QUYỀN GIÁM SÁT TỐI CAO CỦA QUỐC HỘI - Pdf 26

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Về quyền giám sát tối cao của quốc hội
LờI NóI ĐầU
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nớc ta ,sau nhiều năm qua đã thu
đợc những thành tựu to lớn và có ý nghĩa rất quan trọng nh: nớc ta đã thoát ra
khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội .Đó là một bớc ngoặt lớn trong công cuộc
đổi mới của Đảng và Nhà nớc ta nhng bên cạnh vẫn còn một số mặt cha vững
chắc , vẫn còn nhiều khó khăn thách thức và nhiều biến động phức tạp . Cho
nên Đảng và Nhà nớc ta đã phát huy kế thừa những thành tựu đạt đợc để góp
phần đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nớc.
Tuy nhiên, để đẩy mạnh đợc nền kinh tế nớc ta phát triển một cách vợt bậc thì Đảng
và Nhà nớc ta cũng cần phải quan tâm về vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của
Quốc hội , làm cho Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực Nhà nớc cao nhất , thực
hiện đợc đúng chức năng , quyền hạn theo quy định của Hiến Pháp và Pháp luật.Nghị
quyết Đại hội 9 của Đảng khẳng định: lãnh đạo việc đổi mới và tăng cờng công tác
thanh tra của Chính phủ và các cơ quan hành pháp;phát huy vai trò giám sát của Quốc
hội,Hội đồng nhân dân , Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân theo đúng chức
năng và thẩm quyền của các cơ quan đó.Tăng cờng công tác kiểm tra của các cấp uỷ ,
của uỷ ban kiểm tra các cấp,tập trung vào các nội dung chủ yếu:Thực hiện các Nghị
quyết,chủ trơng,chính sách của Đảng và Nhà nớc;chấp hành nguyên tắc tập trung dân
chủ và quy chế làm việc;củng cố đoàn kết,nội bộ,giáo dục, rèn luyện,nâng cao phẩm
chất,đạo đức Cách mạng của cán bộ,đảng viên
Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật là một trong những
chức năng quyền hạn quan trọng của Quốc hội đã đợc quy định trong các bản
Hiến pháp của nớc ta và đợc Hiến pháp năm 1992 quy định tại Điều 83 và Điều
84 .
Do vậy,nghiên cứu về quyền giám sát tối cao của Quốc hội thực sự là
một yêu cầu khách quan và là một đòi hỏi bức xúc trong công tác giám sát
của Quốc hội về mặt lý luận và thực tiễn .
2. Phạm vi và phơng pháp nghiên cứu.

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Chơng 2:Thực trạng hoạt động giám sát của Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam , nguyên nhân và bài học
- Chơng 3 : Những phơng pháp tăng cờng hiệu quả hoạt động giám sát của
Quốc hội .
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Kết luận

chơng I
CƠ Sở Lý LUậN QUYềN GIáM SáT TốI CAO CủA
QUốC HộI NƯớC CộNG HOà Xã HộI CHủ NGHĩA
VIệT NAM
I . Vị trí pháp lý của Quốc hội, bản chấi, nội dung và phơng thức thực
hiện
1. Vị trí pháp lý của Quốc hội .
Vị trí pháp lýlà một thuật ngữ chuyên nghành của khoa học pháp lý có
nguồn gốc la tinh làStatus dùng để khái quát hoá vị trí,mô hình của một cơ
quan nhà nớc nào đó trong hệ thống các cơ quan nhà nớc thông qua các quy định
của pháp luật.
Vị trí pháp lý của Quốc hội tức là chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và mối
quan hệ của Quốc hội với các cơ quan nhà nớc khác đợc Hiến pháp quy định cho
Quốc hội.Vị trí pháp lý này đợc Hiến pháp năm 1992 quy định khái quát tại Điều
83:Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân,cơ quan quyền lực Nhà
nớc cao nhất của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam .
Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại,
nhiệm vụ kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nớc, những nguyên tắc

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thì:Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nớc cao nhất Nhà nớc,Quốc hội thay
mặt nhân dân,thực hiện quyền lực của nhân dân và chỉ có Quốc hội mới có quyền
biến ý chí của nhân dân thành luật.Do vậy,quy định trên chứng tỏ việc tổ chức
quyền lực Nhà nớc ta không theo nguyên tắc phân quyền,không phân chia quyền
lực nh Nhà nớc t bản mà tổ chức theo nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa.
Trong một thời gian dài,có quan điểm cho rằng:Quốc hội là cơ quan quyền
lực cao nhất có toàn quyền quyết định mọi vấn đề của đất nớc.Nhng vì Quốc hội
không có điều kiện thiện hiện đợc những quyền hạn đó nên Quốc hội phải thành
lập ra những cơ quan Nhà nớc khác và giao cho chúng những nhiệm vụ,quyền
hạn của mình.Nói một cách cụ thể là sở dĩ Chính phủ, Toà án nhân dân,Viện
kiểm sát nhân dân có đợc quyền hạn và nhiệm vụ là do nhận đợc từ Quốc
hội.Thực tiễn đã cho thấy nhận thức nh trên là không phù hợp với thực tế hoạt
động của bộ máy Nhà nớc,nhận thức đó đã đem lại sự khó khăn khi cần xác định
trách nhiệm pháp lý của các cơ quan Nhà nớc và những khó khăn do việc không
phân định rõ chức năng,quyền hạn của các cơ quan Nhà nớc tạo ra.Ví dụ,nói một
cách cụ thể,nhận thức trên sẽ rất khó phân định đợc quyền giám sát tối cao của
Quốc hội với quyền kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân tối cao,với quyền giám
đốc xét xử của Toà án nhân dân tối cao và với quyền thanh tra của Chính phủ.
Nh vậy,cần nhận thức lại,đúng hơn về vị trí pháp lý của mỗi cơ quan Nhà n-
ớc.Mỗi cơ quan trong hệ thống các cơ quan Nhà nớc đều có vị trí pháp lý của
nó.Vị trí đó đợc xác định từ cách thức thành lập,nhiệm vụ,quyền cơ quan Nhà n-
ớc khác nh Chính phủ,Toà án nhân dân tối cao.Những cơ quan Nhà nớc trên có
chức năng,quyền hạn theo luật định nhng đều phải có trách nhiệm báo cáo trớc
Quốc hội và phải chịu sự giám sát của Quốc hội.
2. Bản chất , nội dung của quyền giám sát tối cao của Quốc hội .
2.1. Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật là một bộ phận không
thể tách rời quyền lực Nhà nớc.Mà quyền lực Nhà nớc đợc biểu hiện trong
đời sống xã hội theo những phơng thức sau:
- Nhà nớc đặt ra Hiến pháp và pháp luật.

xã hội chủ nghĩa đã đợc LêNin thể hiện tập trung và súc tích nhất trong tác phẩm
Nhà nớc và cách mạngLêNin đã viết: Lấy cái gì để thay thế bộ máy Nhà nớc
đã bị phá huỷ ?
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Vấn đề này, năm 1847, trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sảnMác chỉ có
một lời giải đáp hoàn toàn trừu tợng, hay nói đúng hơn,chỉ đặt ra nhiệm vụ mà
1
không đề ra phơng pháp giải quyết. Thay bộ máy Nhà nớc bằng việc Tổ chức
giai cấp vô sản thành giai cấp thống trị bằng dành lấy dân chủđó là câu giải đáp
trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản .
Không muốn rơi vào không tởng, Mác chờ vào kinh nghiệm của phong trào
quần chúng để xem tổ chức ấy của giai cấp vô sản với t cách là giai cấp thống trị
sẽ theo những hình thức cụ thể nào... Mác viết Công xã không phải là một cơ
quan đại nghị , mà là một tập thể hành động, vừa lập pháp ,vừa hành
pháp ...LêNin đã phân tích một cách sâu sắc những luận điểm cơ bản của Mác:
Công xã thay thế chế độ đại nghị bán mình và thối nát ấy của xã hội t bản bằng
những cơ quan, trong đó quyền tự do ngôn luận và tự do thảo luận không biến
thành lừa bịp vì các nghị sĩ phải tự mình công tác, tự mình thực hiện những luật
pháp của mình, tự mình kiểm tra lấy tác dụng của những luật pháp ấy, tự mình
phải chịu trách nhiệm trực tiếp trớc cử tri của mình . Trong quá trình lãnh đạo
cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mời Nga, kết hợp lý luận với thực tiễn, LêNin
đã xây dựng Nhà nớc kiểu mới theo nguyên tắc Tất cả quyền hành thống nhất,
đầy đủ và không chia sẻ trong tay toàn thể nhân dân .Nh vậy theo quan điểm
của chủ nghiã Mác LêNin về Nhà nớc ,muốn quyền lực thực sự là của nhân
dân thì phải tập trung thống nhất quyền lực Nhà nớc cho cơ quan đại biểu cao
nhất của nhân dân là Quốc hội hoặc XôViết và vì vậy trong Nhà nớc xã hội chủ
nghĩa, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất đồng thời cũng là cơ quan quyền
lực Nhà nớc cao nhất. Hiến pháp của các nớc xã hội chủ nghĩa trớc đây đều có
quy định và thể hiện nguyên tắc thống nhất và tập trung quyền lực trong tổ chức

nhất. Thay mặt nhân dân cả nớc thực thi quyền lực mà nhân dân giao cho, ...Với
t cách là cơ quan quyền lực Nhà nớc tối cao, Quốc hội vừa quyết định luật, vừa
giám sát các cơ quan Nhà nớc thi hành luật. Nhng không lẫn lộn với quyền hành
pháp của Chính phủ,cũng nh quyền độc lập xét xử của Toà án.Trong Nghị quyết
và các văn kiện khác của Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 7 đã phân tích
rõ trong điều kiện kinh tế,chính trị xã hội và quan hệ quốc tế của nớc ta hiện nay
thì Nhà nớc ta cần đợc đổi mới,cần có sự phân công,phân cấp rành mạch trong tổ
chức và hoạt động quản lý xã hội của Nhà nớc nhng vẫn cần thống nhất và tập
trung quyền lực vì điều đó là bản chất của Nhà nớc xã hội chủ nghĩa,là điều đảm
bảo cho quyền lực của đất nớc thực sự thuộc về nhân dân.Chúng tôi nhất trí và
đồng ý với quan điểm trên của Đảng vì :
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Xét về mặt kinh tế:Nền kinh tế nớc ta đang chuyển mạnh sang nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần nhng đó là nền kinh tế phát triển theo định hớng xã
hội chủ nghĩa,có sự quản lý của Nhà nớc.Sự vận động và phát triển của nền kinh
tế thị trờng tất yếu đòi hỏi phải có một thị trờng thống nhất trong cả nớc và có sự
quản lý của Nhà nớc bằng một hệ thống pháp luật thống nhất,đó là mong muốn
và là điểm thống nhất về lợi ích của mọi tầng lớp dân c và mọi giai cấp trong xã
hội.Mặt khác,tuy nền kinh tế có nhiều thành phần nhng nhân dân vẫn là chủ sở
hữu của tất cả những t liệu sản xuất quan trọng nhất của đất nớc.
- Xét về mặt chínhtrị xã hội:Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần tăng lên theo định hớng xã hội chủ nghĩa.Sự phân biệt
giàu,nghèo trong xã hội có nhng cơ cấu giai cấp trong xã hội chủ yếu vẫn là giai
cấp công nhân,nông dân và tầng lớp trí thức.Đảng cộng sản Việt Nam vẫn là
chính đảng duy nhất đang tồn tại và vị trí lãnh đạo của Đảng đã có chiều dài lịch
sử và cần đợc xã hội thừa nhận,những quan điểm và t tởng của Đảng vẫn là
những quan điểm và t tởng có tác dụng chi phối trong xã hội.
2
- Xét về mối quan hệ quốc tế:Sự ổn định về chính trị của Nhà nớc ta cũng là

- Kiểm tra sau:Việc thi hành Hiến pháp và pháp luật do nhiều cơ quan Nhà n-
ớc kiểm tra:Viện kiểm sát nhân dân tối cao,... theo chức năng và quyền hạn của
các cơ quan đó.
Cách tổ chức thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội là:bằng quy định
của luật,Quốc hội giao cho nhiều cơ quan Nhà nớc giám sát và nghe báo cáo của
các cơ quan đó.Quốc hội tập trung giám sát trực tiếp đối với hoạt động của Chính
phủ,...Và để làm điều đó,Quốc hội giao cho các Hội đồng và Uỷ ban giám sát
trong phạm vi quyền hạn của các cơ quan này theo luật định. Quốc hội không có
cơ quan chuyên trách giám sát.
Ưu điểm lớn nhất của cách giám sát của Quốc hội đợc thể hiện tập trung
vào quyền lực của nhân dân.Nhân dân thông qua cơ quan đại biểu cao nhất của
mình là Quốc hội xây dựng pháp luật và nhân dân thông qua hoạt động của Quốc
hội giám sát việc thi hành pháp luật và quyền giám sát của Quốc hội là quyền
giám sát tối cao.Tuy nhiên, để bảo đảm thực hiện đợc mục đích trên thì cần có
một cơ chế thích hợp và những điều kiện cần thiết về nhiều mặt.
2.3. Nội dung của quyền giám sát tối cao của Quốc hội
Để hiểu đúng và đầy đủ nội dung,ý nghĩa của quyền giám sát tối cao của
Quốc hội,trớc hết cần tìm hiểu thuật ngữ giám sát
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Theo từ điển Tiếng Việt,giám sátđợc hiểu làsự theo dõi,xem xét làm
đúng hoặc sai những điều đã quy định.Hoặc đợc hiểu làtheo dõi và kiểm tra
xem có thực hiện đúng những điều quy định không .
- Trong từ điển tiếng Ngagiám sát.đợc hiểu làmột nhóm hoặc một tổ chức
để theo dõi ngời, việc nào đấy
Tuy nhiên cách diễn đạt và biểu hiện ý nghĩa của từgiám sátcó khác nhau
nhng chúng có điểm chung nhất là:
-Giám sátdùng để chỉ các hoạt động theo dõi,xem xét,kiểm tra và nhận định
về một việc làm nào đó đã đợc thực hiện đúng hoặc sai những điều đá quy định.
- Giám sátluôn luôn gắn với một chủ thể nhất định,tức là phải trả lời đợc câu

ớc,vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác LêNin về Nhà nớc và pháp luật,căn
cứ vào quy định trên của Hiến pháp 1992 thì Quốc hội là chủ thể duy nhất của
quyền giám sát tối cao vì Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất ở nớc ta.
+Đối tợng chịu sự giám sát của Quốc hội.
Căn cứ vào Hiến pháp năm1992,luật Tổ chức Quốc hội,luật Tổ chức Chính
phủ,luật Tổ chức Toà án nhân dân,luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân thì
những cơ quan Nhà nớc nh Chính phủ Toà án,Viện kiểm sát....tuy có những
nhiệm vụ và quyền hạn độc lập nhng những ngời đứng đầu cơ quan đó đều phải
chịu trách nhiệm và báo cáo công tác của mình trớc đại biểu Quốc hội tại các kỳ
họp Quốc hội hoặc phải trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội.Những văn
bản mà các cơ quan Nhà nớc đó ban hành phải phù hợp với Hiến pháp,luật,nghị
quyết của Quốc hội,pháp lệnh của Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội.Mặt khác,Quốc
hội có thể quyết định sửa đổi hoặc huỷ bỏ,đình chỉ việc thực hiện những văn bản
đó khi xét thấy có vi phạm Hiến pháp,luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh
của Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội. Điều đó cũng có nghĩa là những cơ quan Nhà n-
ớc kể trên chịu sự giám sát của Quốc hội. Quốc hội có quyền giám sát tính hợp
hiến,hợp pháp trong hoạt động thực tiễn và trong nội dung văn bản của Chủ tịch
nớc,Chính phủ,Toà án nhân dân tối cao,Viện kiểm sát nhân dân tối cao.Đó chính
là những đối tợng chịu sự giám sát của Quốc hội.
+ Những căn cứ để Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao.
Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến,lập pháp, và quyền giám sát
tối cao.Nhng để đảm bảo tính khách quan trong hoạt động giám sát,bảo đảm cho
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao theo đúng quy định của Hiến pháp và
3
1. Từ điển học sinh NXB giáo dục 1971 Hà Nội, trang 305
2. Từ điển tiếng việt, Viện khoa học xã hội Việt Nam, viện ngôn ngữ học Hà Nội 1992, trang 803
3. Từ điển bách khoa luật học, Mát xcơva 1987, trang 230
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
luật khi thực hiện quyền giám sát của mình,Quốc hội phải có những căn cứ nhất

13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vụ Quốc hội,Chính phủ,Thủ tớng Chính phủ,Toà án nhân dân tối cao và Viện
kiểm sát nhân dân tối cao,xử lý những vi phạm Hiến pháp,luật và Nghị quyết của
Quốc hội do những cơ quan nói trên gây ra nhằm bảo đảm cho Hiến pháp,luật và
Nghị quyết của Quốc hội đợc nghiêm chỉnh chấp hành
3. Phơng thức thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội
Theo quy định của Hiến pháp 1992 và luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 thì
Quốc hội thực hiện chức năng giám sát thông qua:
- Xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nớc,Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội,
Chính phủ,Toà án nhân dân tối cao,Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Để Quốc hội có cơ sở vững chắc xem xét các báo cáo trên của các cơ quan
Nhà nớc thì theo quyết định của Chủ tịch Quốc hội hoặc theo ngời điều khiển
phiên họp có thể chuyển cho các Uỷ ban hữu quan của Quốc hội để thẩm
tra,nghiên cứu trớc,sau đó Uỷ ban thảo luận báo cáo của các thành viên và phải
chuẩn bị báo cáo thuyết trình trớc Quốc hội
Khi Quốc hội xét các báo cáo thì Chủ tịch nớc,Uỷ ban Thờng vụ Quốc
hội,Thủ tớng Chính phủ,Chánh án Toà án nhân dân tối cao cũng phải chịu trách
nhiệm báo cáo công tác của cơ quan,của ngành mình trớc Quốc hội .
Tóm lại nghe và xét báo cáo là phơng thức bắt buộc đối với các cơ quan
Nhà nớc.Bên cạnh đó nó còn là phơng pháp giúp Quốc hội gián tiếp nhận đợc
thông tin một cách đầy đủ và kịp thời về tình hình tuân theo Hiến pháp và Pháp
luật trong hoạt động thực tiễn của đời sống xã hội đồng thời tăng cờng trách
nhiệm cá nhân của những ngời đứng đầu Chính phủ và các ngành về công tác của
họ trớc Quốc hội .
- Chất vấn,một phơng pháp giám sát quan trọng của đại biểu Quốc hội , Đại
biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nớc,Chủ tịch Quốc hội , Thủ tớng
Chính phủ,Bộ trởng và các thành viên khác của Chính phủ,Chánh án Toà án nhân
dân tối cao và Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao .
Ngời bị chất vấn phải trả lời trớc Quốc hội tại kỳ họp,trong trờng hợp cần

địa phơng thực hiện tốt chủ trơng chính sách.
- Giám sát qua việc xét đơn th khiếu nại của nhân dân .
Là một bộ phận quan trọng của Nhà nớc,của dân,do dân và vì dân,với trách
nhiệm là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân cho nên khi nhận đợc hàng vạn
kiến nghị của nhân dân cả nớc.Quốc hội,các cơ quan của Quốc hội đã chuyển
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đến cơ quan hữu quan của Nhà nớc và đã từng bớc đợc hồi âm và xử lý có hiệu
quả .
Nh vậy,những phơng thức giám sát trên của Quốc hội có quan hệ gắn bó với
nhau và hỗ trợ cho nhau vì mỗi phơng thức giám sát đều có điểm mạnh và điểm
hạn chế của nó.Vì thế,trên thực tiễn hoạt động giám sát,Quốc hội có thể lựa chọn
những phơng thức giám sát khác nhau tuỳ thuộc vào nội dung của vấn đề cần
phải giám sát và vào đối tợng chịu sự giám sát của Quốc hội .
II. Quan hệ quyền giám sát tối cao của Quốc hội với những quyền khác
của Quốc hội ,sự khác nhau giữa quyền giám sát tối cao với kiểm tra
việc thi hành Hiến pháp,pháp luật của các cơ quan Nhà nớc khác.
Để hiểu rõ về bản chất và nội dung của quyền giám sát tối cao,cần phải xác
định vị trí và mối quan hệ của quyền giám sát tối cao với những quyền khác của
Quốc hội.Nhng mặt khác cũng cần phải tìm hiểu sự khác nhau giữa quyền giám
sát tối cao với việc kiểm tra thi hành Hiến pháp,pháp luật của các cơ quan Nhà n-
ớc khác .
1. Quan hệ quyền giám sát tối cao với những quyền khác của Quốc hội .
1.1. Quyền giám sát tối cao với quyền lập hiến và lập pháp của Quốc hội .
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992,tại Điều 84,điểm1,Quốc hội có
những nhiệm vụ và quyền hạn:Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp,làm luật và
sửa đổi;quyết định chơng trình xây dựng luật,pháp lệnh.Đây là một trong những
quyền hạn quan trọng của Quốc hội,thông qua hoạt động lập hiến,và lập pháp,ý
chí và nguyện vọng của nhân dân,đờng lối và chính sách của Đảng đợc thể chế
hoá thành luật và trở thành công cụ sắc bén nhất để Nhà nớc quản lý xã hội .

hiện một văn bản luật cũng giữ một vai trò quan trọng,điều đó thể hiện khi một
văn bản luật ra đời.Khi một văn bản luật ra đời,để triển khai và áp dụng luật phải
có hàng loạt các văn bản pháp quy do cơ quan Nhà nớc khác ban hành.Do đó,
cần phải kiểm tra tính hợp hiến,hợp pháp của những văn bản pháp quy xem có
đúng quy định của luật mới ban hành hay không.Trong quy trình thực hiện và áp
dụng luật,cần phải tăng cờng hoạt động giám sát chặt chẽ thì mới kịp thời phát
hiện đợc những thiếu sót,những mâu thuẫn trong văn bản luật mới thông qua và
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
có biện pháp kịp thời sửa đổi,bổ sung luật.Điều đó có ý nghĩa thực tiễn rất lớn
trong tình hình hiện nay của đất nớc ta .
Trong quá trình xây dựng kế hoạch làm luật và pháp lệnh,Quốc hội phải dựa
vào kết quả hoạt động giám sát để xem xét,cần tập trung xây dựngvăn bản luật
nào là cần thiết nhất
- Đối với công tác giám sát,quyền lập hiến và lập pháp cũng giữ một vị trí
quan trọng.Việc xây dựng Hiến pháp và luật chính là việc tạo ra cơ sở,căn cứ để
Quốc hội thực hiện quyền giám sát,nếu thiếu căn cứ này thì hoạt động giám sát
sẽ mất đi tính mục đích...Chính vì vậy mà việc xây dựng và không ngừng hoàn
thiện hệ thống pháp luật là một trong những điều kiện để bảo đảm cho hoạt động
giám sát đợc thực hiện một cách có hiệu quả và bảo đảm tính mục đích của hoạt
động giám sát.Có thể nói,quyền lập pháp và việc bảo đảm thực hiện quyền đó là
một trong những điều kiện không thể thiếu đợc trong hoạt động giám sát .
Tóm lại,không có một chuẩn mực,không có một thớc đo để đánh giá, nhận
xét về hoạt động của Chính phủ,Toà án nhân dân ,Viện kiểm sát nhân dân;vì vậy
công việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện pháp luật là điều kiện để đảm
bảo cho hoạt động giám sát có hiệu quả;do đó quyền lập pháp là một trong những
điều kiện không thể thiếu trong hoạt động giám sát và hoạt động giám sát cũng
tác động mạnh mẽ đến việc xây dựng pháp luật .
1.2. Quyền giám sát tối cao với những quyền quyết định những vấn đề quan
trọng của Nhà nớc .

ngân sách Nhà nớc thì không thể tự quyết định đợc khoản chi cho hoạt động
giám sát hàng năm của Quốc hội.Nếu hoạt động giám sát của Quốc hội khi thực
hiện lại phụ thuộc vào điều kiện về tài chính do Chính phủ cấp thì không thể bảo
đảm tính khách quan trong hoạt động giám sát của Quốc hội đợc và ảnh hởng lớn
đến tính khả thi của kế hoạch và chơng trình giám sát mà Quốc hội đề ra.Ngợc
lại ,quyền giám sát tối cao cũng có một vị trí và vai trò rất quan trọng đối với
việc thực hiện quyền về ngân sách của Quốc hội.Để có thể quyết định một cách
có căn cứ những vấn đề về tài chính và ngân sách Nhà nớc,Quốc hội phải căn cứ
vào những kết quả hoạt động giám sát của Quốc hội nhất là giám sát việc thực
hiện ngân sách Nhà nớc của Chính phủ và những cơ quan Nhà nớc chịu sự giám
sát của Quốc hội chứ không thể chỉ căn cứ vào các báo cáo của những cơ quan
Nhà nớc kể trên .
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.3. Quyền giám sát của Quốc hội với quyền quyết định về tổ chức,bầu và
bãi,miễn các chức vụ cao nhất của Nhà nớc .
Bầu,miễn nhiệm,bãi nhiệm Chủ tịch nớc,Phó Chủ tịch nớc,Chủ tịch Quốc
hội,các Phó Chủ tịch Quốc hội và các Uỷ viên Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội,Thủ t-
ớng Chính phủ,Chánh án Toà án nhân dân tối cao,Viện kiểm sát nhân dân tối
cao;phê chuẩn đề nghị của Thủ tớng Chính phủ về việc bổ nhiệm,miễn
nhiệm,cách chức Phó thủ tớng,Bộ trởng và các thành viên khác của Chính
phủ( Hiến pháp 1992)
Chỉ trên cơ sở hoạt động pháp luật của Quốc hội,Quốc hội mới có căn cứ
vững chắc để quyết định những vấn đề về tổ chức Nhà nớc,về bầu và bãi ,miễn
các chức vụ cao cấp của Nhà nớc.Ngợc lại quyền bầu,bãi miễn đợc bảo đảm,đó
chính là sự thể hiện trực tiếp quyền lực của Quốc hội trong hoạt động giám sát .
Quyền giám sát tối cao của Quốc hội là một bộ phận trong hệ thống thẩm
quyền của Quốc hội,do đó mà nó có quan hệ chặt chẽ với tất cả các quyền khác
của Quốc hội mà Hiến pháp quy định.Hoạt động giám sát là một trong những cơ
sở quyết định những vấn đề mà Hiến pháp quy định thuộc thẩm quyền của Quốc

2.2. Sự khác nhau giữa quyền giám sát tối cao của Quốc hội với quyền Giám
đốc xét xử của Toà án nhân dân tối cao .
- Về mặt chủ thể:Toà án tối cao giám đốc việc xét xử Toà án các cấp theo quy
định tại Điều 18,luật Tổ chức Toà án nhân dân và theo quy định tại Điều
134,Hiến pháp năm 1992,nh vậy,Toà án nhân dân tối cao là chủ thể của hoạt
động giám đốc,tức là xem xét,kiểm tra tính hợp hiến,hợp pháp trong hoạt động
của cơ quan Nhà nớc,vì nó quan hệ đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân trong quan hệ với Nhà nớc.Nói một cách khác,giám sát tính hợp
hiến,hợp pháp trong hoạt đông xét xử của Toà án là chức năng,nhiệm vụ của Toà
án nhân dân tối cao,vì Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của
Nhà nớc
- Về mặt đối tợng chịu sự giám đốc:Căn cứ vào quy định của Hiến pháp 1992
Điều 134 thì đối tợng chịu sự giám sát mà ở đây gọi là giám đốc xét xử của Toà
án nhân dân tối cao là hoạt động xét xử của các Toà án nhân dân các cấp , các
toà án quân sự và toà án đặc biệt,trừ trờng hợp các quy định khác của Quốc hội
khi thành lập các Toà án đó
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Về phơng thức thực hiện:Toà án nhân dân tối cao thực hiện quyền giám đốc
theo quy định của Luật tố tụng hình sự và Luật tố tụng dân sự và những quy định
khác do luật định khi thẩm quyền xét xử của Toà án đợc mở rộng.
- Về hiệu quả pháp lý:Theo luật định ,khi phát hiện có sai lầm và vi phạm pháp
luật trong hoạt động xét xử,Toà án nhân dân tối cao có quyền sửa đổi hoặc huỷ
bỏ bản án của Toà án cấp dới .
Nh vậy luật quy định thẩm quyền xử lý các vi phạm Hiến pháp và luật trong
hoạt động xét xử của Toà án là của Tòa án nhân dân tối cao và chỉ có Toà án
nhân dân tối cao mới có quyền thay đổi quyết định của các bản án do Toà án cấp
dới đã tuyên khi xét thấy có vi phạm pháp luật.Quốc hội không phải là cơ quan
xét xử và cũng không làm thay nhiệm vụ giám đốc của Toà án nhân dân tối cao.
Nhng Quốc hội có quyền xét báo cáo công tác của Toà án nhân dân tối cao

Tóm lại,giám sát,kiểm sát,giám đốc là những thuật ngữ khác nhau để chỉ
hoạt động giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật của những cơ quan Nhà
nớc có vị trí pháp lý khác nhau.Chúng có đối tợng giám sát và phơng thức thực
hiện,hiệu quả pháp lý khác nhau.Cần phân biệt hoạt động giám sát của Uỷ ban
của Quốc hội khi Uỷ ban đó đi kiểm tra tình hình thực tế việc thi hành pháp luật
với hoạt động kiểm sát và giám đốc ở chỗ:cũng đều là kiểm tra,xem xét nhng các
Uỷ ban của Quốc hội không làm thay nhiệm vụ cho các cơ quan chức năng của
Nhà nớc và cũng không trực tiếp giải quyết các vụ việc vi phạm pháp luật cụ
thể,mà các Uỷ ban của Quốc hội chỉ thu thập tài liệu,đa ra các kiến nghị để các
cơ quan chức năng của Nhà nớc thực hiện. Mặt khác,đó là cơ sở để giúp Quốc
hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với các cơ quan Nhà nớc thuộc thẩm
quyền giám sát trực tiếp của mình .
Sự khác nhau cơ bản giữa quyền giám sát tối cao của Quốc hội với thẩm
quyền kiểm tra việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật của các cơ quan Nhà nớc là
ở phạm vi,đối tợng chịu sự giám sát và ở thẩm quyền xử lý các vi phạm Hiến
pháp và pháp luật.Các cơ quan Nhà nớc khác có quyền kiểm tra xử lý các vi
phạm Hiến pháp và pháp luật,đó là sự phân công phân cấp rành mạch trong hoạt
động quản lý xã hộ của Nhà nớc.Nhng quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp
và pháp luật cao nhất thuộc về Quốc hội.Quốc hội không làm thay chức
năng,nhiệm vụ của những cơ quan Nhà nớc khác nhng Quốc hội có quyền kiểm
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tra hoạt động của các cơ quan Nhà nớc đó và nếu phát hiện có sự vi phạm Hiến
pháp và pháp luật trong xã hội cha đợc các cơ quan Nhà nớc xử lý thì Quốc hội
có quyền yêu cầu các cơ quan chức năng của Nhà nớc giải quyết theo thẩm
quyền và phải báo cáo trớc Quốc hội.Nếu các cơ quan Nhà nớc đó không thực
hiện những Nghị quyết của Quốc hội thì Quốc hội xử lý những vi phạm Hiến
pháp và pháp luật của các cơ quan(Thủ trởng cơ quan)theo quy định của Hiến
pháp và pháp luật.Đó là cách tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nớc trong lĩnh vực
giám sát của Nhà nớc ta

chức và hoạt động của bộ máy Nhà nớc,về quan hệ xã hội và hoạt động của công
dân.
25

Trích đoạn Giám sát theo chuyên đề về các vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế và ngân sách Nhà nớc. Giám sát qua kiến nghị củacác tổ chức,công dân về lĩnh vực kinh tế và ngân sách Giám sát việc thực hiện,triển khai các hoạt động khoa học,công nghệ của các Bộ, ngành, viện, trờng và giám sát chuyên đề và các vụ, việc Một số đại biểuQuốc hội đợc bầu ra theo cơ chế cũ (luật cũ)cha có đủ điều kiện để đảm đơng công tác giám sát của Quốc hội trong công tác đổ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status