SKKN Một vài suy nghĩ khi dạy văn bản bài học đường đời đầu tiên Ngữ văn 6 tập 2 theo quan điểm tích hợp - Pdf 26



SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT VÀI SUY NGHĨ KHI DẠY VĂN BẢN BÀI HỌC ĐƯỜNG
ĐỜI ĐẦU TIÊN NGỮ VĂN 6 TẬP 2 THEO QUAN ĐIỂM TÍCH
HỢP"

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Như chúng ta đã biết việc "Đổi mới phương pháp dạy học" được thực hiện hơn
mười năm qua. Với mục tiêu tổng quát của chương trình Ngữ văn THCS được cụ thể
hoá trong việc dạy của thầy, việc học của trò trên ba phương diện: kiến thức, kĩ năng
và thái độ, tình cảm. Về kĩ năng, chương trình nhấn mạnh: Trọng tâm rèn luyện kĩ
năng Ngữ văn cho học sinh là làm cho học sinh có kĩ năng nghe, đọc, nói , viết Tiếng
Việt thành thạo theo các kiểu văn bản và có kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn
học, bứơc đầu có năng lực cảm nhận và bình giá văn học.
Để thực hiện mục tiêu rèn luyện kĩ năng nói trên, việc dạy học Ngữ văn được tiến
hành theo phương pháp tích hợp. Phương pháp tích hợp đòi hỏi học sinh học tập một
cách sáng tạo, vừa kết hợp các yếu tố đồng qui giữa ba phân môn: Văn học, Tiếng
Việt, Tập làm văn, vừa tích cực chủ động học tập ở từng phân môn.
Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp, tất nhiên sẽ kéo
theo đổi mới qui trình dạy học. Ở đó hình tượng văn học vẫn được tiến hành trong sự
cảm thụ của người học nhưng không còn độc lập riêng rẽ. Nó tiến hành trong sự đồng
bộ cả Tiếng Việt và Tập làm văn để tiến tới kết quả cần đạt của cả bài học Ngữ Văn.
Tuy nhiên, dạy học theo quan điểm tích hợp không phủ định các tri thức, kĩ năng riêng
của từng phân môn. Vấn đề là làm sao phối hợp các tri thức kĩ năng từng phân môn
thật nhuần nhuyễn để đạt kết quả chung chứ không phải là một sự "cưỡng duyên" như
một số ý kiến đã nhận xét.
Hiểu và thấm nhuần quan điểm trên nhưng qua mười năm thực hiện chương trình
thay sách, mười năm thực hiện phương pháp dạy học theo quan điểm dạy học tích cực

Chúng ta vẫn còn nhớ, trong chương trình cải cách giáo dục năm 1985, tác phẩm
"Dế Mèn phiêu lưu kí" cũng đã được đưa vào trong chương trình Văn học lớp 6 - Tập
I, gồm 6 tiết với các đoạn trích: "Tôi sống độc từ thuở bé - một sự ngỗ nghịch đáng ân
hận suốt đời" (Trích chương I); "Tranh hùng với võ sỹ bọ ngựa - Chánh phó thủ lĩnh
tổng châu chấu - thề rằng sinh tử có nhau " (Trích chương VI); "Lại một chuyện rủi
ro với các bạn kiến - Sự tức giận của mấy cô bé học trò - Ai có công nhất" (Trích
chương IX). Với ba đoạn trích trên, chúng tôi thiết nghĩ rằng người chủ biên chương
trình muốn cho học trò biết được sự phát triển nhân cách của nhân vật Dế Mèn. Từ

một kẻ tự cao, tự đại, cho rằng trong thiên hạ không ai bằng mình cho nên đã gây nên
cái chết thương tâm cho Dế Choắt, từ đó mới rút ra bài học đường đời đầu tiên cho bản
thân. Đến việc "Tranh hùng với võ sỹ bọ ngựa" tính nết của Dế Mèn đã hoàn toàn thay
đổi: Qua cuộc đấu võ, Dế Mèn đã tỏ ra là một võ sỹ tài ba, có mưu lược và biết ứng
phó kịp thời nhưng rất khiêm tốn và không màng danh vọng ( mặc dầu khi đánh thắng
xứ này họ yêu cầu làm thủ lĩnh). Đến đoạn trích thứ 3 "Lại một chuyện rủi ro với các
bạn kiến - Sự tức giận của mấy cô bé học trò - Ai có công nhất" thì Dế Mèn không còn
là một gã dế hung hăng, thích gây gổ nữa mà nó đã thực sự đã trở thành môt chàng dế
khôn ngoan, lịch lãm. Như vậy, việc trích học này cũng mới chỉ nhằm cung cấp cho
học sinh hiểu về nội dung ý nghĩa văn chương chứ chưa quan tâm gì đến các vấn đề
khác liên quan. Điều này thể hiện rõ ràng trong quan điểm viết sách lúc bấy giờ là tách
riêng 3 phân môn: Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn thành 3 quyển khác nhau với một
ranh giới khá rạch rời.
Năm 2002-2003 đến nay, thực hiện "Đổi mới phương pháp dạy học" theo quan
điểm tích hợp thì việc dạy học 3 phân môn trong từng bài học phải như một thể thống
nhất, làm sao kết hợp được thật tốt việc hình thành cho học sinh năng lực phân tích,
bình giá và cảm thụ Văn học với việc hình thành 4 kỹ năng: Nghe, Đọc, Viết, vốn là
hai quá trình gắn bó hữu cơ và hỗ trợ cho nhau hết sức đắc lực. Bởi vậy, trong mỗi bài
học đều được nhấn mạnh những điểm đồng qui về kiến thức kỹ năng giữa 3 phân môn
để nhằm thực hiện tích hợp trong tổ chức nội dung dạy học cũng như xác định phương
pháp dạy học. Mỗi bài học được bắt đầu bằng việc tìm hiểu văn bản, sau đó căn cứ

trình giảng dạy. Nhưng ở hai cuốn này vẫn còn những vấn đề cần bàn bạc.

Đối với cuốn "Sách giáo viên Ngữ văn 6 - Tập II", khi dạy văn bản này, các hoạt
động chủ yếu bám vào câu hỏi hướng dẫn "Đọc - Hiểu văn bản" trong sách giáo khoa
mà chưa có một tiêu đề hợp lý:
- Hoạt động 1: Hướng dẫn học sinh đọc và tìm hiểu chung về bài văn (Câu 1-SGK)
- Hoạt động 2: Phân tích hình ảnh Dế Mèn trong đoạn 1 của bài văn (Câu 2 - SGK)
- Hoạt động 3: Tìm hiểu đoạn 2 của bài văn (Câu3, 4 - SGK)
- Hoạt động 4: Rút ra ý nghĩa, nội dung và đặc điểm nghệ thuật của bài văn.
- Hoạt động 5: Luyện tập.
Đối với cuốn "Sách thiết kế bài giảng Ngữ Văn 6" thì đã trình bày khá đầy đủ các
bước trong tiến trình bài giảng. Tác giả đã đưa ra phương pháp giới thiệu bài, hướng
dẫn tìm hiểu về tác giả, hướng dần kể tóm tắt văn bản, tìm hiểu chi tiết theo hệ thống
câu hỏi về "Bức chân dung tự hoạ của Dế Mèn, về bài học đường đời đầu tiên" . Song
các hỏi còn vụn vặt, sa vào liệt kê các chi tiết, dễ làm cho bài giảng nặng nề không đủ
thời gian rèn luyện về các kỹ năng khác và còn mang tính áp đặt khi phân tích diễn
biến tâm trạng của nhân vật Dế Mèn (phần 2 của đoạn trích).
Ngoài tài liệu “ Sách giáo viên ngữ văn 6 – Tập 2 “ của Bộ giáo dục đào tạo, và
sách “ Thiết kế bài giảng Ngữ văn 6 – Tâp 2 “ của nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà
nội, khi dạy văn bản này, giáo viên có thể tham khảo thêm các tài liệu khác như:
+ Cuốn “Bình giảng văn 6” của tác giả Vũ Dương Quí và Lê Bảo - NXB GD .
+ Cuốn “ Bài tập ngữ văn 6 ” của nhiều tác giả - NXB giáo dục .
Các tài liệu trên được viết theo quan điểm của mỗi nhóm tác giả nên các tài liệu
đưa ra đều có các phương hướng thực hiện khác nhau. Nếu để tham khảo một cách chi
tiết cụ thể cho các hoạt động của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học thì
không có. Giáo viên nếu không biết cách tham khảo, không có “ bản lĩnh ” trong tiếp
nhận văn bản có thể dễ bị “ Râu ông nọ cắm cằm bà kia ” một cách “ phi khoa học”

làm cho việc tiếp nhận văn bản không thống nhất và không đạt hiệu quả cao. Vì mỗi
văn bản trong chương trình được xem như một tác phẩm văn học, mà bản chất của văn

Hoặc chi tiết "Hai cái răng đen nhức lúc nào cũng nhai ngoàm ngạp như hai cái
liềm máy làm việc". Sau khi cho học sinh phát hiện, gọi tên đó là phép tu từ so sánh,
giáo viên hỏi như sau:
Hỏi: Trong phép so sánh này, đâu là sự vật được so sánh, đâu là sự vật dùng để
so sánh?
- Học sinh chỉ ra và giáo viên ghi lên bảng như sau:
Hai cái răng đen nhức lúc nào cũng nhai ngoàm ngạp như hai cái liềm máy làm
việc. Vế A ( SV được so sánh) (Từ S.S) Vế B (SV dùng để so sánh)
Hoặc giáo viên muốn tích hợp phân môn tập làm văn, giáo viên đã hỏi:
Hỏi: Trong văn bản, đâu là miêu tả, đâu kể chuyện.? Và rất nhiều câu hỏi vụn
vặt khác.
Tôi nghĩ rằng sự tích hợp theo kiểu như vậy sẽ không đem lại hiệu quả trong
việc cảm thụ vẻ đẹp của hình ảnh Dế Mèn trong tác phẩm mà Tô Hoài đã xây dựng.
Nên chăng, giáo viên chỉ cần cho các em chỉ ra những động từ, tính từ, phép so
sánh, và điều cần làm là giúp các em nhận ra được hiệu quả biểu đạt mà các động từ,
tính từ, phép so sánh đó đem lại trong văn bản - điều này lại bị giáo viên bỏ qua.
Ngoài ra còn có một số giờ lại sa vào kể chuyện rồi dạy đạo đức: không nên kiêu
căng ngạo mạn như Dế Mèn, phải biết yêu thương giúp đỡ những người yếu hơn mình
biến giờ Ngữ văn thành giờ giáo dục công dân.
Qua thực tế trên, kết hợp với việc tìm tòi sách vở, nghiên cứu tài liệu, bản thân
tôi xin nêu lên một vài suy nghĩ - xem như là những định hướng tối thiểu cho việc việc
thực hiện phương pháp tích hợp trong khi dạy văn bản.
Trước hết là cần xác định được lượng kiến thức cần thiết ở từng phân môn trong
bài sao cho phù hợp với việc thực hiện phương pháp tích hợp.
Có thể trong văn bản, có nhiều kiến thức liên quan đến những bài Tiếng Việt,
Tập làp văn đã học hoặc sẽ học thì giáo viên cần lựa chọn những đơn vị kiến thức nào
để góp phần soi sáng cho vẻ đẹp của tác phẩm văn chương (văn bản) giúp học sinh mà

và thực tế giảng dạy.

PHẦN II: NỘI DUNG
Tìm hiểu văn bản "Bài học đường đời đầu tiên" ta sẽ thấy có 2 phần nội dung
tương ứng với hai kiểu văn bản là miêu tả và tự sự. Phần nội dung tả hình dáng, tính
cách của Dế Mèn thuộc kiểu văn bản miêu tả sẽ được phần Tập làm văn giải quyết bắt
đầu từ bài học Ngữ văn này. Phần nội dung về "Bài học đường đời đầu tiên" của Dế
Mèn bao gồm các chuỗi sự việc liên quan đến nhân vật Dế Mèn thuộc kiểu văn bản tự
sự đã được phần Tập làm văn giải quyết từ các bài học trước đó (Học kỳ I). Do đó, bài
học này "có vùng đất chung" để tiến hành tích hợp Văn - Tập làm văn trong hoạt động

dạy học. Vậy nên, trong khi ưu tiên khai thác các yếu tố văn chương, cần chú ý đúng
mức đến việc khai thác các yếu tố liên quan này. Trong khi hướng vào phân tích đánh
giá diện mạo, tính cách của Dế Mèn nên chú ý đến phát hiện và liệt kê các chi tiết
miêu tả ngoại hình và hành động của Dế Mèn, chuẩn bị cho bài Tập làm văn miêu tả ở
tiết học sau cùng một bài học Ngữ văn số 18. Việc xác định các đoạn, các sự việc,
ngôi kể, sau đó đi sâu tìm hiểu văn bản thông qua các đoạn, sự việc, nhân vật giúp
khám phá các giá trị của văn bản nghệ thuật, mặt khác còn giúp học sinh nhớ lại kiến
thức về văn bản tự sự đã được học trước đó ở phần Tập làm văn. Giáo viên cần thực
hiện một cách đúng mức, khéo léo, nhuần nhuyễn thì mới mang lại hiệu quả cao cho
giờ dạy.
I- MỘT SỐ LƯU Ý KHI DẠY VĂN BẢN "BÀI HỌC ĐƯỜNG ĐỜI ĐẦU
TIÊN"
Theo phân phối chương trình thì văn bản này được học trong 2 tiết:
Tiết 1: Dành cho giới thiệu bài, tìm hiểu chung và tìm hiểu phần I của văn bản.
Tiết 2: Các nội dung còn lại, có thể đọc thêm tại lớp một vài đoạn khác trong
truyện "Dế Mèn phiêu lưu ký". Trong phần này, tôi xin nêu lên một số vấn đề có tính
chất bổ sung mà theo tôi là cần thiết trong khi dạy bài này.
1- Vấn đề giới thiệu tác giả, tác phẩm:
Do thời gian có hạn, chỉ được dạy trong 2 tiết mà đây là một tác phẩm lớn, nổi

Việt),

Sang lớp 7 học sinh mới được tìm hiểu về Thành ngữ, thế nhưng trong văn bản
này tác giả đã sử dụng rất nhiều thành ngữ, quán ngữ. Đây cũng là cơ hội để giáo viên
cung cấp thêm cho học sinh một số thành ngữ, quán ngữ như: ăn xổi ở thì; tắt lửa tối
đèn; hôi như cú mèo; không dám ho he; bắt chân chữ ngũ; chết ngay đuôi; nói thẳng
thừng là lời ăn tiếng nói hàng ngày vừa quen thuộc, vừa giàu sức gợi cảm, gợi tả. Nó
làm cho tác phẩm trở nên gần gũi, sinh động phù hợp với tâm lý trẻ thơ nói riêng và
người Việt nam nói chung. Đây là một trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn cho tác
phẩm "Dế Mèn phiêu lưu kí".
3- Nghệ thuật so sánh, nhân hoá, sử dụng động từ, tính từ (Tích hợp với phần
Tiếng Việt đã học và chuẩn bị được học):
Giáo viên củng cố cho học sinh kiến thức về tính từ, động từ và chức năng cũng
như hiệu quả của việc sử dụng đúng chỗ những loại từ này. Nhờ sử dụng tính từ miêu
tả hình dáng và tính cách của Dế Mèn sát hợp, độc đáo cho ta thấy hai phương diện:
Dế Mèn rất đẹp, rất cường tráng và cũng rất kiêu căng tự phụ về vẻ đẹp và sức mạnh
của mình, nên đã xem thường mọi người.
Hàng loạt những tính từ đặc tả (đen nhánh, mẫm bóng, nhọn hoắt, hủn hoẳn,
ngoàm ngoạp, khoan thai ) được kết hợp với những động từ chỉ về hoạt động khiến
cho Dế Mèn trở nên mạnh mẽ dứt khoát (đạp phanh phách; vũ phành phạch, nhai
ngoàm ngoạp ) khiến người đọc người nghe hình dung rất rõ, rất sinh động về Dế
Mèn, cảm nhận được tính cách và cả những hậu quả do tính cách tự mãn , tính khoe
khoang của nó gây nên.
Tác giả rất tài tình khi sử dụng nghệ thuật nhân hoá. Tô Hoài đã để cho Dế Mèn tự
hoạ về chân dung của mình vô cùng sống động. Loài vật ở đây cũng biết nói năng, suy
nghĩ, cũng có tình cảm, tâm lý và các quan hệ như ở con người. Nhưng chúng không
bị biến thành những biểu tượng thuần tuý nhằm nêu lên những bài học luân lý, đạo
đức như trong truyện ngụ ngôn mà vẫn là hình tượng sinh động, đúng với hình ảnh

của loài vật trong thế giới tự nhiên. Mỗi lời đối thoại của Dế Mèn cùng Dế Choắt và

khoác loác đã làm hại người khác. Tâm lý Dế Mèn được phát triển lô gic qua chính lời
tự thuật của nhân vật nên càng hồn nhiên chân thật, hấp dẫn người đọc.II - GIÁO ÁN CỤ THỂ:
Từ những điều lưu ý trên, kết hợp với các phương pháp dạy học, đặc biệt là
phương pháp dạy học tích cực, tôi xin trình bày giáo án chuẩn bị cho tiết dạy trên lớp
như sau:

Bài 18: Tiết 73 - 74
Văn bản: BÀI HỌC ĐƯỜNG ĐỜI ĐẦU TIÊN
(Trích "Dế Mèn phiêu lưu ký" - Tô Hoài)
A- Mục đích cần đạt:
Giúp học sinh:
- Hiểu được nội dung ý nghĩa của "Bài học đường đời đâu tiên" đối với Dế Mèn.
Một chàng dế có vẻ đẹp khoẻ mạnh cường tráng nhưng tính nết lại kiêu căng, xốc nổi
đã gây nên cái chết thảm thương cho người bạn hàng xóm, từ đó hối hận và rút ra bài
học đường đời đầu tiên cho mình.
- Nắm được những đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả loài vật, cách kể chuyện theo
ngôi kể thứ nhất tự nhiên, hấp dẫn. Cách sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hoá so
sánh phù hợp khéo léo, từ ngữ chính xác, giàu tính tạo hình.
- Rèn luyện được kỹ năng đọc, kể : lời đối thoại phù hợp với tính cách các nhân vật,
tả loài vật.
B- Tiến trình tổ chức các hoạt động:
Hoạt động 1: Ổn định tổ chức lớp.
Hoạt động 2: Kiểm tra vở soạn của học sinh.
(Đây là tiết học đầu tiên của chương trình học kỳ II nên giáo viên chỉ kiểm tra vở
soạn của học sinh để nắm được tình hình chuẩn bị của các em ở nhà như thế nào, cách
soạn, cách làm đã đúng với yêu cầu chưa. Từ đó, kịp thời nhắc nhở, uốn nắn tạo kỹ
năng thành thạo cho việc soạn bài ở nhà).

- Ông có rất nhiều tác phẩm viết cho
thiếu nhi, được mệnh danh là nhà văn
của tuổi thơ, thể hiện tình yêu thương,

H: Trình bày những điểm cơ bản lớn
nhất về tác phẩm "Dế Mèn phiêu lưu
ký"?
* GV giải thích tên của tác phẩm
"Dế Mèn phiêu lưu ký": Ghi lại
những cuộc phiêu lưu của Dế Mèn.
(Ký là thể văn ghi chép, thuật lại
những sự việc, câu chuyện đã xẩy
ra). Trong tác phẩm, Tô Hoài đã
tưởng tượng ra lời của một con dế tự
kể về mình và những cuộc phiêu lưu,
những điều mắt thấy tai nghe những
sự việc đã trải qua trong các cuộc
phiêu lưu ấy.
sự trân trọng đối với những mầm tươi
mới đang cần được bồi đắp để bước
vào đời .
- Bút danh Tô Hoài thể hiện tình yêu
quê hương, đặc biệt là quê ngoại, nơi
có con sông Tô Lịch chảy qua phủ
Hoài Đức. Tác giả đã ghép tên địa
danh quê hương thành bút danh của
mình.
- Trước Cách mạng tháng 8/1945 ông
đã hoạt động xã hội và viết văn. Ông
đã từng giữ chức Phó tổng thư ký Hội

vang, giọng tự hào, kiêu hãnh, chú ý
đến những tính từ, động từ miêu tả.
Đoạn trêu chị Cốc:đọc giọng trịch
thượng của Dế Mèn; giọng Dế Choắt
thì yếu ớt rên rỉ; giọng chị Cốc thì đáo
để, tức giận. Đoạn Dế Mèn hối hận thì
đọc giọng chậm, buồn, sâu lắng và có
phần bi thương.
b- Kể tóm tắt đoạn trích:
c- Tìm hiểu chú thích:
- Vũ: Vỗ cánh.
- Trịch thượng: Ra vẻ bề trên, khinh

Hỏi: Trong đoạn trích có một số
thành ngữ. Theo em đó là những
thành ngữ nào?
Hỏi: Việc sử dụng một số thành ngữ
và một số quán ngữ (chết ngay đuôi,
nói thẳng thừng, không dám ho he,
bắt chân chữ ngũ ) tạo nên cho em
những ấn tượng gì?
thường người khác.
- Cạnh khoé: Không nói thẳng mà nói
ám chỉ , vòng vo nhằm châm chọc, xoi
mói.
- Thành ngữ: ăn xổi ở thì; tắt lửa tối
đèn; hôi như cú mèo
> Việc sử dụng một số thành ngữ và
một số quán ngữ (chết ngay đuôi, nói
thẳng thừng, không dám ho he, bắt

tiên của Dế Mèn.
3- Tìm hiểu chi tiết:
a- Bức chân dung tự hoạ của Dế
Mèn.
* Hình dáng:
- [ ] Tôi đã trở thành một chàng dế
thanh niên cường tráng .`
- Đôi càng: mẫm bóng.
- Vuốt: cứng, nhọn hoắt
- Đôi cánh: thành áo dài kín chấm đuôi.
- Đầu: to và nổi từng tảng, rất bướng.
- Răng: đen nhánh
- Râu dài, uốn cong
> Miêu tả đôi càng. Vì đôi càng vừa

Và về việc gì?
H: Dế Mèn đã giới thiệu về mình qua
những chi tiết, hình ảnh nào về ngoại
hình?
H: Khi miêu tả về hình dáng của Dế
Mèn, tác giả đã tập trung miêu tả bộ
phận nào trước triên? Vì sao?
thể hiện sức mạnh vừa là vũ khí lợi hại
của riêng nhà Dế.
GV: Trong văn miêu tả thường có một
trình tự nhất định, nhưng đây chính là
chủ ý của tác giả nhằm nhấn mạnhđặc
điểm nổi bật nhất của nhân vật nên đã
sắp xếp như thế. Điều đó thể hiện về tài
năng quan sát tinh tế, sự am hiểu tường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status