Thực hiện quy trình chăn nuôi và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại thôn cổ dương xã tiên dương huyện đông anh hà nội” - Pdf 26

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, với mục đích hạ giá thành sản phẩm, tăng khả
năng cạnh tranh trên thị trường nội địa đồng thời đáp ứng nhu cầu xuất khẩu thịt
lợn, mô hình chăn nuôi lợn theo hướng tập trung quy mô trang trại đang được áp
dụng trên cả nước. Muốn đạt được hiệu quả kinh tế cao thì chúng ta cần đẩy mạnh
các biện pháp kỹ thuật như: Giống, thức ăn, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng Đặc
biệt chú trọng đến công tác giống, giống tốt thì vật nuôi mới tăng trọng nhanh, khả
năng tận dụng thức ăn tốt, thích nghi và chống chịu bệnh cao.
Để cung cấp giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại thì việc
phát triển đàn lợn nái sinh sản cần đặc biệt được quan tâm. Tuy nhiên, một
trong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái hiện nay
đang nuôi ở các trang trại là bệnh còn xảy ra rất nhiều, do khả năng thích nghi
của những giống lợn nái ngoại với khí hậu nước ta còn kém, đặc biệt là bệnh
ở cơ quan sinh dục như: đẻ khó, viêm tử cung, viêm vú, ít sữa và mất sữa, sảy
thai truyền nhiễm Các bệnh này do nhiều yếu tố như điều kiện vệ sinh,
chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn, nước uống không đảm bảo vệ sinh, do vi
khuẩn, virus gây nên Chính vì vậy mà việc chăm sóc và tìm hiểu về bệnh ở
cơ quan sinh sản của đàn lợn nái là việc cần thiết. Xuất phát từ nhu cầu thực
tiễn trên chúng tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăn
nuôi và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại Thôn Cổ Dương - Xã Tiên
Dương - Huyện Đông Anh - Hà Nội”.
1.2. Sự cần thiết tiến hành chuyên đề
- Thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với
thực tiễn sản xuất”, nhằm củng cố kiến thức lý thuyết và nâng cao hiểu biết về
thực tế, phục vụ cho công việc sau này.
- Kết quả góp phần đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất.
- Đáp ứng nhu cầu thực tiễn, nâng cao năng suất đàn lợn giống, góp
phần vào sự phát triển kinh tế Hà Nội.
- Hình thành phong cách làm việc sáng tạo, công nghiệp.

thác và sử dụng tương đối dễ dàng. Hiện nay đã được trại khai thác và sử
dụng để phục vụ cho sinh hoạt và chăn nuôi.
2
- Vị trí địa lý
Tiên Dương là xã thuần nông của huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
Xã nằm ở hướng tây so với thị trấn Đông Anh. Xã là nơi cung cấp rau sạch
cho trung tâm thành phố Hà Nội. Xã có 6 thôn: Trung Oai, Lương Nỗ, Tiên
Kha, Tuân Lề, Lễ Pháp, Cổ Dương.
- Trại có vị trí tương đối thuận lợi cách quốc lộ 3 khoảng 1,5km về phía Đông
và đường quốc lộ 23 chạy qua, xa trường, xa chợ, nhưng thuận tiện giao thông.
- Lãnh thổ của trại chạy dọc dài theo hướng Đông Nam
Phía đông giáp: Thị Trấn Đông Anh
Phía nam giáp: xã Vĩnh Ngọc
Phía tây giáp: xã Vân Nội
Phía bắc giáp: xã Nguyên Khê và thị trấn Đông Anh
Tổng diện tích của trang trại khoảng 5 ha, trong đó 1 ha dùng để chăn
nuôi, 2,5 ha là ao cá, còn lại là diện tích xây dựng công trình xung quanh
trang trại.
- Thời tiết, khí hậu trong khu vực trại
Trại mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa không điển hình, một
năm có bốn mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Nhiệt độ: Trại có nhiệt độ cao, độ chênh lệch nhiệt độ giữa mùa đông
và mùa hạ khá lớn.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là: 23 - 24
0
C.
Mùa đông: Trời rét và khô, nhiệt độ xuống thấp, bình quân từ 10 -
18
0
C, nhiệt độ thấp nhất (tháng 12) là: 8.3

1.3.2.2. Điều kiện kinh tế, xã hội
- Quá trình thành lập
Trang trại nằm trên địa phận xã Tiên Dương, huyện Đông Anh, Hà Nội.
Trại được thành lập năm 2007.
Tổng diện tích của trang trại khoảng 5 ha, trong đó 1 ha dùng để chăn
nuôi, 2,5 ha là ao cá, còn lại là diện tích xây dựng công trình xung quanh
trang trại: Nhà điều hành (phòng làm việc, phòng ở cho công nhân) và các
công trình phụ trợ khác.
- Đội ngũ cán bộ công nhân trong trại gồm:
+ 01 quản lý trại.
+ 02 kỹ thuật.
+ 6 công nhân.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật:
+ Tổng diện tích trang trại: 5 ha.
+ Diện tích xây dựng chuồng trại là: 1ha.
+ Diện tích ao hồ: 2,5ha.
4
+ Diện tích 1,5ha còn lại xây dựng nhà ở cho công nhân, kho cám,
phòng kĩ thuật, phòng sát trùng và một số cây trồng khác
Trang thiết bị trong trại: trại có 6 dãy chuồng, mỗi chuồng có 4 quạt
thông gió, có hệ thống làm mát bằng nước, là một hệ thống chuồng kín và vào
mùa đông thì có hệ thống bằng đèn điện sưởi ấm, chuồng có hệ thống máng
ăn máng uống tự động, có tủ thuốc trong chuồng, hố sát trùng bằng vôi có 2
máng nước thải.
Trại có một kho cám, một phòng sát trùng, hai máy sát trùng di động,
một tủ thuốc chính để tại phòng kĩ thuật. Có một máy phát điện to phòng
trường hợp mất điện, có hệ thống máy bơm nước liên tục để cung cấp nước
cho trang trại.
Khu nhà ăn, nhà ở của công nhân được xây dựng 1 khu riêng gọn gàng
sạch sẽ. Công nhân được ở một phòng riêng, còn kĩ thuật phòng riêng, quản lý

- Thức ăn cho lợn hậu bị, lợn nái chửa, và lợn nái nuôi con và lợn nái
chờ phối:
+ Cám 567S (cám 567SF; cám HG 17)
+ Cám 966
- Thức ăn cho lợn con tập ăn và cai sữa gồm các cám:
+ 550S và 951
- Thức ăn cho lợn thịt gồm các loại cám:
+ 952; 952S và 953S
+ Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng:
Hàng ngày buổi sáng khi vào trại thì phải đi kiểm tra đàn lợn một
cách tổng thể, xem lợn có con nào bị bệnh hay chết không, nếu bị chết thì
phải mang ra ngoài, báo kỹ thuật trại biết và sử lý đưa ra hướng điều trị cụ
thể và sau đó cho lợn ăn các chuồng xong rồi tiến hành đi đi hớt phân trên
nền chuồng vào máng chứa nước thải, sau đó thì đi đẩy máng và cho nước
mới vào máng. Sau khi làm xong các công việc trên thì đi điều trị bệnh cho
lợn và quét dọn hành lang, quét màng nhện trong chuồng. Sau đó trước khi
ra nghỉ thì kiểm tra tổng thể đàn lại một lần nữa. Buổi chiều tương tự như
công việc buổi sáng. Cứ cách 2 đến 3 ngày phải phun sát trùng chuồng trại
một lần, và phun 4 ngày một lần ngoài khu vực chuồng trại (có thể thay đổi
tuỳ theo mùa).
Hàng tháng trang trại thường nhập thuốc và vacxin của nhà phân phối
công ty TNHH Hoàng Kim, Tiến Thành, Hanvet và một số loại thuốc của
6
công ty khác cung cấp thuốc về cho trại cứ 2 tuần đến 1 tháng một lần và
cung cấp đủ các loại thuốc để trị các bệnh hay xảy ra.
- Tình hình thú y:
Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn nái luôn
thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên trong trại và
kĩ thuật viên công ty CP.
+ Công tác vệ sinh:

Parvo1(khô thai) 25 2 Bắp cổ
Dịchtả1(Coglapet) 26 2 Bắp cổ
LMLM (Aftopor) 27 2 Bắp cổ
Giả dại (Begonia) 28 2 Bắp cổ
Parvo2 (khô thai) 30 2 Bắp cổ
Lợn chửa
(từ 31 - 58 tuần)
Nghỉ 31 - 33 2 Bắp cổ
Dịch tả (Coglapet) 44 2 Bắp cổ
LMLM 58 2 Bắp cổ
Lợn đực
PRRS 3 2 Bắp cổ
Dịch tả (Coglapet) 4 2 Bắp cổ
LMLM + Giả dại 5 2 Bắp cổ
PRRS 7 2 Bắp cổ
- Với lợn hậu bị (chuyển lên chuồng cách ly chờ phối từ tuần tuổi 24 -
30): Tiến hành tiêm 6 mũi gồm Tai xanh, Parvo mũi 1, Dịch tả mũi 1, LMLM,
Giả dại, Parvor mũi 2.
- Với lợn mang bầu thì từ tuần thứ 31 đến tuần thứ 33 nghỉ tiêm
vaccine, đến tuần thứ 34 bắt đầu phối thời gian này không tiêm vaccine cho
heo mang bầu vì có thể gây sảy thai, đến tuần thứ 44 thì tiêm Dịch tả, tuần thứ
58 tiêm LMLM.
- Với lợn đực giống tiêm phòng vaccine PRRS mũi 1 tuần thứ 3, Dịch
tả tuần thứ 4, LMLM + Giả dại tuần thứ 5, PRRS mũi 2.
Bảng 1.3. Quy trình tiêm phòng cho lợn con theo mẹ.
Loại vaccine
Thời gian tiêm
(ngày tuổi)
Liều lượng
(ml)

- Được sự quan tâm của Uỷ ban nhân dân xã Tiên Dương tạo điều kiện
cho sự phát triển của trại.
- Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: Xa khu dân cư, thuận tiện
đường giao thông.
- Nhân viên kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, có tinh thần trách
nhiệm cao trong công việc.
- Công nhân có tay nghề cao, nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao.
* Khó khăn
- Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa
bệnh lớn, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sinh trưởng của lợn.
- Giá thức ăn chăn nuôi mỗi ngày một tăng khiến chi phí thức ăn tăng
cao gây ảnh hưởng tới chăn nuôi của trang trại.
- Giá thành như điện, nước, tu sửa thiết bị tăng cao.
- Đầu tư cho công tác xử lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn.
9
1.4. Mục tiêu cần đạt được sau khi kết thúc chuyên đề
Để thu được kết quả tốt trong thời gian thực tập và thực hiện tốt những
nội dung đã đề ra. Bản thân em đã đề ra một số mục tiêu để thực hiện như sau:
- Nắm vững quy trình nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái giai đoạn chửa và đẻ.
- Nắm vững quy trình chăn nuôi lợn nái giai đoạn nuôi con.
- Nắm vững các biện pháp nuôi dưỡng và chăm sóc lợn con theo mẹ.
- Học hỏi kinh nghiệm kiến thức chuyên môn tại cơ sở.
- Có đủ khả năng chẩn đoán, điều trị bệnh viêm tử cung và một số bệnh
thông thường ở lợn.
- Đưa ra quy trình phòng và điều trị một số bệnh ở lợn nái sinh sản.
1.5. Tổng quan tài liệu
1.5.1. Cơ sở khoa học
1.5.1.1. Quy trình chăn nuôi lợn nái
* Chọn giống
Muốn chọn được con giống có chất lượng tốt thì từ khi sinh ra đến khi

0
và hướng lên trên.
Xoáy nhẹ theo chiều ngược kim đồng hồ, khi ta có cảm giác qua cổ tử cung
thì có thể bơm tinh.
Có thể ngồi cả lên lưng lợn nái và mặt quay về phía sau.
Lợn nái khi chịu đực sẽ tự hút tinh, tuy nhiên khi ta đặt liều tinh quá
cao tinh sẽ vào nhanh nhưng dễ bị trào ra ngoài.
- Thời gian phối giống cho lợn nái:
Thời gian phối giống thao tác tốt nhất trong vòng 10 - 15 phút.
Nên phối giống cho lợn nái vào buổi sáng sớm và buổi chiều mát,
thời gian cách nhau 12 giờ.
Nếu kiểm tra thấy lợn nái chịu đực tiếp thì cho phối liều hai và liều ba.
* Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa:
Cơ thể lợn mẹ trong thời gian có chửa thì sự tổng hợp vật chất được
đẩy mạnh, còn quá trình oxy hóa thì giảm tương đối. Quá trình trao đổi chất
và năng lượng tăng lên do sự đẩy mạnh các quá trình này ở cơ thể mẹ cũng
như cơ thể phôi thai. Đồng thời với quá trình trao đổi nhiệt là quá trình tích
lũy các chất dinh dưỡng trong cơ thể mẹ tăng dần. Trong thời gian lợn nái
chửa, cơ thể trao đổi chất rất mạnh, quá trình đồng hóa lớn hơn quá trình dị
hóa. Trung bình khối lượng lợn nái tăng lên 15 - 20%, khoảng 60% khối
lượng phôi thai tăng lên ở 20 - 30 ngày cuối của thời kỳ chửa. Qua nghiên cứu
11
cho thấy rằng, điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng rất lớn đến cơ thể lợn nái
có chửa như nhiệt độ, ánh sáng, thời tiết khí hậu, chăm sóc nuôi dưỡng, mức
độ dinh dưỡng… Cường độ và thời gian tác động của mỗi yếu tố nêu trên sẽ
phản ánh lên các quá trình diễn ra trong cơ thể mẹ và cơ thể phôi thai trong tất
cả các giai đoạn phát triển của nó. Ví như nhiệt độ môi trường tăng cao sẽ làm
giảm tỷ lệ thụ thai. Nếu tăng cao trong thời kỳ chửa cuối sẽ gây sảy thai, thai
chết lưu hoặc tiêu thai. Độ ẩm môi trường cao cũng gây hại cho lợn nái nhất
là trong trường hợp độ ẩm cao kết hợp với nhiệt độ cao.

thông lỗ chân lông để tăng cường trao đổi chất, tuần hoàn, tạo cảm giác dễ
chịu, lợn cảm thấy thoải mái kích thích tăng tính thèm ăn, phòng chống bệnh
ký sinh trùng ngoài da. Ngoài ra còn tạo điều kiện gần gũi giữa người và lợn
nái để thuận tiện cho việc nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái khi đẻ. Việc tắm cho
lợn chửa cần tiến hành hàng ngày, đặc biệt là mùa hè nóng bức, ngoài các tác
dụng kể trên còn có tác dụng chống nóng cho lợn chửa.
Yêu cầu chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh thú y, khô ráo thoáng mát về
mùa hè, ấm áp về mùa đông.
Cần tạo không khí yên tĩnh, thoải mái cho lợn chửa nghỉ ngơi, dưỡng
thai. Không gây tiếng ồn xáo trộn không cần thiết có ảnh hưởng xấu đến lợn.
Mỗi nái chửa cần có một phiếu theo dõi về tình hình chửa như thời
gian chửa, những biến cố xảy ra trong quá trình mang thai, nguy cơ sảy thai,
tỷ lệ chết thai để có biện pháp xử lý đề phòng.
Bên cạnh đó thì chúng ta phải chú trọng đến công tác thú y đối với lợn
nái chửa. Từ 3-5 ngày trước ngày dự kiến đẻ, ô chuồng lợn nái cần được cọ
rửa sạch, phun sát trùng bằng thuốc sát trùng Crezin 5% hoặc bằng loại thuốc
sát trùng khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ.
Hàng ngày quan sát phát hiện những biểu hiện không bình thường của
lợn, kiểm tra sức khỏe, đo thân nhiệt xem có nóng, sốt không.
Quy trình tắm ghẻ: thường xuyên phát hiện ghẻ để điều trị kịp thời.
Ngoài ra, 14 ngày trước ngày dự kiến đẻ, tắm lần thứ nhất sau đó 7 ngày tắm
ghẻ lần thứ 2. Đây là yêu cầu bắt buộc để dự phòng lợn mẹ bị ghẻ rồi lây
truyền sang lợn con ngay từ sau sơ sinh.
Cần tiêm vacxin E.coli cho lợn nái chửa vào lúc 6 tuần và 2 tuần trước
khi đẻ, liều lượng: 2ml/con, tiêm bắp.
Lợn nái được đưa từ chuồng bầu sang chuồng đẻ trước từ 5 - 7 ngày so
với ngày đẻ dự kiến.
* Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái nuôi con
Mục đích của chăn nuôi lợn nái nuôi con là áp dụng các biện pháp khoa
học để tăng sản lượng sữa mẹ, đảm bảo cho lợn mẹ có sức khỏe tốt. Lợn con

nhưng cho ăn làm nhiều lần, thường một ngày cho ăn 3-4 bữa. Khoảng cách
các bữa ăn nên chia đều nhau.
Cho ăn đúng giờ, đúng tiêu chuẩn quy định.
14
Cung cấp đủ nước uống cho lợn nái nuôi con.
Khi chuyển sang dùng thức ăn cho giai đoạn nuôi con, để tránh gây ảnh
hưởng tới quá trình tiêu hóa do thay đổi thức ăn, ta phải thay dần dần.
Chú ý những biểu hiện sắp đẻ của lợn nái để có biện pháp tác động hợp
lý. Lợn nái có hiện tượng bầu vú căng to, vú căng ra hai bên, có hiện tượng
giãn khớp xương chậu như cảm nhận lợn nái sụt mông, âm hộ tiết dịch nhờn
và mở to, đi lại, đứng lên nằm xuống bồn chồn, vú có sữa chảy ra, ỉa cục phân
không dính vào chỗ nhất định. Khi lợn mẹ tìm chỗ nằm, âm hộ chảy nước
nhờn, có phân lợn con kèm theo là lợn bắt đầu đẻ, từ đó chúng ta có kế hoạch
đỡ đẻ kịp thời.
1.5.1.2. Sinh lý sinh sản của lợn
* Sinh lý sinh dục của lợn nái: Sinh lý sinh dục của lợn nái được biểu
hiện ở các đặc điểm như là tuổi động dục lần đầu tiên, chu kỳ động dục, tuổi
đẻ lứa đầu, sự hao mòn khối lượng cơ thể lợn mẹ.
* Đặc điểm động dục của lợn nái: Biểu hiện động dục của lợn nái tùy
thuộc vào giống, tuổi và cá thể. Toàn bộ thời gian động dục của lợn nái có thể
chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực, giai đoạn chịu đực, giai
đoạn sau chịu đực.
- Giai đoạn trước khi chịu đực: Đặc điểm chung của lợn nái khi bắt đầu
động dục là thay đổi tính nết, kêu rít, bỏ ăn hoặc kém ăn, phá chuồng, cơ thể
bồn chồn, tai đuôi ve vẩy, thích gần lợn đực, nếu nhốt nhiều con thích nhảy
lên lưng con khác, âm hộ đỏ tươi, xưng mọng, có nước nhờn chảy ra nhưng
chưa chịu cho con đực nhảy.
- Giai đoạn chịu đực: Còn gọi là thời kỳ mê đực, khi sờ tay lên mông
lợn nái thì lợn đứng yên, đuôi cong lên, hai chân choãi rộng ra, lưng võng
xuống, có hiện tượng đái són, âm hộ chuyển màu sẫm hoặc màu mận chín,

1.5.1.3. Một số bệnh sản khoa thường gặp ở lợn
* Bệnh đẻ khó
Theo Đỗ Quốc Tuấn (2005) [26] khi gia súc sinh đẻ thì thời gian sổ thai
kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy ra ngoài. Hiện tượng này do nhiều
nguyên nhân, điều kiện dẫn đến, nó được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác
nhau. Đẻ khó gây ra nhiều tổn thất kinh tế trong chăn nuôi. Nó không những
gây bệnh cho cơ quan sinh dục dẫn đến hiện tượng vô sinh mà có thể làm cho
cả mẹ lẫn con chết. Vì vậy, việc can thiệp các trường hợp đẻ khó là điều vô
16
cùng cần thiết. Để quyết định phương pháp can thiệp thích hợp, trước hết cần
phải tiến hành chẩn đoán kịp thời và chính xác.
- Nguyên nhân: Lợn nái không được chăm sóc tốt trong suốt quá trình từ
hậu bị đến chửa, đẻ như: Ít vận động, cơ bụng và cơ hoành, cơ liên sườn yếu,
xương chậu hẹp. Những trường hợp xương chậu hẹp do bẩm sinh, thai quá to, thời
tiết nóng bức, cơ thể mẹ yếu do ăn uống, chăm sóc nuôi dưỡng kém, lợn chửa hay
sốt cao, mắc một số bệnh truyền nhiễm và đã được điều trị, lợn nái quá già, nội
tiết tố mất cân bằng hay nồng độ hormone kích đẻ (Oxytocin và Prostagladin F2α)
quá thấp trong thời gian đẻ, lợn nái bị liệt 1/3 thân sau, nơi đẻ không phù hợp,
cách đỡ đẻ không đúng kỹ thuật (Nguyễn Đức Lưu và cs, 2004) [13].
- Triệu chứng: Lợn nái dặn nhiều lần, thời gian lâu mà không đẻ được,
cơn co bóp rặn đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi, khó chịu, nước ối tiết ra nhiều
có lẫn cả máu (màu hồng nhạt), có những trường hợp lợn nái đẻ một con rồi
nhưng vẫn khó đẻ con tiếp sau. Khi kiểm tra thấy thai vướng ngay ở khung
xương chậu không qua được (Nguyễn Đức Lưu và cs, 2004) [13].
- Chẩn đoán: Theo dõi chặt chẽ ngày phối giống, ngày đẻ, cơn co thắt,
rặn đẻ, nếu 1-2 giờ lợn nái rặn liên tục mà không đẻ được, cơn rặn thưa dần,
lợn nái mệt, uống nước nhiều, nhịp thở, nhịp tim tăng hơn bình thường
(Nguyễn Đức Lưu và cs, 2004) [13].
- Biện pháp can thiệp:
Theo Nguyễn Huy Hoàng (1996) [7] trước tiên phải rửa bộ phận sinh dục

truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường
gây ra viêm tử cung (Đỗ Quốc Tuấn, 2005) [26].
- Hậu quả: Theo Lê Văn Năm và cs (1999) [14] viêm tử cung là một
trong những yếu tố gây vô sinh và rối loạn chức năng của cơ quan sinh dục vì
quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng tạo ra độc tố
có hại cho tinh trùng như: Spermilosin (độc tố làm tiêu tinh trùng), các loại
độc tố làm tiêu tinh trùng, các dạng đại thực bào tích cực gây bất lợi cho tinh
trùng. Ngoài ra, nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường bất lợi như
thế cũng sẽ bị chết non. Quá trình viêm sinh ra trong quá trình có chửa là do
biến đổi bệnh lý trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo niêm mạc,
thoái hóa niêm mạc ) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và dạ
con nên qua các chỗ tổn thương vi khuẩn cũng như các độc tố mà chúng tiết
ra làm cho bào thai phát triển không bình thường.
18
- Nguyên nhân
Bệnh viêm tử cung ở lợn thường xảy ra sau khi đẻ, có thể xảy ra ở lợn
nái sau khi phối giống, rất ít khi xảy ra ở những lợn nái hậu bị. Bệnh do
những nguyên nhân chính sau:
Trong quá trình chửa, lợn nái chửa ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận
động hoặc nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: Leptospirosis (lợn nghệ),
Brucellosis (sảy thai truyền nhiễm), Pavrovirus và một số bệnh nhiễm khuẩn
khác Làm cho cơ thể lợn nái yếu dẫn đến việc khó đẻ, hay sảy thai, thai chết
lưu gây viêm tử cung. Trong quá trình đẻ, điều kiện vệ sinh kém, sự can thiệp
của người đỡ đẻ không đúng kỹ thuật thú y, nhau thai bi sót là nguyên nhân
dẫn đến viêm dạ con (Nguyễn Đức Lưu và cs, 2004) [13].
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thanh (2007) [22], có thể khẳng
định rằng việc dùng tay móc thai khi lợn đang đẻ có thể rút ngắn thời gian xổ
thai của lợn mẹ là nguyên nhân chính gây ra viêm tử cung ở đàn nái nuôi theo
mô hình trang trại hiện nay.
- Triệu chứng

+ Viêm cơ tử cung: Đó là quá trình viêm xảy ra ở lớp cơ tử cung, có
nghĩa là quá trình viêm đã xuyên qua lớp niêm mạc của tử cung đi vào phá
hủy tầng giữa. Đây là thể viêm tương đối nặng.
+ Viêm tương mạc tử cung: Là quá trình viêm xảy ra ở lớp ngoài cùng,
là thể viêm nặng nhất (Nguyễn Văn Thanh và cs, 2004) [23].
- Chẩn đoán: Dựa vào những triệu chứng lâm sàng để chẩn đoán bệnh,
ngoài ra ta thấy lợn nái có những biểu hiện mất sữa, âm đạo có những dịch
tiết không bình thường, âm đạo sẽ thấy những miếng nhau thai sót hoặc thai
chết lưu ở tử cung mùi hôi đặc biệt (Nguyễn Đức Lưu và cs) [13].
Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs (1986) [15] khi kiểm tra qua trực tràng
có thể cảm nhận thấy một hoặc hai sừng tử cung sưng to, thành tử cung dày,
khi sờ vào phản ứng co lại của sừng tử cung yếu. Nếu trong tử cung có tích
nước thẩm xuất thì sờ vào thấy có vỗ sóng.
- Điều trị
Để điều trị tốt bệnh viêm tử cung cần phải theo dõi, phát hiện kịp thời
và chẩn đoán chính xác.
Phạm Sỹ Lăng và cs (1995) [12] đã điều trị bệnh viêm tử cung theo
phác đồ điều trị như sau:
- Tiêm thuốc điều trị:
Penicillin bột/lọ: dùng 200.000 UI/kg TT dùng liên tục 3-4 ngày (lợn
bệnh cấp tính), 6-8 ngày (lợn bệnh mãn tính).
Kanamycin (Streptomycin) bột/lọ: 15-20 mg/kg TT dùng phối hợp với
Penicillin theo thời gian trên.
- Dùng các loại thuốc nâng cao thể trạng: Vitamin B1, vitamin C, Cafein.
- Hộ lý: Giữ sạch sẽ chuồng trại và bãi chăn thả trong quá trình điều trị.
Dùng PGF2α hoặc các dẫn xuất của nó tiêm dưới da 2 ml (25 mg/tiêm
một lần), lugol 200 ml (Neomycin 12 mg/kg TT) thụt tử cung, Ampicillin 3-
20
5g tiêm bắp hoặc tĩnh mạch tai, ngày một lần. Liệu trình điều trị 3-5 ngày
(Nguyễn Văn Thanh và cs, 2004) [23].

bổ sung thêm nguyên nhân gây bệnh, đó là do lợn con mới đẻ có răng nanh
21
không bấm nên bú làm sây sát vú mẹ, tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập.
Chuồng lạnh quá, nóng quá, thức ăn khó tiêu hóa cũng làm ảnh hưởng đến
cảm nhiễm vi trùng.
- Cơ chế sinh bệnh: Trong điều kiện chuồng trại, vệ sinh môi trường, khu
vực chăn nuôi kém, vi khuẩn có thể xâm nhập qua ống dẫn sữa ở đầu vú hoặc
theo đường máu từ các vết trầy, vết thương bị nhiễm trùng khác trên cơ thể để
gây bệnh. Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết làm sữa ứ đọng trong bầu vú là
điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển (http:// www.opac.hc.edu.vn) [32]
-Triệu chứng:
Viêm vú ở lợn nái thường xảy ra ở những ngày đầu tiên sau khi đẻ,
cũng có thể xảy ra ở thời kỳ mang thai và sau khi tách con. Bệnh có thể xảy ra
ở dạng cấp tính, mãn tính và cận mãn tính. Bầu vú bị viêm sưng, sung huyết,
khi sờ thấy nóng và đau. Sữa của bầu vú viêm loãng, đôi khi có màu hồng
hoặc có cục casein như bã đậu. Nái ốm ăn ít, yếu, nhiệt độ tăng.
+ Viêm tiết dịch đặc trưng quá trình viêm ở mô liên kết của tuyến vú,
sữa thay đổi. Khi bị viêm tiết dịch cata, quá trình viêm lan đến niêm mạc
khoang vú, đường tiết sữa và dẫn sữa. Trong trường hợp này sữa loãng chứa
nhiều cục casein. Viêm mủ đặc trưng chảy mủ khi vắt sữa, gốc vú viêm cứng
hoặc có nhiều hạch di động khi sờ.
+ Khi bị viêm dạng cấp tính, vú bị viêm một bầu hoặc vài bầu vú bị
viêm sờ thấy cứng, đau, sưng, thành phần sữa thay đổi. Tình trạng này kéo dài
khoảng 4 ngày. Lợn con chết khoảng 30-100% do thiếu sữa và bú sữa nhiễm
trùng gây tiêu chảy. Dạng viêm vú kéo dài 7-21 ngày sau khi đẻ, triệu chứng
giống như viêm cấp tính nhưng ở mức độ nhẹ hơn. Khi bị viêm mãn tính
trong vú sẽ phát triển tăng sinh các mô liên kết, thông thường những chỗ này
về sau sẽ phát triển thành các ổ áp xe (Lê Văn Năm và cs, 1999) [14].
Theo Trương Lăng (2009) [9] thì sau khi đẻ 1-2 ngày thấy vú sưng đỏ,
lợn mẹ ăn ít hoặc bỏ ăn. Vú viêm không cho sữa, đầu vú sưng nóng, sờ lợn có

viêm chưa có mủ chỉ trị 2-3 ngày sẽ mềm trở lại, lợn hết bệnh và cho sữa bình
thường. Nếu 2-3 ngày không khỏi phải dùng:
Penicillin: 10.000 UI/kg TT
Streptomycin: 10 mg/kg TT
Mỗi ngày tiêm một lần tiêm quanh vú bị viêm cho tới khi hết. Tiêm
dung dịch Tetramycin vào vú viêm theo lỗ sữa sau khi đã vắt cạn sữa viêm.
Theo Nguyễn Huy Hoàng (1996) [7] có thể điều trị viêm vú bằng cách
kết hợp điều trị toàn thân và điều trị cục bộ:
+ Điều trị toàn thân: Tiêm thuốc Septotryl (hoặc Sulphamid) 1 ml/10-
15 kg TT ngày 1 lần, liên tục 3-5 ngày hoặc Benzyl Penicillin (hoặc
23
Ampicillin) 2-3 triệu UI/nái 120 kg TT tiêm bắp 2 lần, tiêm đến khi khỏi
bệnh, nên tiêm kèm với vitamin C 1000 g/nái.
+ Điều trị tại vú viêm: Dùng ống hút để hút sữa chứa viêm mủ, máu,
hút lúc lợn mẹ cho con bú lúc đó mới có sữa. Tiêm kháng sinh vào vú
100.000 UI Penicillin cho 1 vú, vị trí tiêm giữa hai gốc vú hoặc tiêm tại vú
với kim thật nhỏ, không bơm mạnh mà vừa se vừa ấn sâu khoảng 1 cm bơm
thuốc là được.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Như Pho (2002) [17] thì việc tăng cường
điều kiện vệ sinh đến hội chứng MMA như là thực hiện tốt việc sát trùng nái
sinh sản, chọn thuốc sát trùng phổ rộng, pha thuốc đúng với khuyến cáo, để
trống chuồng 3 ngày trước khi cho nái vào sinh. Vệ sinh thân thể nái như tắm
xịt toàn thân, nhất là vùng thân sau và bốn móng trước khi cho vào chuồng
sinh, sử dụng bao tay đã sát trùng khi can thiệp đẻ khó, sử dụng đúng mức
dụng cụ thụt rửa tử cung, tiêm Oxytocin 10 UI/nái thụt rửa tử cung 1 lần/ngày
trong 3 ngày liên tục. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng MMA giảm rõ rệt
(ở lô thí nghiệm là 16,6%; ở lô đối chứng là 33,3%)
Trương Lăng và cs (2002) [10] cho biết: Trước khi lợn đẻ tắm lau sạch
cho lợn nái, đẻ xong rửa sạch bằng nước ấm hai chân sau, hai hàng vú và
những nơi bẩn, bấm nanh cho lợn con, cố định đầu vú và trực cho lợn con bú

thể do vi trùng, nền chuồng ẩm ướt, gia súc lạnh bụng do nằm trên nền
chuồng xi măng, do thời tiết khí hậu thay đổi, cơ thể thiếu sắt. Đây là bệnh
xuất hiện với số lượng cao, nhưng là bệnh dễ điều trị nên tỷ lệ chết không
đáng kể.
Công ty Pig Việt Nam (1998) [2] đã khẳng định dù cho lợn nái ăn tốt
và nhiều sữa vẫn nên cho lợn con tập ăn sớm để tăng khối lượng sau khi cai
sữa, thêm vào đó giúp lợn con làm quen với cám khô sau khi cai sữa 3-4 tuần
tuổi. Cho lợn con tập ăn sớm ở 7 ngày tuổi, dùng loại máng ăn nhỏ, nhẹ, rễ cọ
rửa, cho lợn con ăn bằng cách rải một ít cám ở phía trước, tạo cho chúng niềm
vui thích và mong muốn được ăn, không để máng ăn trực tiếp dưới bóng đèn
sưởi và gần vòi nước uống. Cho lợn con tập ăn 3-4 lần/ ngày, tăng dần lượng
cám nên, cung cấp nước uống thường xuyên cho lợn.
Bên cạnh đó thì công tác điều trị cũng đặc biệt được chú trọng.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status