TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
MỤC LỤC
· Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: Thị trường chứng khoán phái sinh, bao gồm thị trường
hợp đồng tương lai, hợp đồng lựa chọn,… Đây là thị trường cấp cao mua bán chuyển giao các công cụ
tài chính cấp cao; Do đó thị trường này chỉ xuất hiện ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển ở
trình độ cao. ................................................................................................................................................. 7
1.3.3. Căn cứ vào lưu chuyển vốn: ............................................................................................................... 7
Thị trường sơ cấp: Là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trên thị trường này, vốn từ
nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới
phát hành. ..................................................................................................................................................... 7
Thị trường thứ cấp: Là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp. Thị
trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành. ....................................... 7
Thị trường thứ cấp là nơi trao đổi, mua bán các chứng khoán đã được phát hành. Nhà đầu tư mua đi
bán lại chứng khoán nhằm vào một trong các mục đích: cất giữ tài sản tài chính, nhận một khoản thu
nhập cố định hàng năm, hưởng chênh lệch giá. .......................................................................................... 7
1.4. Chức năng của thị trường chứng khoán: ............................................................................................... 7
1.5.3. Căn cứ vào lưu chuyển vốn: ............................................................................................................. 13
Thị trường sơ cấp: Là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trên thị trường này, vốn từ
nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới
phát hành. ................................................................................................................................................... 13
Thị trường thứ cấp: Là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp. Thị
trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành. ..................................... 13
Thực hiện : Nhóm 2- CH.K19 – NH-N2 1
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
LỜI NÓI ĐẦU
Việc hình thành và phát triển Thị trường (TTCK) là bước phát triển tất yếu của
nền kinh tế thị trường. Việt Nam với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường
cũng đòi hỏi phải có TTCK để làm cầu nối giữa một bên là các nhà đầu tư (bao
gồm các tổ chức kinh tế - xã hội và dân chúng) với bên kia là các doanh nghiệp cần
vốn kinh doanh và Nhà nước cần vốn để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế
TTCK ra đời xuất phát từ nhu cầu phát triển tất yếu của nền kinh tế. Một nền
kinh tế muốn phát triển, tăng trưởng nhanh và bền vững trước hết phải đáp ứng đủ nhu
cầu về vốn đầu tư. Tới một lúc nào đó, nhu cầu vốn này vượt quá khả năng đáp ứng
của các kênh huy động truyền thống. Mà trên thực tế, đang tồn tại một lượng vốn rất
lớn trong cộng đồng dân cư chưa tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, gây
mất cân đối trong nền kinh tế, đó là những người có cơ hội đầu tư sinh lời thì thiếu
vốn, trái lại những người có vốn nhàn rỗi thì lại không có cơ hội đầu tư, dẫn đến vốn
bị ứ đọng, gây lãng phí. Xuất phát từ nghịch lý này, TTCK đã ra đời đóng vai trò là
kênh dẫn vốn quan trọng, góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung, phân phối
vốn một cách hiệu quả trong nền kinh tế.
Hình thức sơ khai của TTCK đã xuất hiện cách đây hàng trăm năm vào khoảng
thế kỷ 15, ở các thành phố trung tâm thương mại của các nước phương Tây. Cho đến
nay, quá trình phát triển của nó đã trải qua nhiều bước thăng trầm. Lịch sử đã đánh
dấu hai đợt khủng hoảng lớn, đó là khi các TTCK lớn ở Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản bị sụp
đổ chỉ trong vài giờ vào “ ngày thứ 5 đen tối”, 29/10/1929 và “ngày thứ 2 đen tối”,
19/10/1987. Song, cùng với yêu cầu phát triển của nền kinh tế, thị trường đã được
phục hồi, tiếp tục phát triển và trở thành một thể chế tài chính không thể thiếu của
kinh tế thị trường.
1.2. Khái niệm thị trường chứng khoán.
Thực hiện : Nhóm 2- CH.K19 – NH-N2 3
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
TTCK được hiểu một cách chung nhất là nơi diễn ra các giao dịch mua bán,
trao đổi các chứng khoán. Nghĩa là ở đâu có giao dịch mua bán chứng khoán thì đó là
hoạt động của TTCK.
Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ có giá hay bút toán ghi sổ, nó có khả
năng chuyển nhượng, xác định số vốn đầu tư, cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu
về thu nhập và tài sản của tổ chức phát hành. Các quyền yêu cầu này có sự khác nhau
giữa các loại chứng khoán, tuỳ theo tính chất sở hữu của chúng. Có nhiều cách để
phân loại chứng khoán dựa theo các tiêu thức khác nhau. Nếu dựa theo tính chất của
chứng khoán thì hàng hoá trên thị trường bao gồm hai loại chủ yếu là chứng khoán
3. Chính phủ
Các trung gian tài chính
- Ngân hàng thương mại
- Bảo hiểm, quỹ hưu trí
- Tổ chức nhận tiền gửi và
cho vay
Tài trợ gián tiếp
Người đi vay vốn
1. Hộ gia đình
2. Doanh nghiệp
3. Chính phủ
Thị trường tài
chính
- Thị trường tiền tệ-
Vốn
Vốn
vố
n
Tài trợ trực tiếp
Vèn Vèn
Sơ đồ 1: Các dòng vốn qua hệ thống tài chính
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
Qua sơ đồ trên ta thấy, sự chuyển dịch vốn được thực hiện qua hai con
đường trực tiếp và gián tiếp. Những người cần vốn có thể huy động trực tiếp từ những
người tạm dư thừa vốn bằng cách bán các chứng khoán cho họ. Hoặc con đường thứ
hai để dẫn vốn là thông qua các trung gian tài chính, đây là một bộ phận đã chuyển tải
một khối lượng đáng kể nguồn tiết kiệm đưa vào đầu tư và góp phần tích cực trong
việc đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển vốn.
Như vậy, thị trường tài chính có vai trò hết sức quan trọng trong việc tích tụ, tập
trung, phân phối vốn một cách hiệu quả trong nền kinh tế. Được xem là đặc trưng cơ
Thị trường thứ cấp: Là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành
trên thị trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các
chứng khoán đã phát hành.
Thị trường thứ cấp là nơi trao đổi, mua bán các chứng khoán đã được phát
hành. Nhà đầu tư mua đi bán lại chứng khoán nhằm vào một trong các mục đích: cất
giữ tài sản tài chính, nhận một khoản thu nhập cố định hàng năm, hưởng chênh lệch
giá.
1.4. Chức năng của thị trường chứng khoán:
1.4.1. Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi
của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản
xuất xã hội. Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy
động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế,
phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.
Thực hiện : Nhóm 2- CH.K19 – NH-N2 7
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
1.4.2. Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ
hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính
chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù
hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.
1.4.3. Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu
thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản là
một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư. Đây là yếu
tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. TTCK hoạt động càng năng động và
có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng
cao.
1.4.4. Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một
các tiêu cực trong quản lý, đảm bảo phân bổ lợi ích một cách hài hoà giữa người sở
hữu, nhà quản lý và người làm công ăn lương. Đồng thời, TTCK đã tạo điều kiện thúc
đẩy quá trình cổ phần hoá DNNN.
Thứ ba, TTCK góp phần thực hiện tái phân phối công bằng hơn, thông qua việc
buộc các tập đoàn gia đình trị phát hành chứng khoán ra công chúng, từ đó phân tán
quyền lực kinh tế trong tay một số tập đoàn, tránh hiện tượng độc quyền, song vẫn tập
trung vốn cho phát triển kinh tế. Việc giải toả tập trung quyền lực kinh tế cũng tạo
điều kiện cạnh tranh công bằng hơn, qua đó tạo hiệu quả và tăng trưởng kinh tế.
Thứ tư, TTCK tạo cơ hội cho Chính phủ có thể huy động được các nguồn tài
chính để phục vụ cho các mục đích của mình mà không tạo áp lực về lạm phát, hơn
Thực hiện : Nhóm 2- CH.K19 – NH-N2 9
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
nữa, hoạt động của TTCK còn giúp tăng thu ngân sách cho Nhà nước, đồng thời tạo
các công cụ cho việc thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ.
Thứ năm, việc mở cửa TTCK làm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị trường
quốc tế hay nói khác đi muốn khẳng định đến tính hiệu quả của quốc tế hoá TTCK.
Điều này cho phép các công ty có thể huy động được một lượng vốn đầu tư lớn ở thị
trường ngoài nước, bên cạnh đó mở rộng các cơ hội kinh doanh cho các công ty trong
nước, cho phép các công ty có thể huy động nguồn vốn được rẻ hơn.
Thứ sáu, TTCK cung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu kỳ kinh doanh trong
tương lai. Việc giá chứng khoán lên xuống có xu hướng đi trước chu kỳ kinh doanh đã
đưa ra một dự báo giúp cho Chính phủ và các công ty có kế hoạch phân bổ các nguồn
lực của họ. Như vậy, TTCK cũng tạo điều kiện tái cấu trúc nền kinh tế.
Ngoài những tác động tích cực trên, hoạt động của TTCK cũng có những tác
động tiêu cực nhất định. Ta biết rằng, thị trường hoạt động dựa trên cơ sở thông tin
hoàn hảo, tuy nhiên ở hầu hết các thị trường không phải nhà đầu tư nào cũng có khả
năng tiếp cận thông tin đầy đủ và như nhau, vì vậy việc đưa ra các quyết định đầu tư
không hoàn toàn dựa trên việc xử lý thông tin, dẫn tới việc giá cả chứng khoán không
phản ánh chính xác giá trị công ty và chưa phân bổ một cách hiệu quả các nguồn lực.
Ngoài ra, còn có một số hiện tượng tiêu cực khác trên TTCK như hiện tượng đầu cơ,
những công ty lớn, còn có thị trường phi tập trung (OTC) chủ yếu dành cho việc giao
dịch chứng khoán của những DNV&N chưa hội đủ các điều kiện niêm yết trên thị
trường giao dịch tập trung. Thị trường OTC đại diện cho một thị trường thương lượng,
nơi mà người bán và người mua trực tiếp thương lượng với nhau về những điều kiện
chủ yếu của giao dịch như số lượng, giá… Có thể nói rằng, OTC là thị trường của
những nhà tạo lập thị trường - những nhà đầu tư chuyên nghiệp. Các nhà tạo lập thị
trường nắm trong tay một lượng chứng khoán đủ lớn và họ sẵn sàng mua bán chứng
Thực hiện : Nhóm 2- CH.K19 – NH-N2 11
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
khoán với nhau cũng như với các nhà đầu tư khi họ chấp nhận được giá cả của họ.
Tương tự như hệ thống thị trường tập trung, thị trường OTC thường được tổ chức theo
2 cấp: cấp quản lý Nhà nước và cấp tự quản.
Như vậy, trong TTCK để huy động vốn cho các doanh nghiệp, Sở giao dịch là
nơi giao dịch chứng khoán của những doanh nghiệp lớn, những doanh nghiệp này có
khả năng đáp ứng được những quy định niêm yết ngặt nghèo về vốn, tình hình hoạt
động kinh doanh…trên Sở, mà những DNV&N thường không đáp ứng đủ. Còn đại bộ
phận cổ phiếu của các DNV&N được giao dịch trên thị trường OTC, ở đó những tiêu
chuẩn niêm yết thường thấp hơn trên Sở giao dịch. Hay nói khác đi, TTCK cho các
DNV&N là một bộ phận chủ yếu của thị trường OTC. Sở dĩ người ta đưa ra các tiêu
chuẩn niêm yết khác nhau trên các loại thị trường là vì: nếu chúng ta không phân ra và
cứ để phát triển một TTCK chung cho tất cả các doanh nghiệp có quy mô khác nhau
thì Nhà nước khó đề ra những chính sách công bằng và quản lý tối ưu cho thị trường
chung ấy. Thực tế cho thấy, có doanh nghiệp vốn lớn hàng trăm tỷ đồng, nhưng cũng
có những doanh nghiệp quy mô vài tỷ đồng, quy mô của doanh nghiệp có thể quyết
định đến khả năng hoạt động, lĩnh vực kinh doanh, cách thức tiếp cận vốn, các tiêu chí
về rủi ro an toàn, niềm tin của nhà đầu tư…đối với hoạt động của doanh nghiệp. Vì
vậy, người ta thường có sự phân tách giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế
để có những chính sách, chiến lược phù hợp điều chỉnh hoạt động của từng doanh
nghiệp. Hơn nữa khi ra quyết định đầu tư, nhà đầu tư cũng thường quan tâm đến độ
lớn vốn chủ của các doanh nghiệp niêm yết. Vì vậy, cần có sự phân biệt giữa TTCK
hành. Nhà đầu tư mua đi bán lại chứng khoán nhằm vào một trong các mục đích: cất
giữ tài sản tài chính, nhận một khoản thu nhập cố định hàng năm, hưởng chênh lệch
giá.
Thực hiện : Nhóm 2- CH.K19 – NH-N2 13
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
2. Các chủ thể tham gia TTCK.
TTCK là một thực thể phức tạp mà hoạt động của thị trường có nhiều loại chủ
thể khác nhau tham gia. Các chủ thể này hoặc là bán chứng khoán, hoặc là mua chứng
khoán, hoặc chỉ là trung gian môi giới cho hai bên mua bán để hưởng hoa hồng. Bên
cạnh đó còn có các chủ thể quản lý là Nhà nước và các tổ chức phụ trợ.
2.1. Chủ thể quản lý
Chủ thể quản lý có nghĩa vụ bảo đảm cho TTCK hoạt động theo đúng các quy
định của pháp luật, nhằm bảo đảm cho việc mua bán chứng khoán trên thị trường diễn
ra một cách công khai, công bằng, tránh những yếu tố tiêu cực có thể xảy ra, từ đó bảo
vệ lợi ích của người đầu tư.
Hiện nay hầu hết các nước có TTCK đều có cơ quan quản lý và giám sát về
chứng khoán và TTCK. Với những tên gọi khác nhau (tuỳ theo mỗi nước) nhưng
thường là UBCK Quốc gia, bên cạnh đó còn có Hiệp hội kinh doanh chứng khoán, các
Sở giao dịch chứng khoán. Ở mỗi quốc gia, với những đặc trưng riêng có mà có
những hình thức quản lý khác nhau và thiết lập nên những cơ quan quản lý khác nhau.
Ở Việt Nam hiện nay, UBCKNN đang trực thuộc Bộ Tài chính là cơ quan quản
lý cao nhất về chứng khoán và TTCK. Theo đó, UBCKNN sẽ nghiên cứu vạch kế
hoạch, dự thảo các văn bản pháp luật và các thể lệ chế độ về tổ chức và hoạt động
TTCK để trình cấp có thẩm quyền quyết định ban hành. Đồng thời quản lý, giám sát
hoạt động của TTCK, đưa ra các giải pháp hữu hiệu để đảm bảo thị trường hoạt động
tốt. Ngoài UBCKNN, các cơ quan quản lý khác như Ngân hàng Nhà nước, các Bộ,
đặc biệt là Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán cũng có vai trò rất lớn trong hoạt
động quản lý các thành viên tham gia thị trường, và bảo vệ lợi ích cho các thành viên.
2.2. Chủ thể kinh doanh ( Trung gian tài chính )
Các trung gian tài chính là một chủ thể quan trọng của TTCK, TTCK hoạt động
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
Là những người huy động vốn bằng cách phát hành và bán các chứng khoán
trên thị trường sơ cấp. Các chủ thể phát hành bao gồm: Chính phủ, các tổ chức tài
chính trung gian khác, và các doanh nghiệp. Trong số đó chủ yếu là Chính phủ và các
doanh nghiệp.
Các chủ thể phát hành tham gia huy động vốn bằng nhiều phương thức khác
nhau nhằm phục vụ cho các mục đích khác nhau. Chính phủ phát hành các chứng
khoán như: Trái phiếu Chính phủ, Tín phiếu Kho bạc nhằm bù đắp thâm hụt ngân
sách, xây dựng cơ sở hạ tầng, cầu cống, đường xá… Các doanh nghiệp phát hành cổ
phiếu, trái phiếu công ty nhằm đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất kinh doanh…
Các doanh nghiệp tham gia thị trường với tư cách là người tạo ra hàng hoá ở thị
trường sơ cấp, và mua bán lại các chứng khoán ở thị trường thứ cấp.
2.5. Các tổ chức phụ trợ
Sự tham gia của các tổ chức phụ trợ giúp cho hoạt động của thị trường diễn ra
trôi chảy, đó là Trung tâm Lưu ký, thanh toán và bù trừ chứng khoán, các công ty
đánh giá hệ số tín nhiệm…
Như vậy, có thể thấy rằng TTCK hoạt động được là nhờ hoạt động của các chủ
thể tham gia. Tuy khác nhau về tính chất, mục tiêu và cách làm, hoạt động của họ liên
đới và bổ sung chặt chẽ cho nhau, nhờ thế tài sản tài chính từ sở hữu của người này
chuyển sang sở hữu của người khác một cách hợp lý và hài hoà để nền kinh tế hoạt
động với những giá trị mới được tạo ra từng giờ, mỗi ngày.
PHẦN B: THỰC TRẠNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.
1. Tình hình hoạt động của TTCK Việt Nam. (Từ 2007 – 2010): nên đưa số liệu
thực tiễn vì e thấy phần này lý thuyết hơi nhiều, ví dụ: các bảng biểu so sánh, sơ
đồ hình biến động chứng khoán-phần này nhóm có thể lấy số liệu của nhóm bạn
Quý-dã báo cáo môn Thị trường Tiền tệ
1.1. Tình hình niêm yết chứng khoán:
Thực hiện : Nhóm 2- CH.K19 – NH-N2 16
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
Thị trường chứng khoán VN bắt đầu hoạt động từ năm 2000, khởi thuỷ là sự kiện
các đô thị lớn đến các tỉnh xa, từ công ty tư nhân cho đến các công ty có gốc là doanh
nghiệp nhà nước.
Tuy nhiên, thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay cũng còn những hạn chế nhất
định. Có những ý kiến cho rằng cơ sở pháp lý và điều kiện quản lý hiện nay chưa thực
sự giúp thị trường đủ lớn mạnh và được như mong muốn của những công ty niêm yết,
đó là làm sao để doanh nghiệp, kể cả ngân hàng, khi cần vốn có thể tìm đến thị trường
chứng khoán. Đến ngày hôm nay, thị trường chứng khoán vẫn chủ yếu là giao dịch cổ
phiếu có sẵn, còn những giao dịch gọi vốn qua thị trường để thay thế nguồn vốn ngân
hàng thì vẫn chưa nhiều, do đó chúng ta cần có những giải pháp căn cơ hơn để giải
quyết vấn đề cốt yếu này để thị trường phát triển và tăng quy mô của thị trường lên,
đáp ứng đúng mục tiêu huy động vốn của thị trường chứng khoán Việt Nam.
1.3. Tình hình biến động chỉ số VN-Index:
Theo đà thăng trầm của tình hình niêm yết và tình hình giao dịch trên thị trường
chứng khoán Việt Nam, (thì chỉ số VN-Index, chỉ số giao dịch chứng khoán Việt Nam
tại sàn TP. Hồ Chí Minh và chỉ số HASTC-Index, chỉ số tại sàn giao dịch Hà Nội,
cũng có những biến động không ngừng và hầu như hai chỉ số này luôn luôn biến động
cùng chiều với nhau.) phần tô vàng sửa thành Chỉ số HNX-index tại sàn Hà Nội và chỉ
số HOSE-index tại sàn TPHCM, hai chỉ số này hầu như luôn biến động.
Có thể nhìn lại diễn biến chỉ số VN- Index trong mười năm qua để thấy hết thăng
trầm. Chỉ non 01 năm sau khi mở cửa thị trường, vào tháng 06-2001, chỉ số này đã leo
lên 571 điểm. Ở giai đoạn tốt đẹp này, với sự chào đón nồng nhiệt của công chúng đầu
tư trong điều kiện hiếm hàng (do có ít công ty niêm yết), thị trường nóng lên là không
có gì khó hiểu. Chính cái bẫy tăng nóng, tình trạng thiếu đáp ứng nhiều mặt, cùng sự
thoả mãn, thất vọng và sợ hãi đan xen vào thời kỳ sơ khai này đã kéo thị trường xuống
đáy sâu chưa đầy hai năm sau đó. Hậu quả là VNI-Index rớt liên tục xuống còn 139
Thực hiện : Nhóm 2- CH.K19 – NH-N2 18
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
điểm vào tháng 4-2003. Vào giai đoạn bỉ cực này, có lúc cả cổ phiếu tên tuổi cũng bị
đẩy xa về phía dưới mệnh giá. Từ đó, thị trường rơi vào giai đoạn ngủ đông cho đến
hết năm 2005.
+ Sự tăng trưởng của thị trường chưa bắt nguồn từ động cơ tích cực khi nhà đầu
tư còn chạy theo phong trào, thị trường thiếu vắng các nhà đầu tư dài hạn. Số lượng
nhà đầu tư còn hạn chế so với tiềm lực dân số và tiềm năng về vốn của nền kinh tế, số
lượng nhà đầu tư nước ngoài chưa nhiều và nhà đầu tư có tổ chức còn rất hạn chế. Các
nhà đầu tư trong nước đa số hiểu biết chưa thật đầy đủ về cơ chế hoạt động của
TTCK, tầm nhìn chiến lược còn ngắn hạn. Mặt khác còn do sự thiếu trung thực trong
việc cung cấp thông tin của các công ty, đã làm cho không ít nhà đầu tư không còn đủ
tin cậy để sử dụng các thông tin này trong việc ra quyết định. Từ đó xuất hiện một số
nhà đầu tư “chơi chứng khoán” như đánh bạc, họ sẵn sàng dốc hầu bao của mình ra để
thử vận may. Hậu quả là, theo ước tính của một số chuyên gia kinh tế thì ít nhất có 0,5
triệu người/hộ gia đình; và nhiều nhất là 1 triệu người/hộ gia đình (số liệu này không
tưởng khi trong hộ gia đình mà có đến 0,5 triệu hay là 1 triệu) đã lâm vào tình trạng
phá sản do đầu tư chứng khoán theo kiểu đánh bạc.
+ Tính thanh khoản thị trường thấp dẫn đến mất cân đối cung – cầu, làm cho giá
cả biến động thất thường. Tính thanh khoản của chứng khoán là khái niệm thể hiện
khả năng chuyển đổi dễ dàng từ tiền sang chứng khoán và ngược lại. Thị trường có
những lúc không thể hiện đúng giá trị của nó. Giá chứng khoán bị thổi phồng theo tin
đồn mà không phải căn cứ vào tình hình tài chính thực sự của công ty, đương nhiên sẽ
nhanh chóng bị xẹp xuống khi có tin đồn xấu. Thị trường thiếu những công ty hoạt
động thực sự hiệu quả, có tầm nhìn chiến lược dài hạn, các “blue chip” khá ít ỏi đã
khiến cho thị trường có tính thanh khoản kém, khó ổn định trước những cơn bão tài
chính.
Thực hiện : Nhóm 2- CH.K19 – NH-N2 20
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
Biên độ giao dịch chứng khoán hiện nay trên các sàn có sự chênh lệnh khá lớn
(HOSE với biên độ 5%, HNX với 7% và Upcom là 10%). Điều này sẽ dẫn đến tình
trạng đầu cơ gia tăng khi thị trường có biến động mạnh.
+ Hệ thống các tổ chức trung gian hỗ trợ cho hoạt động của thị trường còn nhiều
hạn chế. Khung pháp lý của thị trường còn nhiều bất cập khi mà luật chứng khoán đã
ban hành song chưa đầy đủ ở một số hành vi như: giao dịch khống, giao dịch tín dụng,
lớn.
Thứ hai: Các công ty niêm yết phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa có sự
tham gia của các tập đoàn kinh tế lớn nên khả năng cạnh tranh chưa cao nên chưa làm
yên lòng các nhà đầu tư. Ngoài ra công tác quản trị, chế độ kế toán của các công ty
niêm yết có những điểm chưa phù hợp với thông lệ quốc tế điều này gây trở ngại đối
với nhà đầu tư nước ngoài. Thông tin chưa minh bạch, chính xác điều này gây mất
niềm tin đối với nhà đầu tư.
Thứ ba: Nguồn nhân lực cho hoạt động của thị trường còn hạn chế cả về số
lượng và chất lượng. Phần lớn nhân lực trong lĩnh vực chứng khoán chưa được đào
tạo chính quy và đúng chuyên môn mà từ các lĩnh vực chuyển sang nên còn nhiều hạn
chế. Bên cạnh đó, chương trình đào tạo cũng như nội dung đào tạo nguồn nhân lực
cho lĩnh vực chứng khoán còn rất nhiều hạn chế. Hiện tại, Ủy ban chứng khoán nhà
nước là cơ quan duy nhất được phép đào tạo và cấp chứng chỉ hành nghề chứng
khoán, do vậy việc đào tạo gì, cấp bằng gì, chất lượng ra sao không có ai phản biện
nên khó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực này. Ngoài ra việc thanh tra, giám sát
hoạt động của công ty chứng khoán còn lỏng lẻo và chưa triệt để nên sai phạm của các
công ty này diễn ra thường xuyên làm xói mòn niềm tin vào thị trường.
Thực hiện : Nhóm 2- CH.K19 – NH-N2 22
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
Thứ tư: Số lượng công ty chứng khoán hiện nay ở Việt Nam so với quy mô thị
trường tương đối nhiều, tuy nhiên còn thiếu về nhiều mặt. Hạ tầng kỹ thuật của các
công ty chứng khoán chưa được đầu tư đúng mức, cho nên các công ty chứng khoán
tuy nhiều nhưng chất lượng hoạt động chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị
trường. Phần mềm Giao dịch chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán TP. HCM là
phần mềm chuyển giao từ Thái Lan trước đây, khi có sự cố phải mời các chuyên gia
Thái Lan sang khắc phục, gây tốn nhiều chi phí và không mang tính chuyên nghiệp
mất nhiều thời gian để chuyên gia Thái Lan sửa lỗi. Thị trường chứng khoán Việt
Nam đã chứng kiến nhiều lần “sập sàn” do quy mô giao dịch tăng đột biến những năm
2007. Tính chuyên nghiệp của thị trường chưa cao. Điều này thể hiện ở thị trường
chưa minh bạch, kiến thức chứng khoán và thị trường chứng khoán đối với nhà đầu tư
chứng khoán và tổ chức thực hiện các văn bản đó;
• Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch, các chương trình,
kế hoạch dài hạn, 5 năm và hàng năm và các dự án quan trọng của UBCKNN; tổ
chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, chương trình, kế hoạch sau khi được phê
duyệt;
• Ban hành, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các tiêu chuẩn, quy trình, quy
phạm chuyên môn nghiệp vụ và định mức kinh tế - kỹ thuật được áp dụng trong
các tổ chức, đơn vị trực thuộc theo quy định của pháp luật về chứng khoán và thị
trường chứng khoán;
• Cấp, gia hạn, đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép phát hành, niêm yết, kinh doanh và
dịch vụ chứng khoán, hành nghề kinh doanh chứng khoán theo quy định của pháp
luật;
• Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, đình chỉ hoạt động hoặc giải thể
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, Sở Giao dịch Chứng khoán, các thị trường
giao dịch chứng khoán có tổ chức;
Thực hiện : Nhóm 2- CH.K19 – NH-N2 24
TTCK Việt Nam – Thực trạng và định hướng phát triển TTCK Việt Nam GVDH:PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn
• Tổ chức, quản lý Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, Sở Giao dịch Chứng khoán
và các thị trường giao dịch chứng khoán có tổ chức, các trung tâm lưu ký, đăng ký,
thanh toán bù trừ chứng khoán;
• Quản lý các hoạt động liên quan đến thị trường chứng khoán của tổ chức phát hành
chứng khoán, tổ chức niêm yết chứng khoán, tổ chức kinh doanh chứng khoán và
tổ chức phụ trợ theo quy định của pháp luật;
• Thanh tra, kiểm tra và giám sát các đối tượng tham gia hoạt động trên thị trường
chứng khoán và xử lý các vi phạm về chứng khoán và thị trường chứng khoán theo
quy định của pháp luật;
• Quản lý các dự án đầu tư và xây dựng thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp
luật; tham gia thẩm định các đề án, dự án quan trọng thuộc lĩnh vực chứng khoán
và thị trường chứng khoán theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
• Hướng dẫn, tạo điều kiện cho các tổ chức hiệp hội chứng khoán thực hiện mục