác nhau L.S.Vưgôtxky xuất phát từ mục đích mà nhìn
nhận: “Bản chất sự phát triển ngôn ngữ nhằm mục đích giao tiếp, nhận thức, tất
nhiên sự phát triển ngôn ngữ của trẻ không chỉ thuần túy dựa trên sự phát triển
khả nằng nhận thức của trẻ”- A.A.Lêonchieplại cho rằng: “ Sự phát triển của
ngôn ngữ của trẻ em trước hết là sự phát triển của phương thức giao tiếp”-
K.Hai-nơ cho rằng: Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ trải qua các giai đoạn từ thấp
đến cao, phù hợp với các giai đoạn nhất định của lứa tuổi có thể lấy được nguồn
gốc của sự phát triển ngôn ngữ ở các giai đoạn trước .
Chúng ta thấy rằng việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 0-6 tuổi vô cùng
quan trọng. Nhất là việc phát triển ngôn ngữ để trẻ chuẩn bị vào trường phổ

11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thông. Với trẻ 5-6 tuổi vốn từ của trẻ có khoảng 1033 từ. Ở lứa tuổi này tính từ
và các từ loại khác chiếm tỷ lệ cao- trong đó có trạng từ. Trạng từ là một từ loại
khó đối với trẻ. Hiện nay ở các Trường mầm non chưa chú ý nhiều đến việc dạy

chia làm 3
phòng(phòng ăn, phòng chơi-ng, phòng vệ sinh)
Năm 2005-2006 trờng vừa đợc đón nhận là trờng chuẩn quốc gia. Trong các
cuộc thi cấp huyện, cấp tỉnh trờng đạt rất nhiều thành tích cao nh: giải nhất cuộc thi
đồ dùng dạy học sáng tạo cho môn toán, giải nhì cuộc thi tiếng hát giáo viên mầm
non toàn tỉnh, giải ba cuộc thian toàn giao thông.
Tôi thực hiện nghiên cứu đề tài này tại lớp mẫu giáo lớn A1 Với 25 cháu. tôi
thực hiện nghiên cứu ở các cháu có cùng lứa tuổi, các cháu hoàn toàn bình thờng(về
sức khoẻ, trạng thái tâm lý, hoạt động thần kinh ),các cháu xuất thân từ các hoàn
cảnh khác nhau.
TT Họ và Tên Giới tính Hoàn cảnh gia đình

13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1 Trần Ngọc Trâm Nữ Bố-Mẹ làm cán bộ
2 Phạm Đức Vợng Nam Bố-Mẹ làm cán bộ
3 Lê Văn Tiến Nam Bố-Mẹ kinh doanh tự do
4 Trần Đức Hiếu Nam Bố-Mẹ làm cán bộ
5 Nguyễn Thu Hằng Nữ Bố-Mẹ làm nông nghiệp
6 Lê Hồng Ngọc Nữ Bố-Mẹ làm cán bộ
7 Nguyễn Đức Minh Nam Bố-Mẹ
8 Nguyễn Bảo Anh Nữ Bố-Mẹ làm cán bộ
9 Hoàng Đình Lộc Nam Bố-Mẹ làm nông nghiệp
10 Nguyễn Đỗ Đạt Nam Bố-Mẹ Làm cán bộ
11 Đoàn Doãn Chơng Nam Bố-Mẹ làm nông nghiệp
12 Lê Chi Mai Nữ Bố-Mẹ làm cán bộ
13 Đặng Quang Linh Nam Bố-Mẹ làm cán bộ
14 Vũ Thu Trang Nữ Bố-Mẹ kinh doanh tự do
15 Nguyễn Linh Chi Nữ Bố-Mẹ làm nông nghiệp
16 Nguyễn Hải Long Nam Bố-Mẹ làm cán bộ

- Dùng màn hình vi tính.
1 Đặt câu hỏi:
Trong 29 trạng từ trên có những trạng từ không thể kiểm tra bằng cách đặt câu
hỏi đợc mà phải dùng cách khác, chỉ có một số trạng từ là ta có thể hỏi đợc bằng
cách đặt câu hỏi nh:
- Vào buổi sáng các cháu thấy ông mặt trời nh thế nào?
- Buổi sáng các cháu làm gì ở trờng mầm non?
- Sau buổi tra là buổi nào?
- Hôm nay là thứ 2 thì ngày mai là thứ mấy?
- Hôm qua là thứ mấy?
- Ngày tiếp theo của thứ 7 là thứ mấy?
- Cháu hãy kể các buổi trong ngày theo thứ tự?

15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Để biết đợc khả năng hiểu nghĩa và khả năng sử dụng từ trong câu chúng ta cũng có
thể đặt ra câu hỏi và quan sát khi trẻ tham gia các hoạt động.
Ví dụ: tại sao con biết hôm nay là thứ 2?
2 Dùng tranh minh họa
Để tổ chức hoạt động nhằm giúp trẻ hiểu và sử dụng trạng từ chúng ta có thể
sử dụng những tranh sau:
- Tranh 1: Cảnh bé tập thể dục buổi sáng ở trờng mầm non.
- Tranh 2: Cảnh bé ngủ tra ở trờng mầm non
- Tranh 3: Cảnh phụ huynh đón bé từ trờng mầm non về nhà.
- Tranh 4: Cảnh bé xem hoạt hình buổi tối.
- Tranh 5: Cảnh cả nhà ngủ đêm.
- Tranh 6:Quang cảnh bình minh buổi sáng.
- Tranh 7: Quang cảnh hoàng hôn buổi chiều.
- Tranh 8: Quang cảnh không gian vào ban đêm.
Khi dùng tranh minh họa giáo viên phải đặt câu hỏi để trẻ phát hiện ra nét đặc

5 Nguyễn Thu Hằng 23 80 20 70 14
6 Lê Hồng Ngọc 25 86 19 66 15
7 Nguyễn Đức Minh 19 66 18 62 12
8 Nguyễn Bảo Anh 21 73 21 73 17
9 Hoàng Đình Lộc 20 70 17 59 14
10 Nguyễn Đỗ Đạt 21 72 21 73 16
11 Đoàn Doãn Chơng 25 86 18 62 12
12 Lê Chi Mai 20 70 20 70 19
13 Đặng Quang Linh 24 83 20 70 16
14 Vũ Thu Trang 23 80 21 73 16
15 Nguyễn Linh Chi 21 73 21 73 18
16 Nguyễn Hải Long 26 90 22 76 18
17 Thân Hải Long 23 80 20 70 15
18 Bùi Hữu Nghĩa 26 90 21 73 18
19 Trần Thanh Tú 27 93 22 76 18
20 Trần Mạnh Hùng 21 73 17 59 16
21 Trần Bảo Ngọc 22 76 16 55 14
22 Đỗ Ngọc Nam 22 76 15 52 14
23 Ngô Hải Nam 15 52 14 49 12
24 Nguyễn Diễm Quỳnh 26 90 20 70 16
25 Nguyễn Minh Anh 14 49 12 42 10
V. Nhận xét-phân tích kết quả điều tra
Sau khi thu đợc kêt quả điều tra tôi cho điểm nh sau:
23-29 từ: tốt
16-22 từ: trung bình
<16 từ: yếu
Kết quả điều tra
Tốt Trung bình Yếu
Cháu % Cháu % Cháu %
Vốn từ 12 48 11 44 2 8

theo nó là ngôn ngữ kém phát triển kéo theo nó là số lợng trang từ trong vốn từ trẻ ít.
Vì thế m nhìn vào bảng ta thấy có cháu có số lợng trạng từ 27 từ (Trần Thanh Tú),
Nguyễn Diễm Quỳnh(26 từ) nhng có cháu chỉ có 14 từ Nguyễn Minh Anh, Ngô Hải

18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nam(15 từ). Minh Anh và Hải Anh là hai cháu khả năng tập trung nói kém ít hoạt
động với bạn bè, cháu Minh Anh mãi 4 tuổi cháu mới đi trờng mầm non
- Đặc điểm tâm sinh lý: Các cháu trong lớp hoàn toàn bình thờng song vẫn có
sự khác nhau về đặc điểm tâm sinh lý của các bé. Nhng cháu Lê Văn Tiến, Lê Hồng
Ngọc, Quang Linh, Diễm Quỳnh, Hữu Nghĩa là những cháu năng nỗ a hoạt động.
Trong mọi hoạt động trẻ luôn tham gia tích cực trẻ nói rất nhiều, hay nói không bị
nói ngọng. Trong đó có cháu Hồng Ngọc là biết nói khi cháu 11 tháng.
Hoạt động của Não bộ quyết định mọi hoạt động của cháu. Nhng cháu có số
lợng trạng từ cao là những cháu không có chấn thơng hay khó khăn gì thì khi mẹ sinh
ra đến quá trình lớn lên đi học của trẻ. Cháu Hải Nam là cháu bị đẻ non và phải mỗ
đẻ, mặt khác cháu lại là bé mất cha từ bé. Điều đó đã ảnh hởng rất lớn đến tâm lý.
Sinh lý của trẻ kéo theo nó là sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đặc biệt là số lợng trạng
từ khả năng hiểu nghĩa và khả năng sử dụng trạng từ trong câ.
Qua kết quả điều tra ta thấy: Khả năng hiểu và sử dụng trạng từ của trẻ đạt kết
quả cha có không có kết quả tốt trung bình(44%), yếu(56%). Từ kết quả đó ta thấy đ-
ợc rằng trẻ có số lợng trạng từ cao nhng việc hiểu và sử dụng từ trong câu đạt kết quả
cha cao còn kém. Vì vậy trong các hoạt động vật chất, các hoạt động có mục đích
học tập: Môi trờng xung quanh,Toán, Văn học, Tạo hình chúng ta phải tăng c ờng
cho trẻ sử dụng trạng từ.
VI, Kết luận chung:
Trạng từ là một từ loại khó với trẻ.Trớc lứa tuổi mẫu giáo tr học chủ yếu là
thômg qua con đợc bắt chớc. Vì vậy mà việc hiểu và sử dụng từ trong câu của trẻ còn
bị hạn chế. Song số lợng trạng từ hay khả năng hiểu và sử dụng từ trong câu của mi
trẻ lại có sự khác do: Hoàn cảnh gia đỡnh , khả năng chú ý ghi nhớ có chủ định và

hoá những kiến thức của trẻ và dạy cho trẻ ứng dụng những kiến thức đó vào quá
trình sử dụng trạng từ chỉ thời gian cho phù hợp với văn cảnh.
Trẻ mẫu giáo lớn t duy trực quan sơ đồ đang đợc phát triển nhờ đó mà khả
năng khái quát biểu tợng ở trẻ càng phát triển mạnh.Chính vì vậy mà khi dạy trẻnắm
đợc những trạng từ đặc biệt là những trạng từ chỉ thời gian không chỉ dừng lại ở việc

20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status