SKKN môn Ngữ văn 6 Một vài suy nghĩ khi dạy văn bản Bài học đường đời đầu tiên- Ngữ văn 6 Tập 2 theo quan điểm tích hợp - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI:
"MỘT VÀI SUY NGHĨ KHI DẠY VĂN BẢN BÀI HỌC ĐƯỜNG
ĐỜI ĐẦU TIÊN NGỮ VĂN 6 TẬP 2 THEO QUAN ĐIỂM TÍCH
HỢP" PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Như chúng ta đã biết việc "Đổi mới phương pháp dạy học" được thực hiện hơn
mười năm qua. Với mục tiêu tổng quát của chương trình Ngữ văn THCS được cụ thể
hoá trong việc dạy của thầy, việc học của trò trên ba phương diện: kiến thức, kĩ năng
và thái độ, tình cảm. Về kĩ năng, chương trình nhấn mạnh: Trọng tâm rèn luyện kĩ
năng Ngữ văn cho học sinh là làm cho học sinh có kĩ năng nghe, đọc, nói , viết Tiếng
Việt thành thạo theo các kiểu văn bản và có kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn
học, bứơc đầu có năng lực cảm nhận và bình giá văn học.
Để thực hiện mục tiêu rèn luyện kĩ năng nói trên, việc dạy học Ngữ văn được tiến
hành theo phương pháp tích hợp. Phương pháp tích hợp đòi hỏi học sinh học tập một
cách sáng tạo, vừa kết hợp các yếu tố đồng qui giữa ba phân môn: Văn học, Tiếng

nhiên được tái hiện đúng như cái thế giới trong trẻo, hồn nhiên, ngộ nghĩnh của tuổi
thơ. Không chỉ thế, thế giới ấy cũng mở ra cho người lớn những liên tưởng phong phú,
những ngẫm nghĩ không cùng về những mặt nào đó trong cuộc sống xã hội.
"Bài học đường đời đầu tiên" là đoạn trích trong chương đầu của tác phẩm, được
coi như màn tự giới thiệu của nhân vật trung tâm Dế Mèn. Tài năng và lòng yêu mến
trẻ thơ đã giúp Tô Hoài sáng tạo một câu chuyện có ý nghĩa thật sâu sắc. Chỉ đọc một
đoạn này thôi ta cũng hiểu rõ điều đó. Bài học đầu đời của của Dế Mèn là một bài học
có tính luân lý, đạo đức nhưng nó không hề khô khan, trìu tượng như một bài học đạo
đức mà rất sinh động. Nó có tác động mạnh mẽ sâu xa vào tâm hồn bạn đọc nhỏ tuổi
qua hình tượng Dế Mèn với biệt tài liên tưởng, dẫn dắt chuyện hết sức sinh động và
hấp dẫn của nhà văn.
Chúng ta vẫn còn nhớ, trong chương trình cải cách giáo dục năm 1985, tác phẩm
"Dế Mèn phiêu lưu kí" cũng đã được đưa vào trong chương trình Văn học lớp 6 - Tập
I, gồm 6 tiết với các đoạn trích: "Tôi sống độc từ thuở bé - một sự ngỗ nghịch đáng ân
hận suốt đời" (Trích chương I); "Tranh hùng với võ sỹ bọ ngựa - Chánh phó thủ lĩnh
tổng châu chấu - thề rằng sinh tử có nhau " (Trích chương VI); "Lại một chuyện rủi
ro với các bạn kiến - Sự tức giận của mấy cô bé học trò - Ai có công nhất" (Trích
chương IX). Với ba đoạn trích trên, chúng tôi thiết nghĩ rằng người chủ biên chương
trình muốn cho học trò biết được sự phát triển nhân cách của nhân vật Dế Mèn. Từ
một kẻ tự cao, tự đại, cho rằng trong thiên hạ không ai bằng mình cho nên đã gây nên
cái chết thương tâm cho Dế Choắt, từ đó mới rút ra bài học đường đời đầu tiên cho bản
thân. Đến việc "Tranh hùng với võ sỹ bọ ngựa" tính nết của Dế Mèn đã hoàn toàn thay
đổi: Qua cuộc đấu võ, Dế Mèn đã tỏ ra là một võ sỹ tài ba, có mưu lược và biết ứng
phó kịp thời nhưng rất khiêm tốn và không màng danh vọng ( mặc dầu khi đánh thắng
xứ này họ yêu cầu làm thủ lĩnh). Đến đoạn trích thứ 3 "Lại một chuyện rủi ro với các
bạn kiến - Sự tức giận của mấy cô bé học trò - Ai có công nhất" thì Dế Mèn không còn
là một gã dế hung hăng, thích gây gổ nữa mà nó đã thực sự đã trở thành môt chàng dế
khôn ngoan, lịch lãm. Như vậy, việc trích học này cũng mới chỉ nhằm cung cấp cho
học sinh hiểu về nội dung ý nghĩa văn chương chứ chưa quan tâm gì đến các vấn đề
khác liên quan. Điều này thể hiện rõ ràng trong quan điểm viết sách lúc bấy giờ là tách

"Phân tích, bình giảng tác phẩm văn học văn 6.
Nói chung, các bài viết trên đã phân tích được vẻ đẹp hình thức và nội dung của
đoạn trích. Nhưng đó mới chỉ là tài liệu tham khảo để giáo viên hiểu thêm về tác giả ,
tác phẩm chứ chưa phải là những chỉ dẫn thiết thực cho giờ dạy văn theo quan điểm
tích hợp và như vậy cũng chưa thể hiện được dụng ý của người chủ biên.
Thực tế hiện nay, trên thị trường sách, ngoài những tài liệu trên đã có thêm rất
nhiều sách tham khảo nhưng đọc, nghiên cứu kỹ thì các tài liệu ấy thường có nội dung
na ná giống nhau, chưa có điểm gì mới. Do vậy, khi giảng dạy giáo viên thường dựa
vào hai tài liệu chính đó là "Sách giáo viên Ngữ văn 6 - tập II" của Bộ giáo dục và đào
tạo và sách "Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 6 - Quyển 2" của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. Chúng tôi đã xem hai cuốn này như một sự gợi mở hướng đi trong quá
trình giảng dạy. Nhưng ở hai cuốn này vẫn còn những vấn đề cần bàn bạc.
Đối với cuốn "Sách giáo viên Ngữ văn 6 - Tập II", khi dạy văn bản này, các hoạt
động chủ yếu bám vào câu hỏi hướng dẫn "Đọc - Hiểu văn bản" trong sách giáo khoa
mà chưa có một tiêu đề hợp lý:
- Hoạt động 1: Hướng dẫn học sinh đọc và tìm hiểu chung về bài văn (Câu 1-SGK)
- Hoạt động 2: Phân tích hình ảnh Dế Mèn trong đoạn 1 của bài văn (Câu 2 - SGK)
- Hoạt động 3: Tìm hiểu đoạn 2 của bài văn (Câu3, 4 - SGK)
- Hoạt động 4: Rút ra ý nghĩa, nội dung và đặc điểm nghệ thuật của bài văn.
- Hoạt động 5: Luyện tập.
Đối với cuốn "Sách thiết kế bài giảng Ngữ Văn 6" thì đã trình bày khá đầy đủ các
bước trong tiến trình bài giảng. Tác giả đã đưa ra phương pháp giới thiệu bài, hướng
dẫn tìm hiểu về tác giả, hướng dần kể tóm tắt văn bản, tìm hiểu chi tiết theo hệ thống
câu hỏi về "Bức chân dung tự hoạ của Dế Mèn, về bài học đường đời đầu tiên" . Song
các hỏi còn vụn vặt, sa vào liệt kê các chi tiết, dễ làm cho bài giảng nặng nề không đủ
thời gian rèn luyện về các kỹ năng khác và còn mang tính áp đặt khi phân tích diễn
biến tâm trạng của nhân vật Dế Mèn (phần 2 của đoạn trích).
Ngoài tài liệu “ Sách giáo viên ngữ văn 6 – Tập 2 “ của Bộ giáo dục đào tạo, và

quá máy móc, thô cứng và làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện mục tiêu bài
học.
Không ít giáo viên cho rằng: một giờ học sử dụng được nhiều kiến thức của các
phân môn, sự tích hợp được thực hiện trên một diện rộng xem đó là phương pháp tốt.
Song họ quên rằng, sự tích hợp ấy đã thích hợp chưa, có tác dụng gì không?
Tôi xin nêu ra đây một số ví dụ từ thực tế mà giáo viên đã thể hiện khi dạy văn
bản "Bài học đường đời đầu tiên".
Ví dụ: Khi tìm hiểu về hình ảnh Dế Mèn ( Bức chân dung tự hoạ - Phần 1 của
văn bản). Sau khi học sinh phát hiện các chi tiết và nhận xét được nghệ thuật miêu tả
trong phần một (động từ, tính từ, so sánh ), giáo viên hỏi như sau:
Hỏi: Trong các tính từ ấy, đâu là tính từ chỉ màu sắc, đâu là tính từ chỉ tính chất?
- Học sinh chỉ ra và gạch chân những từ chỉ màu sắc, những từ chỉ về tính chất.
Hoặc chi tiết "Hai cái răng đen nhức lúc nào cũng nhai ngoàm ngạp như hai cái
liềm máy làm việc". Sau khi cho học sinh phát hiện, gọi tên đó là phép tu từ so sánh,
giáo viên hỏi như sau:
Hỏi: Trong phép so sánh này, đâu là sự vật được so sánh, đâu là sự vật dùng để
so sánh?
- Học sinh chỉ ra và giáo viên ghi lên bảng như sau:
Hai cái răng đen nhức lúc nào cũng nhai ngoàm ngạp như hai cái liềm máy làm
việc.
Vế A ( SV được so sánh) (Từ S.S) Vế B (SV dùng để so sánh)
Hoặc giáo viên muốn tích hợp phân môn tập làm văn, giáo viên đã hỏi:
Hỏi: Trong văn bản, đâu là miêu tả, đâu kể chuyện.? Và rất nhiều câu hỏi vụn
vặt khác.
Tôi nghĩ rằng sự tích hợp theo kiểu như vậy sẽ không đem lại hiệu quả trong
việc cảm thụ vẻ đẹp của hình ảnh Dế Mèn trong tác phẩm mà Tô Hoài đã xây dựng.
Nên chăng, giáo viên chỉ cần cho các em chỉ ra những động từ, tính từ, phép so

1- Đối tượng:
Là học sinh khối 6, đặc biệt là những lớp tôi đang trực tiêp giảng dạy năm học 2011
- 2012
2- Phạm vi nghiên cứu
Một số phát hiện mới về phương pháp dạy học tích cực đối với bài: "Bài học
đường đời đầu tiên"
V- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để giải quyết đề tài này, trong quá trình tìm tòi thể nghiệm, tôi đã sử dụng các
phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích nêu vấn đề .
- Phương pháp so sánh đối chiếu vấn đề.
- Phương páhp tổng hợp khái quát vấn đề.
Những phương pháp trên được thực hiện đồng thời thông qua nghiên cứu tài liệu
và thực tế giảng dạy.

PHẦN II: NỘI DUNG
Tìm hiểu văn bản "Bài học đường đời đầu tiên" ta sẽ thấy có 2 phần nội dung
tương ứng với hai kiểu văn bản là miêu tả và tự sự. Phần nội dung tả hình dáng, tính
cách của Dế Mèn thuộc kiểu văn bản miêu tả sẽ được phần Tập làm văn giải quyết bắt
đầu từ bài học Ngữ văn này. Phần nội dung về "Bài học đường đời đầu tiên" của Dế
Mèn bao gồm các chuỗi sự việc liên quan đến nhân vật Dế Mèn thuộc kiểu văn bản tự
sự đã được phần Tập làm văn giải quyết từ các bài học trước đó (Học kỳ I). Do đó, bài
học này "có vùng đất chung" để tiến hành tích hợp Văn - Tập làm văn trong hoạt động
dạy học. Vậy nên, trong khi ưu tiên khai thác các yếu tố văn chương, cần chú ý đúng
mức đến việc khai thác các yếu tố liên quan này. Trong khi hướng vào phân tích đánh
giá diện mạo, tính cách của Dế Mèn nên chú ý đến phát hiện và liệt kê các chi tiết
miêu tả ngoại hình và hành động của Dế Mèn, chuẩn bị cho bài Tập làm văn miêu tả ở
tiết học sau cùng một bài học Ngữ văn số 18. Việc xác định các đoạn, các sự việc,
ngôi kể, sau đó đi sâu tìm hiểu văn bản thông qua các đoạn, sự việc, nhân vật giúp
khám phá các giá trị của văn bản nghệ thuật, mặt khác còn giúp học sinh nhớ lại kiến

thể hiện những khát vọng đẹp đẽ của tuổi trẻ. Tô Hoài đã thành công khi dựng lên cả
một thế giới loài vật trong trắng, ngây thơ, ngộ nghĩnh, khao khát say mê lý tưởng rất
phù hợp với tâm lý của tuổi thơ. Chính vì vậy, nó đã trở thành tác phẩm nổi tiếng nhất
của Tô Hoài viết về loài vật dành cho thiếu nhi. Cho nên tác phẩm của ông đã được
dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới (Nga, Pháp, Đức, Ba Lan, Nhật Bản )
- Văn bản "Bài học đường đời đầu tiên" được trích từ chương I của tác phẩm gồm
hai đoạn chính:
+ Đoạn 1: Miêu tả hình ảnh Dế Mèn - Một chàng dế thanh niên cường tráng.
+ Đoạn 2: Câu chuyện về trò đùa ngỗ nghịch của Dế Mèn trêu chị Cốc gây ra cái
chết thảm thương cho Dế Choắt. Văn bản đã thể hiện được nét đặc sắc của ngòi bút Tô Hoài cả 2 phương thức
miêu tả và kể chuyện.
2- Cách sử dụng thành ngữ, quán ngữ trong đoạn trích (Tích hợp phần Tiếng
Việt),
Sang lớp 7 học sinh mới được tìm hiểu về Thành ngữ, thế nhưng trong văn bản
này tác giả đã sử dụng rất nhiều thành ngữ, quán ngữ. Đây cũng là cơ hội để giáo viên
cung cấp thêm cho học sinh một số thành ngữ, quán ngữ như: ăn xổi ở thì; tắt lửa tối
đèn; hôi như cú mèo; không dám ho he; bắt chân chữ ngũ; chết ngay đuôi; nói thẳng
thừng là lời ăn tiếng nói hàng ngày vừa quen thuộc, vừa giàu sức gợi cảm, gợi tả. Nó
làm cho tác phẩm trở nên gần gũi, sinh động phù hợp với tâm lý trẻ thơ nói riêng và
người Việt nam nói chung. Đây là một trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn cho tác
phẩm "Dế Mèn phiêu lưu kí".
3- Nghệ thuật so sánh, nhân hoá, sử dụng động từ, tính từ (Tích hợp với phần
Tiếng Việt đã học và chuẩn bị được học):
Giáo viên củng cố cho học sinh kiến thức về tính từ, động từ và chức năng cũng
như hiệu quả của việc sử dụng đúng chỗ những loại từ này. Nhờ sử dụng tính từ miêu
tả hình dáng và tính cách của Dế Mèn sát hợp, độc đáo cho ta thấy hai phương diện:
Dế Mèn rất đẹp, rất cường tráng và cũng rất kiêu căng tự phụ về vẻ đẹp và sức mạnh

miêu tả sự hoạt động của những bộ phận trên cơ thể chàng dế: mỗi khi tôi vũ lên đã
nghe tiếng phành phạch giòn giã; lúc đi bộ thì cả người tôi rung rinh một màu nâu
bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn. "Ta thấy Dế Mèn như một đô vật thể hình
đang biểu diễn các động tác gân bắp của mình trước khán giả với một vẻ kiêu hãnh
ngầm tự hào" - (Chu Huy - Bình giảng tác phẩm Văn học 6). Cùng với sự phát triển về
thể chất, vẻ kiêu kỳ ngầm ấy cho ta thấy một sự thay đổi về tính cách: Dế Mèn đã trở
thành một võ sỹ "đi đứng oai vệ; tợn lắm; dám cà khịa với tất cả bà con trong xóm".
Và khi thấy ai cũng phải nhịn, Dế Mèn cho mình là giỏi nhất rồi. Ngông cuồng hơn,
Dế Mèn còn quát cả cả mấy chị Cào Cào, đá ghẹo anh Gọng Vó. Thế là từ chỗ một
chàng dế đáng yêu đã biến thành một kẻ kiêu căng hống hách, dẫn đến những hành
động ngu dại mà đỉnh điểm là chuyện trêu chị Cốc dẫn đến cái chết thê thảm của Dế
Choắt. Cái chết của Dế Choắt làm cho Dế Mèn bừng tỉnh và vô cùng ân hận. Dế Mèn
đã hiểu ra lẽ đời, đã phân biệt được phải trái, thiệt hơn. Quan trọng hơn nữa, tai hoạ
đối với Dế Choắt đã khiến cho Dế Mèn nhận ra chính mình, biết rằng huênh hoang
khoác loác đã làm hại người khác. Tâm lý Dế Mèn được phát triển lô gic qua chính lời
tự thuật của nhân vật nên càng hồn nhiên chân thật, hấp dẫn người đọc.

II - GIÁO ÁN CỤ THỂ:
Từ những điều lưu ý trên, kết hợp với các phương pháp dạy học, đặc biệt là
phương pháp dạy học tích cực, tôi xin trình bày giáo án chuẩn bị cho tiết dạy trên lớp
như sau:

Bài 18: Tiết 73 - 74
Văn bản: BÀI HỌC ĐƯỜNG ĐỜI ĐẦU TIÊN
(Trích "Dế Mèn phiêu lưu ký" - Tô Hoài)

A- Mục đích cần đạt:


Hệ thống câu hỏi định
hướng cho hoạt động dạy học
Định hướng cho hoạt động học

- Học sinh đọc phần chú thích
(*)SGK.
Hỏi (H): Dựa vào chú thích trong
sách giáo khoa trình bày những hiểu
biết của em về nhà văn Tô Hoài?
H: Trình bày những điểm cơ bản lớn
nhất về tác phẩm "Dế Mèn phiêu lưu
ký"?
* GV giải thích tên của tác phẩm
"Dế Mèn phiêu lưu ký": Ghi lại

phẩm đặc sắc nổi tiếng nhất của Tô
Hoài viết về loài vật dành cho thiếu nhi.

- Tác phẩm được dịch ra nhiều thứ
tiếng trên thế giới.
- Gồm mười chương, kể về những cuộc
phiêu lưu đầy sóng gió và đầy lý thú
của chàng Dế Mèn. tưởng tượng ra lời của một con dế tự
kể về mình và những cuộc phiêu lưu,
những điều mắt thấy tai nghe những
sự việc đã trải qua trong các cuộc
phiêu lưu ấy.
H: Nêu vị trí của đoạn trích "Bài học
đường đời đầu tiên" - GV đọc mẫu 1 đoạn.
- Gọi 2 học sinh đọc tiếp.
- Học sinh nhận xét, giáo viên bổ
sung.


để, tức giận. Đoạn Dế Mèn hối hận thì
đọc giọng chậm, buồn, sâu lắng và có
phần bi thương.
b- Kể tóm tắt đoạn trích:
c- Tìm hiểu chú thích:
- Vũ: Vỗ cánh.
- Trịch thượng: Ra vẻ bề trên, khinh
thường người khác.
- Cạnh khoé: Không nói thẳng mà nói
ám chỉ , vòng vo nhằm châm chọc, xoi
mói.
- Thành ngữ: ăn xổi ở thì; tắt lửa tối
đèn; hôi như cú mèo > Việc sử dụng một số thành ngữ và
Hỏi: Trong đoạn trích có một số
thành ngữ. Theo em đó là những
thành ngữ nào?
Hỏi: Việc sử dụng một số thành ngữ
và một số quán ngữ (chết ngay đuôi,

* Phương thức biểu đạt: Miêu tả, tự sự,
biểu cảm.

* Ngôi kể: Ngôi thứ nhất. Dế Mèn tự
xưng "tôi".
- Cách kể như vậy tạo nên sự thân
mật, gần gũi đáng tin cậy đối với
người đọc.
e- Bố cục: 2 phần.
* Từ đầu > đứng đầu thiên hạ rồi:
Chân dung của Dế Mèn.
* Còn lại: Kể về bài học đường đời đầu
tiên của Dế Mèn.
3- Tìm hiểu chi tiết:

a- Bức chân dung tự hoạ của Dế
Mèn.

* Hình dáng:
- [ ] Tôi đã trở thành một chàng dế
thanh niên cường tráng .`
- Đôi càng: mẫm bóng.
- Vuốt: cứng, nhọn hoắt
- Đôi cánh: thành áo dài kín chấm đuôi.

> Miêu tả đôi càng. Vì đôi càng vừa
thể hiện sức mạnh vừa là vũ khí lợi hại
của riêng nhà Dế.
GV: Trong văn miêu tả thường có một
trình tự nhất định, nhưng đây chính là
chủ ý của tác giả nhằm nhấn mạnhđặc
điểm nổi bật nhất của nhân vật nên đã
sắp xếp như thế. Điều đó thể hiện về tài
năng quan sát tinh tế, sự am hiểu tường
tận về thế giới loài vật của tác giả Tô
Hoài.
* Hành động:
- Đạp phanh phách
- Vũ phành phạch
- Nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm
máy
- Đi đứng oai vệ [ ] mỗi bước đi, tôi
làm điệu dún dẩy [ ] cho ra kiểu nhà
võ.
> Từ ngữ chọn lọc tiêu biểu đặc sắc,
dùng nhiều tính từ, động từ gợi tả, gợi
hình ; sử dụng biện pháp nghệ thuật
nhân hoá, so sánh độc đáo, sinh động.
>Dế Mèn là một chàng Dế đẹp đẽ,
khoẻ khỏe mạnh, hùng dũng cường
tráng tràn đầy sức sống, tự tin yêu đời
và rất hấp dẫn.
*Với mọi người trong xóm:
- Dám cà khịa tất cả bà con trong xóm
- Quát mấy chị Cào Cào
H: Em có nhận xét gì về cách cư xử
ấy?

> Qua cách cư xử ấy Dế Mèn đã bộc
lộ tính cách của mình, đó là: hung
hăng, hống hách, coi thường mọi
người, cậy mình có sức mạnh đã bắt
nạt kẻ yếu.
> Vì Dế mèn mới lớn, sống trong một
thế giới nhỏ bé, xung quanh toàn là
những người hiền lành, quen thuộc nên
lầm tưởng sự ngông nghênh của mình
là tài ba, giỏi giang.
==>Học sinh trình bày, giáo viên nh
ận
xét, bổ sung:
+ Miêu tả cụ thể, tỷ mỷ, với những tính
từ, động từ chọn lọc, gợi tả, gợi hình
tượng.
+ Sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân
hoá, so sánh độc đáo, sinh động.
+ Miêu tả đặc điểm chung, vừa miêu tả
những nét riêng của nhân vật, vừa miêu
tả hình dáng, đường nét màu sắc, vừa
miêu tả cử chỉ hành động của nhân vật.
GV: Như vậy, với trí tưởng tượng tài
tình phong phú, sự quan sát tinh tế và
sự am hiểu tường tận về thế giới loài
H: Qua sự tìm hiểu trên, em hiểu gì
về Dế Mèn?
- Định hướng thảo luận: Hiểu để tự tin
vào sức mạnh của mình là phẩm chất
tốt nhưng quá kiêu ngạo về sức mạnh
đó và dùng nó làm vũ khí (cà khịa, bắt
nạt, quát mắng ) là đáng ghét, đáng
lên án. Bởi đó là thái độ hung hăng, tự
cao, tự đại, không khiêm tốn.
* Luyện tập,củng cố (Hết tiết 1)
- Quan sát tỷ mỷ, tinh tế , miêu tả theo
trình tự nhất định ( từ bên ngoài >
bên trong; từ khái quát > cụ thể; đồng
thời cũng không máy móc mà biết chọn
những chi tiết tiêu biểu quan trọng để
miêu tả trước nhằm làm nổi bật nét đặc


của nhà văn Tô Hoài?
Hết tiết 1 chuyểng sang tiết 2:
GV: Đoạn đầu là lời tự bạch của Dế Mèn về vẻ đẹp hình dáng và những nét xấu
trong tính cách của mình. Đó là lời tự bạch chân thật vừa thể hiện niềm tự hào về mình
vừa tự nhận thức được tính tự đắc, kiêu căng của mình từ vẻ bên ngoài đẹp mã, ưa
nhìn. Nhưng để nhận ra được đó là tính xấu, Mèn đã phải trải qua một bài học xót xa,
thấm thía. Đấy chính là bài học đường đời đầu tiên của Dế Mèn. Cho HS đọc đoạn "Chao ôi không
thể làm lại được"

dụng các thành ngữ gần gũi quen thuộc
giàu sức gợi cảm, gợi tả như: ăn xổi ở
thì, tắt lửa tối đèn, hôi như cú mèo và
biện nghệ thuật so sánh tài tình tác giả
đã vẽ lên một hình ảnh Dế Choắt hoàn
toàn đối lập với Dế Mèn, đó là một
chú Dế gầy gò, ốm yếu, bệnh tật, xấu
xí .
> Dế Mèn coi thường Dế Choắt: việc
đặt tên cho anh bạn hàng xóm là
"Choắt" còn tả Choắt rất xấu (gầy gò,
dài lêu nghêu ) thể hiện cách nhìn
H: Em có nhận xét gì về cách kể tr
ên?
Qua đó em hình dung Dế Choắt là

còn quát mắng thậm tệ, tỏ vẻ khinh
khỉnh rồi bỏ đi. Điêu đó chứng tỏ rằng:
Dế Mèn là một kẻ ích kỷ , hẹp hòi ,
sống chỉ biết mình không có lòng bao
dung và lòng thương đồng loại .
==>GV nhận xét, bổ sung, chốt nội
dung :
Thái độ của Dế Mèn đối với Dế choắt:
Trịnh thượng, khinh thường, không
quan tâm,giúp đỡ kẻ yếu .
GV: Có thể xem câu chuyện giữa Dế
Mèn và Dế Choắt là một tình huống
đáng nhớ mà ở đó nhân vật Dế Mèn đã
bộc lộ khá rõ phần tính cách của mình.
Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, câu
chuyện tiếp tục được đẩy lên cao độ,
đỉnh điểm qua một tình huống khác.
Đó là tình huống nào?

* Dế Mèn trêu chị Cốc:


- Trước khi trêu:
+ "Sợ gì? Mày bảo tao sợ cái gì? Mày
còn tao biết sợ hơn tao nữa! Gương
mắt ra mà xem tao trêu con mụ Cốc
đây này!"
> Thái độ tự cao, tự đại. không coi ai
ra gì, huyênh hoang trước dế Choắt,

- Trong quá trình trêu:
+ Tôi cấtt giọng véo von [ ]
+ [ ] Tôi chui tọt ngay vào hang [ ]
Bụng nghĩ thú vị [ ]
- Khi chị Cốc trừng phạt Dế Choắt:
+ [ ] Núp tận đáy mà tôi cũng khiếp,
nằm im thin thít.[ ] Biết chị Cốc đi
rồi, tôi mới mon men bò lên.
- Kết cục của việc trêu đùa:
+ Choắt không dậy được nữa, nằm thoi
thóp.
+ Thế rồi Choắt tắt thở. Tôi thương
lắm. Vừa thương vừa ăn năn tội của
mình [ ] Tôi đứng lặng giờ lâu, nghĩ
về bài học đường đời đầu tiên.
> Diễn biến tâm lý và thái độ của Dế
Mèn được thể hiện qua các sự việc, các
hành động và ngôn ngữ của nhân vật.
Lúc đầu Mèn còn hênh hoang trước Dế
Choắt, sau đó chui tọt vào hang yên
chí về sự yên ổn, kiên cố nơi ở của



mình. Nhưng khi biết chị Cốc mổ Dế
Choắt thì khiếp sợ, nằm im thin thít.

Hốt hoảng, lo sợ, đau đớn xót thương
bạn bất vì cái chết bất ngờ và lời
khuyên của Dế Choắt. Ân hận, sám hối
chân thành về những lỗi của mình và
thấm thía về bài học đường đời đầu
tiên.

GV nhận xét, bổ sung và bình:
Tác giả đã hoá thân vào nhân vật (kể
theo ngôi thứ nhất) nên rất tự nhiên,
chân thật, hấp dẫn và cách miêu tả
diễn biến tâm lý của nhân vật rất tinh
tế, hợp lý, sinh động, làm cho người
đọc hiểu được đây là một đứa trẻ mới
H: Hãy thuật lại và nhận xét diễn biến
và tâm trạng của Dế Mèn trong đoạn
kể về việc Dế Mèn trêu chị Cốc?
"Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ,
có óc mà không biết nghĩ, sớm muộn
rồi cũng mang vạ vào mình đấy."

==> Bài hoc về:
- Thói kiêu căng: kẻ kiêu căng, tự phụ
có thể làm hại người khác khiến phải
ân hận suốt đời.
- Tình thân ái: Nên sống đoàn kết,
nhân ái, mình vì mọi người. Đặc biệt là
phải yêu thương giúp đỡ những người
khó khăn, hoạn nạn. GV: Bài học của Dế Mèn cũng là bài
học bổ ích đối với lớp trẻ chúng ta
H: Tìm những chi tiết miêu tả hành
động và thái độ của Dế Mèn trong quá
trình trêu chị Cốc?
4-Tổng kết - Ghi nhớ: * Nghệ thuật:
- Nghệ thuật miêu tả loài vật rất sinh
động
- Cách kể chuyện theo ngôi thứ nhất tự
nhiên, hấp dẫn.
- Ngôn ngữ chính xác, gợi hình, gợi
cảm kết hợp với các biện pháp tu từ
nhân hoá và so sánh đã bộc lộ được
chủ đề tư tưởng mọt cách tự nhiên, dễ
thuyết phục.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status