MỤC LỤC
GVHD: TS. TRẦN THỊ MỘNG TUYẾT Nhóm 10-DEM 4-K22
LỜI NÓI ĐẦU
Thị trường chứng khoán là một kênh truyền dẫn vốn, kênh đầu tư quan trọng, một hàn
thử biểu cho cả nền kinh tế với “Sự nhạy cảm” của mình, thị trường này cho thấy nhanh
nhất sức khỏe của một nền kinh tế.
Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam sau 13 năm hoạt động đã trải qua rất nhiều
biến đọng cả thăng lẫn trầm, có những sự tăng trưởng ấn tượng nhưng cũng có lúc đây
chỉ là sự tăng trưởng theo trào lưu bày đàn hay chiêu trò làm giá trên thị trường còn non
trẻ của nước ta. Việc nhận định về thực trạng cũng như đưa ra những định hướng về sự
phát triển của thị trường này, mặc dù không phải là mới mẻ nhưng lại rất cần thiết. Do đó,
đề tài tiểu luận của nhóm xin trình bày vài nét về TTCK Việt Nam cũng như những định
hướng và giải pháp thực hiện cho TTCK giai đoạn hiện nay.
Tiểu luận gồm ba phần:
- NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
- THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
- ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
- CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
Do kiến thức và thời gian nghiên cứu có hạn nên chắc chắn bài viết còn nhiều thiếu sót.
Kính mong sự đóng góp ý kiến của cô giáo để bài viết này được hoàn thiện hơn. Xin chân
thành cảm ơn!
2
THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TTCK VIỆT NAM
1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
1.1. Khái niệm về TTCK :
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về TTCK, nhưng thị trường chứng khoán
trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động
giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn. Chứng khoán được hiểu là các loại
giấy tờ có giá hoặc bút toán ghi sổ. Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp
khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị
1.2.3. Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường
Thị trường chứng khoán cũng có thể được phân thành các thị trường:
thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh.
- Thị trường cổ phiếu : thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua bán các
loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi.
- Thị trường trái phiếu : thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và mua bán các
trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty,
trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ.
- Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh : Thị trường các chứng khoán phái
sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính khác như:
quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn
1.3. Vai trò và chức năng của thị trường chứng khoán
- Thứ nhất, thị trường chứng khoán, với việc tạo ra các công cụ có tính thanh khoản
cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời hạn của vốn phù hợp
với yêu cầu phát triển kinh tế.
- Thứ hai, thị trường cứng khoán góp phần thực hiện tái phân phối công bằng hơn,
thông qua việc buộc các tập đoàn gia đình trị phát hành chứng khoán ra công
chúng, giải tỏa sự tập trung quyền lực kinh tế của các tập đoàn, song vẫn tập trung
vốn cho phát triển kinh tế.
4
THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TTCK VIỆT NAM
- Thứ ba, thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho việc giữa sở hữu và quản lý
- Thứ tư, hiệu quả của quốc tế hóa thị trường chứng khoán . Việc mở của thị trường
chứng khoán làm tăng tính thanh khoản và cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
- Thứ năm, thị trường cứng khoán tạo cơ hội cho Chính Phủ huy động các nguồn tài
chính mà không tạo áp lực về lạm phát, đồng thời tạo các công cụ cho việc thực
hiện chính sách tài chính tiền tệ của Chính Phủ.
- Thứ sáu, thị trường chứng khoán cung cấp một dự báo hiệu quả về các chu kỳ kinh
doanh trong tương lai.
1.4. Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
sử nó vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Sau nhiều năm chờ đợi và chuẩn bị vào ngày
11/7/1998, chính phủ nước ta đã ký nghị định 18/CP ban hành về chứng khoán và thị
trường chứng khoán. Và ngày đó cũng là ngày đánh dấu sự ra đời của TTCK Việt Nam.
- TTCK đã ra đời từ lâu trên thế giới nhưng ở Việt Nam đây vẩn càn là một khái niệm khá
mới mẻ. Tuy nhiên để Việt Nam có thể hoà vào cùng với sự phát triển của thế giới và tạo
đà thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển chúng ta phải cố gắng để xây dựng nên một
TTCK. Đây là một công việc rất khó khăn đòi hỏi sự cố gắng, quyết tâm của nhiều ban
ngành cũng như của các cấp lãnh đạo. Sau ba tháng ráo riết chuẩn bị, một sự kiện đáng
ghi nhớ và có ý nghĩa trong đời sống kinh tế chính trị của nước ta đó là việc khai trương
TTCK đầu tiên của nước ta ngày 20/7/2000.
- Tại thời điểm thành lập, nước ta có 600 công ty cổ phần, trong đó có 60 công ty đủ điều
kiện niêm yết trên TTCK nhưng chỉ có 5 công ty tham gia niêm yết. Sau đó có sự biến
đổi nhưng chưa đáng kể đã có tới 660 công ty cổ phần trong đó có 80 công ty có đủ tiêu
chuẩn tham gia niêm yết nhưng số lượng các công ty tham gia niêm yết vẫn chỉ dừng lại
ở con số 5 gồm : Hpaco, REE, SAM ,Laffooco và TMS. Với cầu cổ phiếu từ lúc đầu và
sau khi thành lập tăng nhanh nhưng số công ty tham gia niêm yết ít nên hàng hoá trên
TTCK thiếu rất nhiều, cung không đáp ứng đủ cầu. Để giúp cho TTCK hoạt động sôi
động và có hiệu quả, Nhà nước đã có những chính sách ưu đãi về thuế , phí … nhằm kích
thích sự tham gia niêm yết của các công ty cổ phần.
1.6. Những rủi ro trên thị trường chứng khoán việt nam:
6
THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TTCK VIỆT NAM
Các nhà đầu tư khi đưa ra quyết định dựa vào phân tích 2 yếu tố là rủi ro và thu nhập kỳ
vọng để xây dựng danh mục đầu tư hữu hiệu. Đó là sự kết hợp giữa danh mục đầu tư thị
trường và lãi suất không rủi ro. Dựa vào kết quả này chúng ta sẽ tìm ra một mô hình để
định giá cho những tài sản có nguy cơ rủi ro. Trước tiên là rủi ro của danh mục đầu tư.
Rủi ro hệ thống, rủi ro không hệ thống và đa dạng hóa đầu tư.
1.6.1. Rủi ro hệ thống
-Rủi ro thị trường: giá cổ phiếu có thể dao động mạnh trong một khoảng thời gian mặc dù
thu nhập của công ty vẫn không thay đổi. Nguyên nhân của nó có thể rất khác nhau như
tình trạng này, công ty có thể bị sụt giảm lợi nhuận và cổ tức. Rủi ro kinh doanh có thể
được chia thành 2 loại cơ bản: bên ngoài và nội tại. Rủi ro kinh doanh nội tại phát sinh
trong quá trình vận hành hoạt động của công ty. Rủi ro kinh doanh bên ngoài là những
trường hợp xảy ra bên ngoài năm ngoài kiểm soát của công ty và làm ảnh hưởng tới tình
trạng hoạt động của công ty. Các yếu tố bên ngoài, từ chi phí tiền vay tới sự cắt giảm
ngân sách, thuế nhập khẩu tới sự suy thoái của chu kỳ kinh doanh.
- Rủi ro tài chính: liên quan đến việc công ty tài trợ cho hoạt động của mình. Người ta
thường tính toán rủi ro tài chính bằng việc xem xét cấu trúc vốn của công ty. Rủi ro tài
chính là rủi ro có thể tránh được trong phạm vi của công ty mà các nhà quản lý có quyền
quyết định vay hay không vay. Một công ty có thể không vay chút nợ nào, tức là không
có rủi ro tài chính.
2. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
2.1. Các giai đoạn của tiến trình phát triển TTCK Việt Nam
2.1.1. Giai đoạn 2000-2007
- Mở đầu “gà gật”:
Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưa vào vận
hành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000 và thực hiện
phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000. Ở thời điểm lúc bấy giờ, chỉ có 2 doanh
nghiệp niêm yết 2 loại cổ phiếu (REE và SAM) với số vốn 270 tỷ đồng và một số ít trái
phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch.
Trong những giai đoạn đầu, thị trường luôn ở trong trạng thái gà gật, chỉ có một giai đoạn
đầu năm 2001 thị trường có những khởi sắc (chỉ số VN index cao nhất đạt 571.04 điểm
8
THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TTCK VIỆT NAM
sau 6 tháng đầu năm nhưng chỉ trong vòng chưa đầy 4 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10, các
cổ phiếu niêm yết đã mất giá tới 70% giá trị, chỉ số VN Index sụt từ 571,04 điểm vào
ngày 25/4/2001 xuống chỉ còn khoảng 200 điểm vào tháng 10/2001. Trong 4 tháng
“hoảng loạn” này, trong khi nhiều nhà đầu tư tháo chạy khỏi thị trường với lời nguyền
không bao giờ quay lại thì một số nhà đầu tư khác vẫn bình tĩnh bám trụ, âm thầm mua
bán và tiếp tục kiếm được lợi nhuận. Trong 5 năm đầu thành lập chỉ số VN-Index lúc cao
ba-buê. Và sự bừng dậy của thị trường non trẻ này đang ngày càng "hút hồn" các nhà đầu
tư trong và ngoài nước. Với một màn trình diễn vô cùng ấn tượng trong năm 2006, thị
trường chứng khoán nước ta đã có một sự phát triển đáng kinh ngạc mà gia đoạn sau này
không thể lập lại đó là khối lượng vốn hóa thị trường đã tăng gấp 15 lần trong 1 năm, chỉ
số Vn-Index tại sàn giao dịch TP. Hồ Chí Minh (HASTC) tăng 144% năm 2006, tại sàn
giao dịch Hà Nội (HASTC) tăng 152,4%, cuối năm VN-Index cuối năm tăng 2,5 lần so
đầu năm. Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỉ USD vào cuối năm 2006 (chiếm 22,7% GDP).
Trong vòng một năm, chỉ số Vn-Index tăng hơn 500 điểm, từ hơn 300 điểm cuối 2005 lên
800 điểm cuối 2006.
Trong khoảng từ giữa đến cuối năm 2006, tình trạng đầu tư vào cổ phiếu ở nước ta mang
tâm lý “đám đông”, cả người có kiến thức và hiểu biết, cả những người mua, bán theo
phong trào, qua đó đẩy TTCK vào tình trạng “nóng”, hiện tượng “bong bóng” là có
thật. Mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng đột biến, tháng 12-2006
đạt 13,8 tỉ USD (chiếm 22,7% GDP) Đặc biệt, số lượng các nhà đầu tư mới tham gia thị
trường ngày càng đông, tính đến cuối tháng 12- 2006, có trên 120.000 tài khoản giao dịch
chứng khoán được mở, trong đó gần 2.000 tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài.
Năm 2006, kỷ lục mới của VN-Index được xác lập ở mốc 809,86 điểm. Với HASTC-
Index là nỗ lực chạm mốc 260 điểm. Tính chung, so với đầu năm, chỉ số VN-Index đã có
mức tăng trưởng tới 146% và HASTC-Index tăng tới 170%. Đây là những mức tăng mà
các thị trường trên thế giới phải thừa nhận là quá ấn tượng.
Năm 2007, đánh dấu thị trường có những bước phát triển về khung pháp lý góp phần làm
nhà đầu tư vững tin hơn vào tiềm năng phát triển của thị trường và đưa thị trường trường
dần hòa nhập với thị trường tài chính thế giới. Cụ thể tính công khai minh bạch của các tổ
chức niêm yết được tăng cường hơn kể từ khi Luật chứng khoản có hiệu lực vào ngày
10/01/2007.
Nhìn chung diễn biến của thị trường và giá cả chứng khoán trong các phiên giao dịch có
nhiều biến động, Index của cả 2 sàn giao dịch đều có biên độ giao động mạnh. Kết thúc
10
THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TTCK VIỆT NAM
phiên giao dịch cuối năm, VNIndex đạt 927,02 điểm, HASTC-Index dừng ở mức 323,55
UBCKNN đã có 04 lần thay đổi biên độ dao động giá trên cả 2 sàn chứng khoán. Nhằm
11
GVHD: TS. TRẦN THỊ MỘNG TUYẾT Nhóm 10-DEM 4-K22
hỗ trợ thêm cho sức cầu trên thị trường, ngăn đà suy giảm mạnh của các chỉ số chứng
khoán, ngày 04/03/2008, Chính phủ đã đưa ra nhóm 19 giải pháp ứng cứu thị trường:
Cho phép SCIC mua vào cổ phiếu trên thị trường, kêu gọi và tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp niêm yết mua vào cổ phiếu quỹ
Sự tăng trưởng nóng trong năm 2007, đặc biệt vào những tháng cuối năm đã đưa
đến những dấu hiệu bất ổn về kinh tế vĩ mô. Cụ thể: Chỉ số tiêu dùng CPI, thị trường
hàng hóa, tiền tệ, Thâm hụt thương mại cao nhất vào trong năm tháng đầu năm với mức
trung bình là khoảng 2,6 tỷ USD/tháng.
• Giai đoạn 2: Tháng 06 tới đầu tháng 09 - Phục hồi trong ngắn hạn
Nhờ vai trò dẫn dắt của một số cổ phiếu Blue -chip như STB, FPT, DPM…và đặc biệt là
SSI với sức cầu hỗ trợ từ đối tác nước ngoài, cả hai sàn chứng khoán đã có được những
phiên tăng điểm mạnh trong giai đoạn này. VN-Index và HASTC-Index liên tiếp vượt
qua các ngưỡng cản tâm lý quan trọng và thường xuyên có được những chuỗi tăng điểm
kéo dài. Đây cũng là giai đoạn thị trường hoạt động sôi động nhất. Sức cầu mạnh, kéo
theo khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch thường xuyên ở mức cao. VN-Index tăng
được 168,55 điểm, tương đương 45,52%. Khối lượng giao dịch bình quân đạt 16,9 triệu
CP&CCQ, tương đương 599,18 tỷ đồng/phiên.
Trong giai đoạn này, nhóm cổ phiếu được ưa thích nhất là nhóm cổ phiếu dầu khí (tăng
80,33%), nguyên vật liệu và công nghệ (tăng 89,78%). Các đại diện tiêu biểu cho nhóm
cổ phiếu này bao gồm: PVS, PVD, PTC, HPG, FPT…
• Giai đoạn 3: Từ tháng 09 tới tháng 12 - Thị trường rơi trở lại chu kỳ giảm do tác động
của khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Đây là thời kỳ VN-Index rơi trở lại xu hướng giảm, thậm chí đã phá vỡ đáy thiết lập được
trong giai đoạn đầu của năm 2008. Tổng kết cả giai đoạn này, VNIndex mất 223,48 điểm,
tương đương 41,45%. Khối lượng giao dịch trung bình đạt 15,82 triệu CP&CCQ, tương
đương 497,58 tỷ đồng/phiên.
Nguyên nhân tác động lớn nhất tới TTCK trong giai đoạn này chính là sự lan tỏa mạnh
ngoài chỉ bán ra lượng cổ phiếu có giá trị khoảng 2 triệu USD ttrong ba tháng đầu năm
2009. Nguyên nhân chính cho điều này là phần lớn tiền đầu tư của nhà đầu tư nước
ngoài, nếu không tính đến những quỹ đóng, đã rút hết khỏi thị trường Việt Nam (Quỹ đầu
tư chứng khoán PXP Vietnam Emerging Equity Fund mới đây cho phép nhà đầu tư rút cổ
phiếu ra và sau đó họ có thể bán số cổ phiếu này).
Năm 2010, Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2010 trải qua trải qua một năm giao
13
GVHD: TS. TRẦN THỊ MỘNG TUYẾT Nhóm 10-DEM 4-K22
dịch với nhiều biến đầy biến động không kém năm 2009 và để lại nhiều cảm xúc trái
ngược cho nhà đầu tư, từ cao trào thất vọng cho đến cảm xúc thăng hoa.
Nữa đầu năm 2010, thị trường chứng khoán biến động trong biên độ hẹp 480 - 550 điểm
với thanh khoản ở mức trung bình. Nguyên nhân thị trường đi ngang trong suốt 6 tháng
đầu năm được nhận định là bởi tâm lý thận trọng của giới đầu tư cùng sự khan hiếm của
dòng tiền. Trong giai đoạn này, Chính phủ áp dụng những biện pháp nhằm hướng dòng
vốn vào lĩnh vực sản xuất và hạn chế cấp vốn cho các kênh như chứng khoán, bất động
sản. Đồng thời, lượng cổ phiếu niêm yết, cổ phiếu thưởng tăng lên nhanh chóng làm cho
dòng tiền trên thị trường càng trở nên khan hiếm.
Trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 8, thị trường chứng khoán bước vào giai
đoạn lao dốc khi hai chỉ số chứng khoán đều chạm mốc thấp nhất trong vòng một năm.
Trong vòng 2 tháng, Vn - Index mất hơn 16%.
Từ cuối tháng 8, những bất ổn của nền kinh tế dần bộc lộ và đỉnh điểm là đầu tháng 11,
Chính sách tiền tệ đột ngột thay đổi - thể hiện rõ quyết tâm kiềm chế lạm phát, kéo theo
một cuộc đua lãi suất giữa các ngân hàng. Với thị trường chứng khoán, điểm ngạc nhiên
là sau một tuần rơi mạnh bởi biến động khó lường của tỷ giá cùng giá vàng trong và
ngoài nước, thị trường đã quay đầu hồi phục vào cuối tháng 11, đầu tháng 12. Đây có thể
coi là thành công của chứng khoán Việt Nam bởi đa phần các thị trường lớn trên thế giới
đều mất điểm trong thời gian này.
Năm 2010 được xem là năm của các “đội lái”. Nếu như trước đây, các “đội lái” hoạt động
tác chiến riêng lẻ nay nhiều “đội lái” đã phối hợp lại với nhau để cùng để đẩy giá một mã
cổ phiếu. Những điển hình cho thành công của các “đội lái” trong năm 2010 vừa qua có
Nguyên nhân khiến nhóm cổ phiếu ngân hàng mất đi tính hấp dẫn, ngoài quy định bắt
buộc tăng vốn lên 3.000 tỷ đồng (đã được giải tõa) còn bởi lý do lợi nhuận. Lợi nhuận từ
hoạt động tín dụng giảm so với cùng kỳ năm 2009 khiến cho kết quả kinh doanh của các
ngân hàng trong quý III đạt được cho là không cao (tính đến cuối quý III, tăng trưởng tín
dụng của toàn hệ thống chỉ đạt khoảng 19,5%). Đặc biệt, sau 9 tháng hoạt động, nhiều
ngân hàng mới chỉ thực hiện được hơn 2/3 chỉ tiêu lợi nhuận cả năm và nhiều ngân hàng
15
GVHD: TS. TRẦN THỊ MỘNG TUYẾT Nhóm 10-DEM 4-K22
phải điều chỉnh chỉ tiêu lợi nhuận.
Hoạt động mua bán sáp nhập (M&A) trên thị trường chứng khoán đã nở rộ cả về số
lượng lẫn hình thức trong năm 2010. Các vụ sát nhập doanh nghiệp điển hình là KMR
với KMF, HT1 với HT2, KDC với NKD. Các vụ chào mua công khai có VHG mua AGF,
Thành Thành Công chào mua cổ phiếu NHS, Prudential chào mua chứng chỉ quỹ
PRUBF1, Thành Thành Công cùng một số công ty khác mua lại toàn bộ phần vốn của
Tập đoàn Bourbon tại SBT, Bình Thiên An cùng các bên có liên quan thâu tóm đối với
DCC Trong bản báo cáo về tình hình M&A tại thị trường Việt Nam, Avalue Việt Nam
(tổ chức chuyên về các lĩnh vực tư vấn kinh doanh, định giá, mua bán sáp nhập và quan
hệ nhà đầu tư tại Việt Nam) cho rằng sự trỗi dậy của khu vực kinh tế tư nhân, sự đổi mới
khu vực doanh nghiệp nhà nước, đóng góp của các nhà đầu tư nước ngoài cũng như một
thị trường 86 triệu dân là những động lực phát triển của Việt Nam. Các yếu tố kế trên
cũng là các yếu tố thúc đẩy các hoạt động đầu tư kinh doanh, trong đó có hoạt động
M&A.
Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2011 tiếp tục được kỳ vọng phát triển cả về quy
mô và cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, thực tế thị trường có những diễn biến trầm lắng do sự bất
ổn của kinh tế của thế giới kéo theo những tác động nhất định đến kinh tế Việt Nam. Thị
trường chứng khoán Việt Nam năm 2011 ở tình trạng khó khăn nhất so với các năm
trước, kéo theo đó là sự xuất hiện nhiều hành vi vi phạm với diễn biến phức tạp.
UBCKNN đã ban hành 86 quyết định xử phạt đối với trường hợp vi phạm về chế độ báo
cáo và công bố thông tin. Tổng số tiền nộp phạt vào ngân sách nhà nước là 4,7 tỷ đồng.
Trong năm 2011, UBCKNN cũng đã quyết định xử phạt nặng đối với hành vi thao túng
toàn hệ thống lên tới 10% thay vì 4% như các NHTM báo cáo. Những bất ổn vĩ mô và hệ
thống ngân hàng bắt đầu xuất hiện. Niềm tin thị trường lung lay sau “quả bom”
Habubank công bố tình hình tài chính bê bét đã được che đậy với tỷ lệ nợ xấu lên tới 13%
và cần được giải cứu.
Việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng được đẩy mạnh, SHB tham gia vào tái cơ cấu
Habubank. Thị trường trở nên thiếu tiền trầm trọng, mặc dù lãi suất giảm mạnh song các
17
GVHD: TS. TRẦN THỊ MỘNG TUYẾT Nhóm 10-DEM 4-K22
doanh nghiệp không tiếp cận được vốn vay do các ngân hàng phải xử lý nợ xấu.
Tính hình trở nên bê bét hơn sau ngày 21/8 – ngày được coi là “ngày thứ ba đen tối” của
TTCK Việt Nam khi ông Nguyễn Đức Kiên – Phó Chủ tịch Hội đồng sáng lập của ngân
hàng ACB bị bắt. Tiếp theo đó, lãnh đạo ngân hàng ACB bị khởi tố, Chủ tịch STB bị điều
tra đã khiến lòng tin vào thị trường ngày càng lung lay. Cổ phiếu ngân hàng bị bán sàn
liên tiếp, thị trường gần như lao dốc không phanh.
So với đỉnh thiết lập tháng 5, mặc dù đã hồi phục khá nhiều trong tháng 12 song VN-
Index vẫn giảm 20% và HNX-Index giảm 36%.
Thanh khoản giảm mạnh và gần như cạn kiệt trong những ngày giao dịch tháng 11, bình
quân 2 sàn giao dịch khớp lệnh 300 tỷ đồng/phiên, tuy nhiên nếu tính tổng thể cả năm
2012, quy mô giao dịch bình quân mỗi phiên đạt 1.316 tỷ đồng, tăng 28% so với năm
2011 nhờ kéo dài thời gian giao dịch buổi chiều.
2.1.3. Giai đoạn đầu 2013
Vn-Index chốt phiên giao dịch cuối tháng 6/2013 đạt 481,12 điểm, giảm 7,19% so với
tháng trước, giảm 2,02% so với cuối quý 1 nhưng so với cuối năm 2012 vẫn tăng
16,29%. Trong khi đó, HNX-Index chốt phiên cuối tháng 6 ở mức 62,59 điểm, giảm
3,14% so với cuối tháng 5 nhưng 6 tháng vẫn tăng 9,63%.
18
THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TTCK VIỆT NAM
Tháng 6 thị trường bị ảnh hưởng mạnh bởi động thái rút vốn của các quỹ ETF, khá nhiều
Bluechips giảm từ 10-15% trong tháng 6 đã khiến Vn-Index giảm 7% so với tháng 5. Thị
trường cũng đã giảm xuống dưới mốc 500 điểm với thanh khoản có dấu hiệu giảm dần về
Tổng mức huy động trên thị trường chứng khoán thông qua phát hành cổ phiếu, đấu giá
cổ phần hóa và đấu thầu trái phiếu chính phủ trong 6 tháng đầu năm 2013 đạt 114.840 tỷ
đồng (tăng 37% so với cùng kỳ năm 2012).
Tuy nhiên, huy động vốn qua phát hành cổ phiếu giảm mạnh, chỉ đạt 2.344 tỷ đồng (giảm
58% so với cùng kỳ năm ngoái); đấu giá cổ phần hoá đạt 420 tỷ đồng (tăng 75% so với
cùng kỳ); Tổ chức được 110 đợt đấu thầu TPCP với tổng giá trị trúng thầu đạt trên
112.000 tỷ đồng (chiếm 67% so với tổng khối lượng trúng thầu cả năm 2012).
21
GVHD: TS. TRẦN THỊ MỘNG TUYẾT Nhóm 10-DEM 4-K22
2.2. Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam
2.2.1. Tâm lý bày đàn
Tâm lý bầy đàn hay tâm lý đám đông là sự mô tả cách một số người bị ảnh hưởng bởi các
người thân cận của họ thông qua những hành vi nhất định, theo xu hướng, và/hoặc theo
những điểm tựa.
Tâm lý bầy đàn xuất hiện trong nhiều ngành, lĩnh vực trong xã hội và tác động rất lớn
đến hoạt động đời sống đối với những đám đông bị chi phối. Nếu quan sát, chúng ta có
thể thấy tâm lý bầy đàn thể hiện trong cuộc sống hàng ngày cũng như các hoạt động kinh
tế khi chúng ta “chạy theo phong trào” đầu tư chứng khoán(2006-2007)
Hiệu ứng tâm lý bầy đàn trên TTCK thường diễn biến và khuếch đại nhanh do có sự “hỗ
trợ đắc lực” của công nghệ cao, cần hành động can thiệp tức thời từ các cơ quan quản lý.
Để tránh rơi vào tình thế bị thụ động, UBCKNN nên được trao thêm quyền và trách
nhiệm trong việc quản lý, điều hành, giám sát và xử lý các tình huống thị trường
Tâm lý bày đàn không xa lạ và như là một đặc tính của TTCK Việt Nam,đã có nhiều lúc
thị trường phát triển hưng thịnh, tăng trưởng nóng nhờ tâm lý hưng phấn của cá nhà đầu
tư, nhưng cũng có khi chính tâm lý đám đông làm thị trường xuống dốc nhanh chóng vì
những tin đồn khiến một đám đông nhà đầu tư bán gấp các cổ phiếu nắm giữ, tạo điều
kiện cho các nhà đàu tư “ngược dòng”. Tâm lý đầu tư theo các nhà đầu tư, quỹ ngoại để
đầu tư cũng là một làn sóng thường thấy trên thị trường nước ta.
2.2.2. Hiện tượng “làm giá” trên TTCK Việt Nam
Hiện tượng làm giá có thể dễ nhận biết qua việc một số mã chứng khoán bỗng tăng giá
Thứ tư, chính sách quản lý rủi ro thị trường của nhiều công ty chứng khoán vẫn chưa đủ
chuẩn để tham gia vào thị trường chứng khoán phái sinh, đòi hỏi nhiều kiến thức và kinh
nghiệm quản lý rủi ro để phòng ngừa các sự cố liên quan đến các sự kiện gây biến động
giá cao.
Các chuyên gia Cho rằng để phát triển được thị trường chứng khoán phái sinh, cần xây
dựng pháp chế, công nghệ và thu hút sự tham gia của nhiều thành viên nhằm xây dựng
23
GVHD: TS. TRẦN THỊ MỘNG TUYẾT Nhóm 10-DEM 4-K22
thanh khoản đồng thời bảo đảm sự an toàn của hệ thống và tài chính của các thành viên
cũng như những thành phần tham gia thị trường.
Kinh nghiệm cho thấy thị trường chứng khoán phái sinh thường phải phát triển từ từ theo
từng giai đoạn, bắt đầu với những sản phẩm đơn giản trước khi đưa ra các các phẩm phức
tạp hơn.
Các đề xuất cho rằng để bắt đầu xây dựng thị trường phái sinh, các cơ quan chức năng
nên bắt đầu quan tâm tới việc lên kế hoạch để mời các chuyên gia trong nước và nước
ngoài chuẩn bị xây dựng khung pháp lý và các tổ chức cần thiết như Trung tâm Bù trừ,
quỹ bù trừ.
3. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT
NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1. Mục tiêu:
Phát triển thị trường chứng khoán cả về quy mô và chất lượng hoạt động nhằm tạo ra
kênh huy động vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển, góp phần phát triển thị trường
tài chính Việt Nam; duy trì trật tự, an toàn, mở rộng phạm vi, tăng cường hiệu quả quản
lý, giám sát thị trường nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đầu tư; từng
bước nâng cao khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế.
Bên cạnh đó, cũng phải nhấn mạnh đến việc mở rộng phạm vi, tăng cường hiệu quả quản
lý, giám sát thị trường; bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người đầu tư; nâng cao
khả năng cạnh tranh và hội nhập thị trường tài chính quốc tế.
Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán liên hệ mật thiết với chiến lược phát triển
kinh tế xã hội nói chung và chiến lược phát triển tài chính đến năm 2020 nói riêng.
tăng quy mô về vốn cho các doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của
các công ty niêm yết.
Phát triển các định chế tài chính trung gian cho thị trường chứng khoán Việt Nam:
25