Đề tài nghiên cứu khoa học
LỜI NÓI ĐẦU
Trước xu thế phát triển như vũ bảo của khoa học công nghệ, của toàn cầu
hoá, đặc biệt là sự nổi lên của nền kinh tế tri thức và các nguồn lực ngày càng trở
nên khan hiếm hơn. Thì ngày nay con người được xem xét là yếu tố cơ bản, yếu tố
năng động cho sự phát triển bền vững. Chính vì vậy con người được đặt vào vị trí
trung tâm, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã
hội, tốc độ phát triển kinh tế của một quốc gia là do con người quyết định.
Việt nam là quốc gia có truyền thống nông nghiệp lâu đời, nông thôn hiện
đang chiếm hơn 70% lao động xã hội và đây là một nguồn lực lao động dồi dào,
đầy tiềm năng cho sự phát triển kinh tế xã hội, góp phần thực hiện thành công quá
trình CNH - HĐH (công nghiệp hoá hiện đại hoá) đất nước. Nhưng đây cũng là
thách thức lớn cho vấn đề sử dụng lao động ở nông thôn, khi mà tình trạng thất
nghiệp thiếu việc làm đang còn rất lớn và có nguy cơ ngày càng gia tăng làm kìm
hảm sự phát triển của đất nước. Chính vì vậy mà em chọn đề tài ‘Sử dụng nguồn
lao động ở nông thôn’ để có thể góp một phần ý kiến của mình vào việc giải quyết
việc làm ở nông thôn nước ta hiện nay.
Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Vĩnh Giang đã giúp đỡ em hoàn
thành đề tài này. Tuy nhiên hiểu biết của em về vấn đề còn hạn chế nên em hy
vọng thầy có thể cho em ý kiến để lần sau để em có thể hoàn thiện đề tài hơn và có
thể áp dụng nó vào giải quyết việc làm ở nông thôn quê hương em một cách tốt
hơn. Em xin chân thành cảm ơn.
SV: Đinh Trọng Vân
1
Đề tài nghiên cứu khoa học
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN LAO ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LAO ĐỘNG
Ở NÔNG THÔN
I. Các khái niệm cơ bản liên quan đến nguồn lao động và sử dụng nguồn lao
động ở nông thôn.
1. Các khái niệm cơ bản:
động mà còn có những người trên hoặc dưới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với
những công việc phù hợp với mình.Từ khái niệm nguồn lao động ở nông thôn mà
ta thấy lao động ở nông thôn rất dồi dào, nhưng đây cũng chính là thách thức trong
việc giải quyết việc làm ở nông thôn.
- Khái niệm về việc làm.
Trước đây trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung người lao động được coi là
có việc làm và được xã hội thừa nhận là ngưới làm việc trong thành phần kinh tế
quốc doanh, khu vực nhà nước và khu vực kinh tế tập thể. Trong cơ chế đó nhà
nước bố trí việc làm cho người lao động.
Hiện nay, nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, quan niệm về việc làm đã thay đổi một cách căn bản. Theo điều 13 chương 3
Bộ luật lao động nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1994 đã ban
hành: "Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được
thừa nhận là việc làm". Với quan niệm về việc làm nh trên sẽ làm cho nội dung của
việc làm được mở rộng và tạo ra khả năng to lớn để giải phóng tiềm năng lao động,
giải quyết việc làm cho nhiều người. Điều này được thể hiện trên hai góc độ:
+Thị trường việc làm được mở rộng bao gồm tất cả các thành phần kinh tế,
các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh và cũng không hạn chế về mặt không
gian (trong nước, ngoài nước ).
3
Đề tài nghiên cứu khoa học
+ Người lao động được tự do hành nghề được tự do liên doanh, liên kết tự
do thuê mướn lao động theo pháp luật và sự hướng dẫn của Nhà nước để tự tạo
việc làm cho mình và thu hút thêm lao động. Để hiểu thêm về khái niệm việc làm
ta cần hiểu thêm hai khái niệm sau:
Thứ nhất: việc làm đầy đủ : theo định nghĩa việc làm đầy đủ trong cuốn sử
dụng lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam (trang 23- Nhà xuất bản sự thật),
thì việc làm đầy đủ là sự thoả mãn nhu cầu việc làm của bất cứ ai có khả năng lao
động trong nền kinh tế quốc dân. Hay nói cách khác việc làm đầy đủ là trạng thái
mà mỗi người có khả năng lao động, muốn làm việc thì đều có thể tìm được việc
lao động trong quản lý hành chính, lao động quản lý.Trong lĩnh vực sản xuất vật
chất tăng tỷ trọng lao động, giảm tỷ trong lao động trong ngành nông nghiệp, bởi
vì tăng năng suất lao động trong các ngành trên là thuận lợi hơn nó tác động trở lại
ngành nông nghiệp.
2. Vai trò của nguồn lao động nông thôn
Lao động là một trong ba nhân tố của bất cứ một quá trình sản xuất nào và
trong thời đại ngày nay khi mà các nguồn lực trở nên khan hiếm thì nó được xem
xét là yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất, vai trò của nguồn lao động nói
chung và nguồn lao động nông thôn nói riêng là rất quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế đất nước.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đang thực hiện CNH - HĐH
đất nước trong đó CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn được đặc biệt quan tâm. Vì
vậy lao động nông thôn có vai trò hết sức quan trọng nó được thể hiện qua các mặt
sau:
a. Nguồn lao động nông thôn tham gia vào quá trình phát triển các ngành
trong nền kinh tế quốc dân.
5
Đề tài nghiên cứu khoa học
Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, nguồn lực trong nông
nghiệp có số lượng lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lao động xã hội. Song,
cùng với sự phát triển của quá trình công nghiệp hoá, nguồn nhân lực trong nông
nghiệp vận động theo xu hướng giảm xuống cả tương đối và tuyệt đối. Quá trình
biến đổi đó diễn ra theo hai giai đoạn sau:
- Giai đoạn đầu: diễn ra khi đất nước bắt đầu công nghiệp hoá, nông nghiệp
chuyển sang sản xuất hàng hoá, năng suất lao động nông nghiệp được giải phóng
trở nên dư thừa và được các ngành khác thu hút, sử dụng vào hoạt động sản xuất-
dịch vụ. Nhưng do tốc độ tăng tự nhiên của lao động trong khu vực công nghiệp
còn lớn hơn tốc độ thu hót lao động dư thừa từ nông nghiệp, do đó ở thời kỳ này tỷ
trọng lao động nông nghiệp mới giảm tương đối, số lượng lao động tuyệt đối còn
tăng lên. Giai đoạn này dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của nền
sau đó, đặc biệt trong thời gian gần đây như : số lượng, trình độ chuyên môn kỹ
thuật, tay nghề, học vấn của người lao động ngày càng được nâng lên. Nên năng
suất và sản lượng lương thực tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng. Không
những cung cấp lương thực, thực phẩm ổn định cho nhu cầu trong nước mà hằng
năm chúng ta đã xuất khẩu nông sản, thu được ngoại tệ đáng kể cho đất nước trong
thời gian qua đã tạo điều kiện vật chất cho quá trình CNH - HĐH đất nước. Để
việc cung cấp lương thực, thực phẩm ổn định và chất lượng không ngừng được
nâng cao thì nguồn lao động nông thôn đóng vai trò hết sức quan trọng.
c. Nguồn lao động nông thôn tham gia vào quá trình sản xuất nguyên liệu
cho công nghiệp chế biến Nông - Lâm - Thuỷ sản .
Công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản với các yếu tố đầu vào là các sản
phẩm mà người lao động nông thôn làm ra. Trong thời kỳ CNH - HĐH thì phát
7
Đề tài nghiên cứu khoa học
triển công nghiệp chế biến là rất quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của sản
phẩm nông nghiệp.
8
Đề tài nghiên cứu khoa học
d. Lao động nông thôn là thị trường tiêu thụ sản phẩm của các ngành khác.
Lao động nông thôn là thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn của các ngành
khác và của chính bản thân ngành nông nghiệp. Tại thời điểm 01/07/2003, lực
lượng lao động của cả nước là 42.128.343 người. Trong đố, khu vực nông thôn có
31.941.500 lao động chiếm 75,82% lược lượng lao động toàn quốc. Đến thời điểm
01/7/2004, lực lượng lao động cả nước có 43,255 triệu lao động tăng gần 2.7%so
với thời điểm 01/07/2003. Trong đó lực lượng lao động nông thôn có 32,706 triệu
người, chiếm 75,6% lực lượng lao động cả nước. Với dân số trên 30 triệu thì có thể
nói nông thôn là một thị trường tiêu thụ rộng lớn cần phải được khai thác triệt để.
3. Đặc điểm của nguồn lao động ở nông thôn
Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp có đặc điểm khác với đặc điểm của
các ngành khác. Vì vậy, lao động nông thôn cũng có những đặc điểm khác với lao
khoảng 0,7%, năm 2000 - 2002 giảm bình quân hàng năm về tỷ lệ này là 0,65% thì
lực lượng lao động nông thôn Việt Nam năm 2005 sẽ vào khoảng 33 (triệu người).
c. Chất lượng nguồn lao động nông thôn chưa cao.
Chất lượng của người lao động được đánh gía qua trình độ học vấn, chuyên
môn kỹ thuật và sức khoẻ.
- Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật: nguồn lao động của nước ta
đông về số lượng nhưng sự phát triển của nguồn nhân lực nước ta còn nhiều hạn
chế, nhiều mặt chưa đáp ứng được yêu cầu khắt khe trong bối cảnh đất nước đang
hội nhập kinh tế quốc tế đặc biệt chúng ta đang chuẩn bị gia nhập tổ chức WTO
trong thời gian tới trong đó nông nghiệp được xem là một trong những thế mạnh.
Riêng lao động nông thôn chiếm hơn 3/4 lao động của cả nước. Tuy vậy
nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn chưa phát huy hết tiềm năng do trình độ
chuyên môn của lao động thấp kỹ thuật lạc hậu. Do đó, để có một nguồn lao động
10
Đề tài nghiên cứu khoa học
với trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thì nhà nước cần phải có chính sách đào tạo
bồi dưỡng để có nguồn nhân lực đủ trình độ để phát triển đất nước.
- Về sức khoẻ.
Sức khoẻ của người lao động nó liên quan đến lượng calo tối thiểu cung cấp
cho cơ thể mỗi ngày, môi trướng sống, môi trường làm việc,vv Nhìn chung lao
động nước ta do thu nhập thấp nên dẫn đến các nhu cầu thiết yếu hàng ngày chưa
đáp ứng được một cách đầy đủ. Vì vậy, sức khẻo của nguồn lao động cả nước nói
chung và của nông thôn nói riêng là chưa tốt.
II. Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn lao động ở nông thôn
1. Các nhân tố ảnh hưởng đến số lượng lao động
a. Dân số
Dân số được coi là yếu tố cơ bản quyết định số lượng lao động : qui mô và
cơ cấu của dân số có ý nghĩa quyết định đến qui mô và cơ cấu của nguồn lao động.
Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự biến động của dân số là: phong tục, tập quán
của từng nước, trình độ phát triển kinh tế, mức độ chăm sóc y tế và chính sách của
vấn đề xã hội.
Theo cách tính thông thường tỷ lệ thất nghiệp tính bằng tỷ lệ % giữa tổng số
người thất nghiệp với tổng số nguồn lao động. Nhưng đối với các nước đang phát
triển tỷ lệ thất nghiệp này chưa phản ánh đúng sự thực về nguồn lao động chưa sử
dụng hết. Trong thống kê thất nghiệp ở các nước đang phát triển, số người nghèo
thường chiếm tỷ lệ rất nhỏ và khi họ thất nghiệp thì họ cố gắng không để thời gian
kéo dài. Bởi vì họ không có các nguồn lực dự trữ, họ phải chấp nhận mọi việc nếu
có. Do đó ở các nước đang phát triển biểu hiện tình trạng chưa sử dụng hết lao
động người ta sử dụng khái niệm thất nghiệp hữu hình và thất nghiệp trá hình. Thất
nghiệp trá hình bao gồm bán thất nghiệp và thất nghiệp vô hình. Tình trạng này
xảy ra phổ biến ở nông thôn của các nước đang phát triển cũng như ở nông thôn
Việt nam.
d. Dòng di chuyển nông thôn – thành thị.
13
Đề tài nghiên cứu khoa học
Trước năm 1986 dòng di chuyển nông thôn - đô thị đặc biệt là đô thị lớn
được hạn chế tới mức tối đa và chủ yếu dưới dạng phân công công tác. Tuy nhiên,
cùng với sự thành công của chính sách khoán trong nông nghiệp, việc xoá bỏ chế
độ bao cấp trong phân phối, các chính sách cải cách trong khu vực nông nghịêp
nông thôn, sự đô thị hoá và sự nới lỏng của chế độ hộ khẩu đã tạo nên những dòng
di chuyển lao động từ nông thôn ra thành phố, thị xã, thị trấn làm thuê dài ngày
hoặc chỉ tìm việc làm trong những tháng nông nhàn để có thu nhập cao hơn. Tính
chung trong toàn quốc, di dân nông thôn, đô thị có cường độ khoảng 150 - 200.000
người trong 1 năm. Các đô thị lớn có tỷ lệ di dân cao là Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí
Minh, bình quân mỗi năm có khoảng từ 55.000-80.000 người di cư, chiếm khoảng
40-45% trong tổng số dân tăng lên hàng năm của thành phố này. Điều đó đã dẫn
tới số lao động ở nông thôn bị giảm sút đồng thời lao động ở thành thị tăng nhanh.
Mặt khác, do không có trính độ chuyên môn kỹ thuật nên số lao động này cũng chỉ
làm những công việc nặng nhọc, bán hàng rong ở thành phố nên thu nhập không
cao nhưng cũng giải quyết được vấn đề việc làm trong lúc nông nhàn. tuy nhiên
không ngừng nâng cao trình độ văn hoá và chuyên môn kỹ thuật cho mọi người.
Kết quả giá dục làm tăng lực lượng lao động có trình độ tạo khả năng thúc đẩy đổi
mới công nghệ. Công nghiệp thay đổi càng nhanh càng thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế. Vai trò của giáo dục còn được đánh giá qua tác động của nó đối với việc tăng
năng suất lao động của mỗi cá nhân nhờ có nâng cao trình độ và tích luỹ kiến thức.
- Giống như giáo dục, sức khoẻ làm tăng chất lượng của nguồn nhân lực cả
hiện tại và tương lai, người lao động có sức khoẻ tốt có thể mang lại những lợi
nhuận trực tiếp bằng việc nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung trong
khi đang làm việc.Việc nuôi dưỡng và chăm sóc sức khẻo tốt cho trẻ em sẽ là yếu
tố làm tăng năng suất lao động trong tương lai, giúp trẻ em phát triển thành những
người khỏe về thể chất, lành mạnh về tinh thần. Hơn nữa điều đó còn giúp trẻ em
15
Đề tài nghiên cứu khoa học
nhanh chóng đạt được những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho sản xuất thông qua giáo
dục ở nhà trường. Những khoản chi cho sức khỏe còn làm tăng nguồn nhân lực về
mặt số lượng bằng việc kéo dài tuổi lao động. Ngoài yếu tố giáo dục và sức khoẻ,
nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động còn có động lực lao động. Đây là một
nhân tố quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động. Những người lao động
ở nông thôn được xem là cần cù, chịu thương, chịu khó do đó ý thức, trách nhiệm
lao động của họ là rất tốt.
III. Kinh nghiệm sử dông lao động của Trung Quốc.
Là một nước đang phát triển lớn nhất thế giới với dân số quá đông và mức
tăng trưởng kinh tế chưa cao: sử dụng tốt lao động là một nhiệm vụ rất nặng
nề.Trong những thời kỳ khác nhau, chính phủ: Trung Quốc đã đưa ra những chính
sách khác nhau cho phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo quyền lợi cho mọi công
dân theo hiến pháp và Luật lao động, đồng thời sử dụng có hiệu quả nguồn nhân
lực của đất nước. Hiện nay, sau nhiều năm củng cố và thử nghiệm, Trung Quốc đã
có một cách tổ chức lao động phù hợp với nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.
Về cơ bản những chính sách này khá thành công và có thể được coi là bài học kinh
nghiệm quý báu cho các nước đang phát triển khác.
định các mục tiêu rất cụ thể; thị trường lao động Trung Quốc phải phát triển một
cách thống nhất, theo hướng mở cửa, cạnh tranh và quy phạm hoá. Trong đó, các
biện pháp được chú trọng nhất hiện nay là;
- Hoàn thiện thể chế thị trường lao động, để người lao động được thực sự tự
do đi tìm việc làm, tạo điều kiện thuận lợi để hàng hoá sức lao động có thể lưu
thông dễ dàng trên thị trường, khơi thông các rào làm phân mảng thị trường giữa
17
Đề tài nghiên cứu khoa học
nông thôn và thành thị, giữa các vùng, tạo điều kiện để lao động nông thôn có cơ
hội tốt hơn tham gia vào các ngành nghề phi nông nghiệp.
- Hoàn thiện các chức năng của thị trường lao động bằng cách rút bớt cách
chức năng không cần thiết, giảm bớt sự can thiệp của bộ hoặc cơ quan nhà nước
vào hoạt động của thị trường lao động.
- Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho thị trường lao động.Trước hết là xây
dựng các trung tâm, các cơ sở giao dịch lao động, cung cấp cá trang thiết bị, điều
kiện làm việc cần thiết cho các cơ sở này; cải tạo cơ sở dịch vụ giới thiệu việc
làm.
- Nâng cao trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ, nhân viên làm việc tại các
thị trường lao động: cụ thể là có các biện pháp để thu hút những người có trình độ
chuyên môn và phẩm chất phù hợp với loại hình công việc này; đào tạo nhân viên
mới, có tính chuyên nghiệp về quản lý và vận hành thị trường lao động.
c. Cải tiến công tác quản lý của nhà nước của Chính phủ đối với thị trường
lao động. Chính phủ quản lý thị trường một cách thống nhất, có bài bản, tuân thủ
đúng pháp luật. Chuyển công nhân "dôi dư" thành dạng công nhân "thất nghiệp" để
tách họ ra khỏi sự "bảo trợ" của doanh nghiệp, thực thi chế độ hợp đồng lao động
toàn diện, bắt buộc số lao động dôi dư phải có sự nỗ lực để tìm kiếm việc làm mới.
d. Xác định chính sách thu hút nhân tài một cách hợp lý. Hiện nay, Trung
Quốc có chính sách ưu tiên hộ khẩu cho các nhân tài để thu hót lao động có chình
độ cao. Các nhân tài ở Trung Quốc còn được ưu đãi đặc biệt về trả công lao động;
lương của người lao động có trình độ cao hơn nhiều so với lương của lao động
chóng ta một số kinh nghiệm sau:
19
Đề tài nghiên cứu khoa học
- Phải có sự thống nhất nhận thức về việc làm, tầm quan trọng của việc làm
trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, có công ăn việc làm là cái gốc của dân
sinh.
- Xác định rõ nhiệm vụ của Đảng và chính quyền các cấp là phải lấy việc cải
thiện và tạo ra công ăn việc làm là nhiệm vụ trọng tâm.
- Đa dạng hoá các hình thức giải quyết việc làm: phát triển kinh tế, phát
triển việc dạy nghề, nâng cao chất lượng nghề nghiệp, phát triển hệ thống dịch vụ
và chất lưọng tìm việc làm của người lao động.
-Bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người lao động.
-Nâng cao thu nhập của dân cư thành thị và nông thôn.
-Phát triển hệ thống an sinh xã hội nh chính sách bảo hiểm, bảo trợ xã hội
thiết lập hệ thống dịch vụ y tế và hệ thống bảo vệ sức khoẻ của cư dân, bảo vệ môi
trường sinh thái ở khu dân cư.
- Một mục tiêu quan trọng của công tác giải quyết việc làm là: "nhanh chóng
làm cho những người chưa thoát nghèo, giải quyết vấn đề no Êm, đồng thời từng
bước đi lên cuộc sống khá giả".
Mỗi một quốc gia có điều kiện kinh tế văn hoá, xã hội, những tiềm năng giải
quyết việc làm khác nhau, song trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc
tế chúng ta cần tham khảo và vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm của các quốc
gia, dân tộc, nhất là các quốc gia gần gũi với chúng ta về lịch sử truyền thống văn
hoá để giải quyết những vấn đề lao động và việc làm ở Việt nam.
20
Đề tài nghiên cứu khoa học
Phần II
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY
1. Sự chuyển dịch lao động nông thôn.
trong cả nước. Trong khi đó Tây bắc và Tây nguyên hai vùng có tỷ trọng lao động
thấp nhất so với các vùng trên nhưng lại có ưu thế về quy mô đất đai và các điều
kiện tự nhiên khác nhưng lại thiếu lao động đặc biệt là lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao. Do đó để tránh tình trạng lãng phí trong việc sử dụng lao động
thì cần phải có sự bố trí sắp xếp lại lao động giữa các vùng trong cả nước. Vùng
Đồng bằng Sông Hồng và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long là hai vùng có số
lượng lao động đông đảo nhất, hai vùng này đã tạo ra hơn 2,5 triệu việc làm mỗi
năm. Các vùng khác như Đông Bắc và Tây nguyên chỉ chiếm dưới 5% tổng số việc
làm cả nước. Tuy nhiên ở các vùng phía bắc, tỷ lệ việc làm có phần cao hơn tỷ lệ
dân số. Ngoại trừ đồng bằng Sông Cửu Long, các vùng khu vực miền trung và phía
nam có tỷ lệ việc làm thấp hơn một chút so với tỷ lệ dân số.
b. Sự chuyển dịch lao động theo ngành.
Cơ cấu lao động chuyển dịch còn chậm, lao động vẫn tập trung chủ yếu
trong nông nghiệp: lực lượng lao động làm trong các ngành nông nghiệp vẫn
chiếm khoảng 59,04% tổng lực lượng lao động cả nước, giảm 10,63% so với năm
2002.
Đông Nam Bộ là vùng có sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng
CNH_HĐH nhất cả nước, tỷ lệ lao động hợp lý nhất cả nước: 29,23%- 29,99-
40,78 tiếp đó là đồng bằng Sông Hồng…vv
22
Đề tài nghiên cứu khoa học
TỶ LỆ % LAO ĐỘNG LÀM VIỆC TRONG CÁC NHÓM NGÀNH KINH TẾ
Vùng địa lý kinh tế Nông-lâm-ngư
nghiệp
CN &XD DV
Đ.B Sông hồng 56.13 20,27 23,60
Đông bắc 76,28 8,83 14,89
Tây bắc 86,81 3,53 9,66
Bắc Trung bé 68,12 13,59 18,29
D hải Nam Trung bé 54,74 18,49 26,77
nghiệp
PT cơ sở
Đã tốt nghiệp
PT trung học
ĐB Sông Hồng 746474
9
59964 516398 1671468 3976089 1240830
Đông bắc 398489
1
357729 594746 1295269 1325865 411282
Tây bắc 106392
2
219141 252153 341757 151510 99361
Bắc trung bé 4294568 148228 444781 1144683 1944342 612534
Duyên hải miền
trung
2502660 89250 530953 1089694 589655 203108
Tây nguyên 158671
9
203085 334164 558219 324607 166644
Đông nam bé 297886
3
100584 684624 1305317 542897 345441
Đồngbằng sông
Cửu long
713632
7
250754 2271278 3172114 855315 586866
Nguồn: Niên giám thống kê lao động thương binh và xã hội 2002 - Nxb Lao Động
xã hội 2003, tr 23 -26.
lực như vậy cũng khó trụ vững được trong những dây chuyền sản xuất đòi hỏi
cường độ làm việc cao.
25