SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"VẬN DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO MỘT SỐ TIẾT DẠY KIỂU
BÀI NÓI, VIẾT THEO CHỦ ĐIỂM Ở PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN
LỚP 3"
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Môn Tiếng Việt ở lớp 3 thống nhất với mục tiêu chung của Chương trình Tiếng
Việt toàn cấp học là :
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói,
đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua
việc dạy và học môn Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy.
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết
sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam và của nước
ngoài.
- Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu
đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa.
Tập làm văn là phân môn thực hành và rèn luyện tổng hợp bốn kỹ năng nghe – nói
- đọc viết, có tính chất tích hợp các phân môn khác trong môn Tiếng Việt. Qua tiết Tập
làm văn, học sinh có khả năng xây dựng một văn bản nói hoặc viết.
Ngôn ngữ là công cụ để phát triển tư duy. Chính vì vậy hướng dẫn cho học sinh nói
đúng, viết đúng, rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ là hết sức cần thiết. Nhiệm vụ đó
phụ thuộc phần lớn vào việc dạy - học Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn
nói riêng.
Trong chương trình Tập làm văn lớp 3, kiểu bài Nói, viết theo chủ điểm rèn luyện
cho học sinh kĩ năng nói, viết, đồng thời cũng tạo điều kiện cho các em củng cố những
hiểu biết về phạm vi hiện thực được phản ánh trong chủ điểm học tập.
Năm học 2011 – 2012 thực hiện giảm tải một số nội dung ở một số môn học, bài
học, trong đó có phân môn Tập làm văn lớp 3. Ở các tuần 11, 14, 16, không yêu cầu làm
các bài tập nghe - kể (Bài tập1), giành thời gian cho hoạt động nói theo chủ điểm (Bài
tập2); tuần 31, không yêu cầu làm bài tập 2, giành thời gian cho hoạt động nói về bảo vệ
Để giúp học sinh viết được những bài văn hay, ý tưởng phong phú, sáng tạo giáo
viên luôn chú trọng rèn kĩ năng nói cho học sinh vì học sinh nói tốt sẽ trình bày bài viết
tốt.
Học sinh đã nắm vững kiến thức, kĩ năng từ các lớp dưới. Đây là cơ sở giúp các em
học tốt phân môn Tập làm văn lớp ba.
2. Khó khăn:
Tập làm văn là phân môn khó so với các phân môn khác của môn Tiếng Việt, vì
vậy việc dạy – học ở phân môn này có những hạn chế nhất định.
Trong việc rèn kĩ năng nói-viết cho học sinh, giáo viên có đầu tư nghiên cứu mục
tiêu các tiết dạy để lựa chọn các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao cho phù
hợp từng đối tượng học sinh, nhưng sự đầu tư chưa sâu nên hiệu quả dạy học phân môn
Tập làm văn chưa cao.
Dụng cụ trực quan thiếu, giáo viên chỉ nói suông nên học sinh không hiểu, không
nắm bắt được thông tin vì vậy bài làm không đạt hiệu quả cao.
Chất lượng giảng dạy ở phân môn Tập làm văn vẫn chưa đáp ứng được sự mong
mỏi của xã hội. Đối với học sinh lớp 3, để giúp các em nói, viết được đoạn văn ngắn (5-7
câu) theo chủ điểm giáo viên thường gặp khó khăn khi hướng dẫn các em nói, viết thành
câu, thành đoạn. Bởi vốn từ của các em chưa nhiều, kiến thực thực tế còn nhiều hạn chế.
Một hạn chế nữa đó là do đặc điểm vùng miền, khả năng ngôn ngữ của học sinh không
được lưu loát. Trong quá trình làm bài, nhiều em còn lúng túng khi dùng từ, diễn đạt
ngôn ngữ vụng, có em viết không đúng yêu cầu của đề bài, có những bài làm đảm bảo về
số câu nhưng không đủ ý.
3. Khảo sát phân môn Tập làm văn:
Thời điểm: Tháng 9/2011
Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 3A
Tổng số Giỏi Khá Trung bình Yếu
36 2/36 = 5,6% 8/36 = 22,2% 21/36 = 58,3% 5/36 =
13,9%
Từ thực trạng trên, tôi đã tiến hành một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giờ
dạy kiểu bài Nói, viết theo chủ điểm.
những gì để quê hương ngày càng thêm đẹp?
Như vậy qua hệ thống câu hỏi, giúp học sinh bày tỏ được thái độ, tình cảm, ý kiến
nhận xét đánh giá của mình về vấn đề nêu ra trong bài học. Song song với quá trình đó
giáo viên cần hỏi ý kiến nhận xét của học sinh về câu trả lời của bạn để học sinh rút ra
được những câu trả lời đúng, cách ứng xử hay. Từ đó giúp học sinh mở rộng vốn từ, rèn
kĩ năng diễn đạt mạch lạc, lôgíc, câu văn có hình ảnh, có cảm xúc. Trên cơ sở đó, bài văn
của các em sẽ trôi chảy, sinh động, giàu cảm xúc đồng thời hình thành cho các em cách
ứng xử linh hoạt trong cuộc sống.
4. Hướng dẫn liên tưởng, tưởng tượng:
Do đặc điểm tâm lí lứa tuổi nên đa số bài văn của học sinh lớp 3 có ý tưởng chưa
phong phú, sáng tạo, các em thường trình bày hạn hẹp trong khuôn khổ nhất định. Nếu
trong một bài Tập làm văn, học sinh chỉ biết diễn đạt nội dung bằng những gì đã quan sát;
hoặc thực hành một cách chính xác theo các gợi ý; bài làm như thế tuy đủ ý nhưng không
có sức hấp dẫn, lôi cuốn người đọc, người nghe. Vì vậy, với từng đề bài giáo viên nên có
những câu hỏi gợi ý, khuyến khích học sinh liên tưởng, tưởng tượng thêm những chi tiết
một cách tự nhiên, chân thật và hợp lí qua việc sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá,
để từ đó học sinh biết trình bày bài văn giàu hình ảnh, sinh động, sáng tạo. Trí tưởng
tượng, liên tưởng ở học sinh lứa tuổi này rất hồn nhiên ngây thơ và ngộ nghĩnh, cho nên
để rèn luyện kĩ năng này cho học sinh, giáo viên có thể chuẩn bị những câu, đoạn văn hay
cho học sinh tham khảo, học hỏi làm phong phú thêm vốn kiến thức cho các em.
4. Hướng dẫn lập bản đồ tư duy:
Có thể hiểu bước lập bản đồ tư duy cũng chính là bước hướng dẫn học sinh lập
dàn ý để chuẩn bị cho phần nói theo chủ điểm.
Yêu cầu học sinh:
+ Nghĩ trước khi viết
+ Viết ngắn gọn
+ Viết có tổ chức
+ Viết theo ý của mình, có chừa khoảng trống để bổ sung
Giáo viên làm mẫu, hướng dẫn học sinh thao tác vẽ và đọc trên bản đồ. Sau đó yêu
cầu học sinh sử dụng vốn từ ngữ đã thu thập được qua quá trình chuẩn bị để tự hoàn
6. Giao việc về nhà:
Từ bản đồ tư duy mà các em lập được ở lớp, giáo viên yêu cầu học sinh viết thành
đoạn văn theo chủ điểm chuẩn bị cho tiết Tập làm văn viết.
III. MỘT SỐ GIÁO ÁN MINH HOẠ
Tuần 11
Tiết Tập làm văn Tuần 11 giảm tải bài tập nghe - kể, giành toàn bộ thời gian cho
bài tập nói về quê hương. Với đối tượng học sinh trường tôi, phần các em sinh ra và lớn
lên trong khu vực thành phố nên giáo viên yêu cầu học sinh nói về nơi mình đang ở.
Tập làm văn: Nói về quê hương
I. Mục tiêu: Rèn kĩ năng nói
Học sinh biết nói về quê hương (nơi mình đang ở) theo gợi ý trong Sách giáo khoa.
Bài nói đủ ý, dùng từ đặt câu đúng. Bước đầu biết dùng một số từ ngữ gợi tả hoặc hình
ảnh so sánh để bộc lộ tình cảm với quê hương.
II. Chuẩn bị:
GV: Bản đồ tư duy vẽ trên giấy khổ lớn; Giấy A4 để phát cho HS
HS: Màu vẽ
III. Các hoạt động dạy - học chủ yếu:
Hoạt động 1 (5’): Khởi động
- Y/c Hs nêu các từ ngữ chỉ sự vật nơi em
ở; các từ ngữ chỉ tình cảm với cảnh vật
nơi em ở (đã học ở tiết Luyện từ và câu,
sau đó mở rộng thêm theo hiểu biết thực
tế của HS)
- GV ghi các từ ngữ HS nêu lên bảng
- HS nêu miệng
nháp
- Gọi một số HS đọc lại
- 5 HS đọc thành tiếng, lớp
đọc thầm
Hoạt động 2 (10’): Hướng dẫn lập bản đồ tư duy
bản đồ của mình
Hoạt động 3 (20’): Báo cáo, thuyết minh
- Gọi 1 HS giỏi dựa vào bản đồ tư duy để
nói mẫu cho cả lớp nghe
Y/c HS nhận xét theo tiêu chí:
+ Đúng nội dung chưa?
+ Có mấy câu?
+ Dùng từ, đặt câu đúng chưa?
+ Sắp xếp các câu đã hợp lý chưa?
- GV nhận xét, chỉnh sửa
- Y/c HS nói cho nhau nghe theo nhóm
- Gọi HS nói trước lớp
Y/c HS nghe và nhận xét
- GV nhận xét, chỉnh sửa, ghi điểm.
- 1 HS lên bảng trình bày
Lớp theo dõi, nhận xét theo
tiêu chí
- Lắng nghe
-Nói cho nhau nghe theo N2
- Một số học sinh nói trước
lớp
Nhận xét, bổ sung
Hoạt động 4(5’): Củng cố, dặn dò
- GV nhận xét và biểu dương những học sinh học tốt.
- Yêu cầu học sinh tiếp tục bổ sung, hoàn thành bản đồ tư duy rồi viết thành đoạn
văn nói về nơi em ở.
- Chuẩn bị bài:
+ Yêu cầu học sinh mở SGK, đọc gợi ý tiết Tập làm văn tuần 12.
+ Yêu cầu HS sưu tầm tranh, ảnh cảnh đẹp đất nước; Dựa vào câu hỏi gợi ý lập bản
đồ tư duy để nói về cảnh đẹp đất nước chuẩn bị cho tiết Tập làm văn tuần 22.
- 1 HS đọc thành tiếng, lớp đọc thầm
- Quat sát ảnh và trả lời câu hỏi
+ Cảnh biển ở Phan Thiết.
+ Trời trong xanh. Mặt biển xanh
màu ngọc bích. Núi xanh lam. Rặng
dừa ven bờ xanh rì. Bãi cát trắng
tinh…
+ Quang cảnh biển thật là đẹp vì có
núi và biển kề bên nhau…
+ Em rất thích/ Em rất tự hào vì đất
nước mình có nhiều cảnh đẹp/ Em
muốn được đến ngắm cảnh biển.
- 1 HS nói theo gợi ý; các HS khác
lắng nghe, nhận xét và bổ sung (nếu
cần)
- theo dõi
Hoạt động 3 (15’): Nói về cảnh đẹp đất nước mà em biết
- Y/c HS nói tên cảnh đẹp mà em - HS lần lượt nêu tên
biết (qua tranh ảnh đã sưu tầm)
- Y/c HS dùng sơ đồ tư duy đã
chuẩn bị để nói cho nhau nghe về
cảnh đẹp mà em biết.
- Tập nói trước lớp
+ Mời HS xung phong
GV cùng HS khác nhận xét về nội
dung, cách dùng từ, đặt câu.
+ Gọi 5 HS khác nói
GV biểu dương học sinh nói tốt,
chỉnh sửa cho những học sinh còn
mắc lỗi về dùng từ, đặt câu.
Giới thiệu một số bản đồ tư duy học sinh tự thiết lập:
class="bi x7 y6d w8 he"
class="bi x7 y6d w8 he"
IV. KẾT LUẬN
1. Kết quả đạt được.
Được sự quan tâm, động viên của Ban Giám hiệu nhà trường, tôi mạnh dạn vận
dụng bản đồ tư duy vào một số tiết dạy giảm tải ở các tuần 11, 14, 16, 31 và một số tiết
dạy khác. Trải qua quá trình vận dụng, vừa làm vừa học, vừa rút kinh nghiệm đã đạt được
một số kết quả sau:
+ Học sinh có thói quen làm việc, học tập một cách khoa học.
+ Phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh.
+ Đảm bảo tính linh hoạt, tự chủ, sáng tạo trong mỗi tiết học.
+ Đặc biệt, việc được tự tay “thiết kế” bản đồ tư duy làm cho học sinh vô cùng
thích thú học phân môn Tập làm văn, tình cảm thầy trò ngày càng trở nên thân thiện hơn.
+ Kĩ năng nói của học sinh ngày càng được hoàn thiện hơn. Học sinh biết tìm từ, ý;
đặt câu đúng; biết vận dụng so sánh, nhân hoá; khả năng diễn đạt ngôn ngữ tiến bộ rõ rệt,
các em nói lưu loát, trôi chảy.
Kết quả khảo sát phân môn Tập làm văn
Thời điểm: Tháng 3/2012
Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 3A
Tổng
số
Giỏi Khá Trung bình Yếu
36 10/36 =
27,8%
15/36 =
41,7%
11/36 = 30,5% 0
2. Bài học kinh nghiệm:
Từ những kết quả đã nêu trên, trong quá trình giảng dạy để việc vận dụng bản đồ tư