SKKN Nâng cao chất lượng giảng dạy kỹ năng viết môn tiếng anh ở trường THPT - Pdf 26

A.ĐẶT VẤN ĐỀ:
Như chúng ta đã biết trong nhà trường Trung học hiện nay việc giảng day Tiếng
Anh theo phương pháp giao tiếp đã đạt được một số hiệu quả nhất định. Phương
pháp giao tiếp đang được khuyến khích sử dụng để nhằm phát triển cả 4 kĩ năng :
nghe - nói - đọc -viết.
Những giáo viên Tiếng Anh hơn ai hết phải hiểu rằng viết là một kỹ năng khó
cho người học, nó đòi hỏi người dạy phải nắm được phương pháp giảng dạy hiệu
quả và thực hiện tốt nguyên lý “Học đi đôi với hành”. Bên cạnh đó, viết còn là một
hình thức kiểm tra toàn diện kiến thức của học sinh vì các em phải vận dụng từ ngữ
và các cấu trúc ngữ pháp mà các em đã học vào bài viết của mình.Vậy là rõ ràng
rằng kĩ năng viết là vô cùng qua trọng.
I. Cơ sở lí luận:
Viết thường được cho là công việc khó khăn và phức tạp đối với cả giáo viên và
học sinh. Mặc dù khác với nói, trong khi viết học sinh có thời gian suy nghĩ và có
thể thay đổi được những gì mình đã viết ra nhưng viết lại khó hơn nói ở chỗ nó
phải được gọt giũa cẩn thận và phải tuân theo một quy trình và những quy ước hết
sức chặt chẽ. Một điểm quan trọng nữa yêu cầu người viết phải lưu ý đặc biệt là tại
sao các em phải viết và viết cho ai hay đối tượng nào, trên cơ sở đó học sinh phải
động não để chọn từ ngữ, tìm ra các ý phù hợp và tổ chức các ý lại với nhau để có
một nội dung bài viết có trình tự logic. Sau khi đã có những chất liệu này rồi học
sinh phải viết nháp, đọc lại bản nháp một cách nghiêm túc, sửa lại những chỗ mình
chưa ưng ý hay chưa thỏa mãn. Học sinh có thể phải viết lại và đọc để chữa lỗi.
Nếu trong Tiếng Anh 10 quá trình viết của học sinh được đặt dưới sự kiểm soát
chặt chẽ của giáo viên và trong Tiếng Anh 11 quá trình viết được đặt dưới sự kiểm
soát vừa phải, nghĩa là học sinh có độ thoải mái hay tự do nhất định trong khi viết
thì Tiếng Anh 12 học sinh có một độ thoải mái hơn để phát huy được tính sáng tạo
của các em trong khi viết. Đó là một trong những lí do tại sao trong một số chủ đề
viết, học sinh không được cung cấp bài viết mẫu mà chỉ được cung cấp một số gợi
ý về nội dung, còn việc lựa chọn hình thức ngôn ngữ và cách hành văn như thế nào
học sinh có thể tự do hay độc lập thực hiện.
II.Thực trạng của vấn đề:

tiết thao giảng, thăm lớp…
2- Phương pháp trao đổi: Sau các tiết thao giảng các đồng chí giáo viên trao
đổi, thảo luận đưa ra các ý kiến đóng góp nâng cao chất lượng bài dạy.
3- Phương pháp điều tra: Điều tra học sinh thông qua hệ thống các câu hỏi,
bài tập và phiếu học tập.
2. Đối tượng nghiên cứu:
2
Là học sinh THPT, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này là học sinh 5 lớp
tôi được phân công dạy từ đầu năm học 2012- 2013 tại trường THPT Ngọc Lặc:
11A2, 12A1, 12A5, 12A8 và 12A9.
Điều tra đầu năm học:
Lớp SL
HS
Giỏi Khá T.B Yếu Kém
S
L
TL S
L
TL S
L
TL S
L
TL S
L
TL
11A2 42 1 2,4% 2 4,8% 20 48% 15 36 % 4 8,8%
12A1 48 3 6,3% 5 10,4% 25 52% 12 25 % 3 6,3%
12A5 50 1 2% 2 4 % 20 40 % 15 30 % 12 23%
12A8 44 1 2,3% 2 4,6% 10 23 % 22 50 % 9 21%
12A9 49 1 2% 1 2 % 25 50 % 10 20 % 12 26%

bài viết sau này của học sinh.
- Giáo viên và học sinh cần làm rõ tình huống và yêu cầu bài viết. Để làm tốt phần
gợi ý nên khai thác sự đóng góp ý kiến của cả lớp hay nhóm trước khi học sinh làm
việc cá nhân.
- Chuẩn bị từ và cấu trúc cần thiết cho bài viết: Dùng thủ thuật gợi mở giúp học
sinh nhớ lại những từ ngữ mà các em đã biết và dạy các em những từ chưa biết cần
thiết và có liên quan đến bài viết, thì và thể động từ đặc trưng để phục vụ cho mục
đích bài viết.Viết tập hợp các từ ngữ đó lên bảng và hướng dẫn cách sử dụng
chúng. Ví dụ bài mô tả người thì cần các tính từ và cụm từ mô tả hình thức, tính
cách; bài viết về các hoạt động thường ngày thì dùng thì hiện tại đơn…….
- Một khó khăn học sinh thường gặp phải khi viết là thiếu ý để viết.Vì vậy cần giúp
học sinh vận dụng những kiến thức các em có sẵn, trao đổi, chia sẻ với nhau những
ý tưởng hay kiến thức đó.Việc này có thể thực hiện thông qua hoạt động “động
não’’chung cho cả lớp hay thảo luận nhóm.
- Hướng dẫn học sinh lập dàn ý bài viết.
Bước 2. Tiến hành viết (While-writing)
- Khi đã có dàn ý, học sinh bắt đầu viết. Có thể viết cá nhân nhưng cũng có thể cho
Hs viết chung theo cặp/nhóm ( tất cả cùng đóng góp ý kiến và một người viết các ý
đó)
4
- Trong lúc học sinh viết bài giáo viên đi quanh hướng dẫn nếu cần thiết.
Bước 3. Chữa bài (Post-writing)
Sau khi viết có thể dùng nhiều hình thức khác nhau để có thông tin phản hồi về
bài viết của HS (feedback) và sửa lỗi.
- Cách thức truyền thống là giáo viên thu bài, đọc rồi sửa lỗi cho tất cả học
sinh trong lớp. Có nhiều cách sửa lỗi nhưng tốt nhất là gợi ý để học sinh
nhận ra lỗi của mình và tự sửa. Giáo viên có thể chỉ gạch chân lỗi để học
sinh tự sửa, có thể chỉ ghi bên cạnh lề lỗi để học sinh tự tìm ra và sửa .
- Một cách khác là gọi một hoặc hai học sinh lên đọc bài viết của mình để cả
lớp nhận xét.

2.Scott/ the works/ like/ to/ learned/ composers/ of / as well as/ Bach/ Beethoven
and Mozart/ to/ music/ compose/ play.
3.He/ / famous/ quickly/ became.
4.His tunes/ of/ were/ classical European and Afican / mixture/ beats/ Ragtime/
wonderful/ were/ as/ which/ known.
6
Biography
Date of birth
Career
Family’s background
Place of
birthday
5.All in all / 50 piano rags/ wrote/ called/ King of Ragtime/ and / the/ he .
6.Scott Joplin/ 1917/ died/ in.
Kết quả là đa số các em sôi nổi hẳn lên. Sau khi làm việc theo cặp khoảng
gần 10 phút các em đã có một bài viết hoàn chỉnh. Tôi có thu 1 số bài và chỉnh sửa
tại lớp.
Và bài viết của Task 2 thực ra là cách viết theo model writing của Task 1.
2. Miêu tả biểu đồ hoặc bảng: Describing a chart or a table.
Đây là một dạng viết khó với hầu hết tất cả các em học sinh vì vốn từ cần vận
dụng cho thể loại bài này trong SGK không nhiều. Do vậy để làm cho phần này trở
nên đơn giản hơn thì phương pháp dẫn dắt chủ yếu là dùng bài viết mẫu model
writing. Ngoài ra giáo viên cũng có thể đặt ra các câu hỏi để học sinh trả lời nhằm
phân tích số liệu trên biểu đồ hoặc bảng. Sau đó học sinh có thể ghép nối các câu
lại thành bài viết.
Ví dụ: English 11- Part D: Writing : Study the chart then write a paragraph:
Warm up: This kind of chart pie chart is pie chart.
1.Can you describe it in Vietnamese?
Supply the meaning of new words:
distribute (v) : phân bố

trends you see.)
The pie chart shows/ presents + description.
It can be seen from the chart that + S + V/ It is clear from the chart that + S +
V.
B. Body: (select important information, organize it, compare or contrast)

+ The largest/least area: S + has the largest/ least population + with + %
+ The largest/least area: S + has the largest/ least population + with + %
+ The second largest area: S + has the second most largest population, making up
+ The second largest area: S + has the second most largest population, making up
+ %
+ %
+ The population of N1 is about twice/ three times as much as that of N2 (N1 has
+ The population of N1 is about twice/ three times as much as that of N2 (N1 has
more than double the population of N2)
more than double the population of N2)
+ N1 has (nearly) half as much as N2.
+ N1 has (nearly) half as much as N2.
(N1 has (nearly) half of the population of N2.)
(N1 has (nearly) half of the population of N2.)
8
C. Conclusion (Sum up the global trends and compare)
To sum up/ in conclusion, most of the population of the world live in + area.
As can be seen, the greatest concentration of the world's population is in + area
Ex: As can be seen, the greatest concentration of the world's population is in
Asia
- Ask SS to look at the chart and answer the folloing question:

- Supply some new words:
sufficient (adj) : đầy đủ
livelihood (n) : kế sinh nhai
rely on : phụ thuộc vào
- Ask Ss to work in pairs to discuss and suggest the possible solutions to the
problems.
- Select Ss’ answers.
For example:
We should:
1.organise different activities to raise people’s awareness of the need toprotect
these animals.
2.contribute to the funds of preserving the natural resources and ask for sponsor.
3. to the people around – create more jobs and encourage to do something else.
4.enact laws to ban activities that can damage or destroy nature.
5. spend more time, money and staffs on habitat reserves.
- Supply Ss with some necessary conjunctions :
first, second, third….
moreover, in addition, besides that, ….
last but not least.
Task 2: Ask Ss to work individually and write a paragraph base on the
suggestions beginning with:
10
There are a number of measures that should be taken to protect endangered
animals
- Get Ss to do peer correction.
- Select some Ss’ work to do correction at home.
4.Viết thư: Writing a letter Viết thư được xem là một hình thúc viết phổ biến và
tự do nhất trong chương trình THPT
Chủ đề mà các em được yêu cầu viết cũng khá đa dạng như thư mời (letter of
invitation), thư kể chuyện, thư từ chối hoặc đồng ý ( letter of acceptance or refusal).

Vina Tour
Tourist guide
Good knowledge of culture,
geography and history
Good manner
12
Fluent English
Good-
looking
250 Nguyen Du Street , Hanoi
Dear Sir or Madam.
1.I/ just/ read /your company’s advertisement/ Du Lich newspaper.
2.I/ interested/ work / tourist guide/and / I like apply/ post/ your company.
I think/ I meet/ all/ qualifications/ need.
4.I /finish/ high school/ 5 years ago and I / work/ tourist guide/ for over 3 years/ so
I know/many touristareas/ Vietnam.
5.I also/ English/ very well
6.And I/ willing / work hard/ long hours.
7/I also/good manner/ and a good knowledge/ Vietnamese culture, history/
geography.
8.I hope/ consider/ application.
9.I/ look/ forward/ hear/ you soon.
Yours faithfully
Mai Trang
Đây là câu chuyện thực tế xảy ra ở lớp 12A5, lớp tôi nhận dạy từ đầu năm, chất
lượng học sinh khá kém hơn 90% trung bình và yếu kém. Sau khi tôi đã hướng dẫn
các em về 3 phần của lá thư kèm theo nội dung mà các em cần phải có ở mỗi phần
thì các em có ý kiến là quá khó không thể viết được. Một số em yêu cầu được viết
Tiếng Việt. Tôi đồng ý. Năm phút trôi qua các em lại có ý kiến không biết bắt đầu
viết từ đâu. Trong khi đưa handouts của bài viết cho các em tôi có nói rằng đôi khi

các em sẽ không có một sản phẩm - một bài văn, một đoạn văn và thậm chí là một
câu mà không có lỗi ngay trong lần đầu tiên.
Đối với những giáo viên theo phương pháp này, không có lỗi trong bài học thì
có nghĩa việc học tập thực sự chưa diễn ra.Việc sửa lỗi là một phần quan trọng
trong bài học. Quan điểm của giáo viên đối với việc sửa lỗi là tích cực và sửa lỗi
cũng được xem là kĩ thuật được dùng để khuyến khích học sinh chứ không phải
làm cho các em cảm thấy mình kém cỏi. Đối với các giáo viên này, một bài viết
hoàn hảo là bài full of mistakes và học sinh tự sửa lỗi hoặc sửa lỗi cho nhau.
3. Học sinh tự sửa lỗi hoặc sửa lỗi cho nhau:
14
Rất nhiều giáo viên tin rằng các em học sinh không thể tự sửa lỗi cũng như sửa
lỗi cho nhau. Tuy nhiên điều này là không đúng. Hầu như tất cả các lỗi có thể sửa
được là lỗi thuộc về độ chính xác và ngay khi giáo viên chỉ cho học sinh lỗi sai
trong câu thì các em có thể nhanh chóng và dễ dàng tự mình sửa lỗi được. Nếu đó
là lỗi từ vựng và học sinh không thể tự sửa được thì hầu như trong mọi trường hợp
học sinh khác trong lớp có thể cung cấp từ khác. Học sinh rất vui khi giúp đỡ được
nhau và sửa lỗi cho nhau sẽ khuyến khích các em không phụ thuộc vào giáo viên
mà thay vào đó các em có thể học tập lẫn nhau.
4. Sửa cái gì và không nên sửa cái gì:
Giáo viên không cần thiết phải sửa tất cả các lỗi trong bài viết của học sinh.
Nếu giáo viên dùng bút đỏ đánh dấu tất cả các lỗi của học sinh thì bài viết của các
em sẽ trông như 1 bãi chiến trường. Điều này sẽ không khuyến khích được học
sinh. Các em sẽ nghĩ rằng mình không có khả năng viết tốt và các em sẽ không
muốn viết bất cứ bài nào trong các bài học tiếp theo. Mục đích của việc sửa lỗi
không phải chỉ cho học sinh thấy rằng giáo viên đúng còn các em thì sai. Tuyệt
nhiên không phải vậy. Mà mục đích là khuyến khích các em tự diễn đạt. Thay vì
dùng bút đỏ, giáo viên hãy dùng bút chì và luôn kèm theo một cục tẩy vì giáo viên
cũng có thể mắc lỗi trong khi sửa bài cho học sinh. Giáo viên không nên sửa tất cả
các lỗi trong bài viết của học sinh mà hãy quyết định lựa chọn những lỗi quan trọng
nhất tùy vào mục đích của bài viết. Cố gắng tìm ra những ưu điểm trong bài viết để

4 7,8%
Tóm lại, một tiết học viết Tiếng Anh đạt kết quả cao phụ thuộc vào nhiều yếu
tố. Đầu tiên phải kể đến vai trò định hướng tổ chức, kiểm soát và phương pháp
giảng dạy của người thầy giáo. Trình độ của học sinh trong lớp có thể còn kém xa
rất nhiều so với những bài học trong sách giáo khoa nhưng nếu người thầy chịu khó
đầu tư thời gian quan sát, học hỏi, hiểu học sinh để có thể thiết kế bài học phù hợp
với trình độ của các em thì kết quả sẽ khác. Quan điểm của tôi cho rằng việc giáo
viên có thể hoàn thành được một tiết học hay không không quan trọng mà quan
trọng ở chỗ trong 45 phút ấy học sinh đã được học những gì. Một khi các em được
định hướng tốt, chiếm lĩnh được tri thức thì các em mới chủ động, tích cực, có
hứng thú để học Tiếng Anh và tiến đến việc hoàn thiện các kĩ năng giao tiếp khác.
Bất lợi có thể xem là lớn nhất đối với giáo viên dạy ngoại ngữ ở trườngchúng
tôi và các trường khác nói chung hiện nay là sĩ số học sinh trên một lớp học khá
đông, trung bình từ 45- 50 em. Do số lượng đông nên các hoạt đông theo nhóm
thường là đặc thù của môn Tiếng Anh không thể tiến hành được. Giáo viên cũng
không thể quan tâm sát sao đến từng cá nhân học sinh.Thêm vào đó là các em đến
từ thị trấn thì ít mà các em là người dân tộc trong các làng bản thì nhiều nên trình
độ tiếp thu khác nhau, nền tảng kiến thức khác nhau. Do vậy để có được một giờ
dạy viết nói riêng và các kĩ năng khác nói chung đạt chất lượng trong đó tất cả các
em có cơ hội được nói, viết, luyện tập và sửa lỗi Tiếng Anh là một điều rất khó.
17
Bài học trong SGK rất nặng trong khi trình độ học sinh ở trường chúng tôi đa
phần là học sinh miền núi, các em đang còn rất yếu và kém nên tôi không dám yêu
cầu ở các em những gì vượt quá sức mình. Thông qua một số các bài học như trên
tôi thấy rằng nếu làm đơn giản hơn các hoạt động trong SGK thì sẽ phù hợp hơn
với các em, các em sôi nổi thảo luận, sôi nổi viết và kết quả thu được các em tiến
bộ từng ngày, thấy yêu môn Tiếng Anh cũng như có ý thức học hơn. Các em không
còn thấy bi quan về khả năng học tiếng Anh mà tạo được niềm tin trong học tập,
vận dụng ngoại ngữ trong giao tiếp.
Sau một thời gian tự tìm tòi, học hỏi và áp dụng các phương pháp giảng dạy

B.Giải quyết vấn đề :
I. Phương pháp và đối tượng nghiên cứu:
II.Các bước tiến hành một bài viết.
III.Một số ví dụ đã áp dụng.
IV.Vai trò của sửa lỗi trong bài viết.
2-16
C.Kết luận và đề xuất: 17-18
II. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Sách giáo khoa Tiếng Anh lớp 10,11 và 12.
2.Sách giáo viên Tiếng Anh 12.
3.Tài liệu bồi dưỡng giáo viên Tiếng Anh 10 và 12.
4.Teacher’s Workbook.
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status