Website: Email : Tel : 0918.775.368
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giải quyết việc làm là vấn đề xã hội mang tính toàn cầu và cấp bách không
chỉ ở nước ta mà ở cả nhiều nước trên thế giới và khu vực. Đối với nước ta mặc dù
nông thôn chiếm hơn 70% dân số và 75% tổng lực lượng lao động cả nước nhưng
chủ yếu tập trung sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, năng suất lao động thấp,
phương thức sản xuất lạc hậu, hiệu quả sản xuất không cao. Hiện nay 90% số
người nghèo của cả nước vẫn đang sống ở nông thôn, tỷ lệ thời gian nhàn rỗi ở
nông thôn chiếm 28,9%, thất nghiệp thành thị 6,9%. Như vậy thất nghiệp, thiếu
việc làm cho người lao động đang diễn ra khá phức tạp kìm hãm quá trình vận
động và phát triển kinh tế đất nước. Không những thế thất nghiệp, thiếu việc làm
còn là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đói nghèo, một trong những nhân tố gây ra
mất ổn định kinh tế chính trị, xã hội của đất nước. Tạo việc làm cho người lao
động là vấn đề nóng bỏng, cấp thiết cho từng ngành, từng địa phương và ngay cả
trong mỗi gia đình. Việc làm phù hợp và có hiệu quả góp phần quan trọng trong
việc thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn thời
gian qua, một số nơi đã làm tốt giải quyết việc làm, tạo điều kiện cho lao động
nông thôn có điều kiện và cơ hội tìm được việc làm. Tuy nhiên quá trình giải quyết
việc làm cho lao động nông thôn đang còn nhiều vấn đề cần phải được nghiên cứu,
bổ sung, sửa đổi nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý, sử dụng lao động và khả năng
tạo nhiều việc làm cho lao động nông thôn thời gian tới.
Hà Tĩnh là một tỉnh ở vùng Bắc Trung Bộ với quy mô dân số xấp xỉ 1,2 triệu
người, tốc độ phát triển dân số bình quân 1,18 % năm, nguồn lao động bổ sung vào
lực lượng lao động hàng năm trên 3 vạn người.
Trong nhiều năm qua, vận dụng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước, Hà Tĩnh đã có nhiều chính sách giải quyết việc làm cho người lao
động. Song thực tiễn đặt ra còn nhiều khó khăn, đó là tình trạng người chưa có việc
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hà Nội
Bộ Lao động - Thương binh và xã hội (2001): Thực trạng lao động – việc
làm ở Việt Nam, Hà Nội.
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Viện Khoa học lao động và xã hội
(2009): Lao động việc làm trong thời kỳ hội nhập. NXB Lao động – Xã hội.
Bộ Lao động - Thương binh và xã hội là cơ quan quản lý nhà nước về lao
động việc làm. Việc nghiên cứu về lĩnh vực lao động - việc làm thường được tập
trung vào điều tra, khảo sát phản ánh trung thực về thực trạng lao động - việc làm
của đất nước. Từ đó đưa ra các mô hình giải quyết việc làm có hiệu quả.
Các viện nghiên cứu, các trường đại học cũng như các cá nhân cũng đã có
nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này. Về cơ bản các công trình nghiên cứu
đi từ tổng kết thực tiễn để đưa ra các giải pháp trong việc giải quyết việc làm.
Trần Đình Hoan, Lê Mạnh Khoa (1991): Sử dụng nguồn lao động và giải
quyết việc làm ở nông thôn Việt Nam, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội.
Lê Văn Lương (1995): Giải quyết việc làm cho người Hà Tĩnh, Hà Tĩnh.
Lê Văn Lương, Thái Ngọc Tịnh (1995): Giải quyết việc làm cho người lao
động Hà Tĩnh trong thời gian tới, Chương trình nghiên cứu khoa học đề tài cấp
tỉnh.
Thái Ngọc Tịnh (1997): Lao động việc làm ở Hà Tĩnh, Tạp chí lao động xã
hội số 128.
Chu Tiến Quang (2001): Việc làm ở nông thôn, thực trạng và giải pháp. Nhà
xuất bản Nông nghiệp.
Đào Quang Vinh (2005): Kết quả giải quyết việc làm giai đoạn 2001-2004 và
phương hướng giải quyết việc làm giai đoạn 2006-2010. Tạp chí quản lý kinh tế
-CIEM.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Viện khoa học lao động và xã hội (2006): Dự báo xu hướng việc làm tại Việt
Nam giai đoạn 2005-2015, Báo cáo của Dự án SIDA-CIEM, Hà Nội.
Chương trình giải quyết việc làm (2005-2009), Hà Tĩnh
lực của cá nhân tác giả chọn Huyện Thạc Hà làm địa điểm nghiên cứu.
Thạch Hà là một huyện thuộc vùng ven biển của Hà Tĩnh, cách trung tâm
tỉnh lỵ 5km. Đây là một huyện vừa có biển, đồng bằng và miền núi, hoạt động sản
xuất bao gồm: đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, trồng trọt, làm muối. Hộ thuần
nông của toàn huyện chiếm 60%, hộ chuyên ngành dịch vụ chiếm hơn 10%, hộ
nông kiêm ngành dịch vụ chiếm 20%, hộ chuyên ngư chiếm 5%, hộ diêm nghiệp
chiếm 5%.
Căn cứ vào đặc điểm kinh tế của sự phân vùng địa lý và sinh thái, tác giả
chọn 6 xã đại diện cho 3 vùng nghiên cứu giải quyết việc làm ở nông thôn Hà Tĩnh
bao gồm: đại diện cho vùng ven biển: xã Thạch Hải, xã Thạch Văn; đại diện cho
vùng đồng bằng: Thạch Việt, Thạch Kênh ; đại diện cho vùng núi: xã Thạch Vĩnh,
Thạch Ngọc.
6. Câu hỏi nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu được trình bày dưới dạng câu hỏi:
Thực trạng lao động việc làm ở nông thôn Hà Tĩnh hiện nay như thế nào?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay ở nông thôn Hà Tĩnh còn hơn 70.000 lao động thiếu việc làm. Lao
động thiếu việc làm và có thời gian nhàn rỗi cao chủ yếu tập trung ở miền núi và
vùng ven biển. Chất lượng nguồn lao động nông thôn chủ yếu là chưa qua đào tạo
lao động chân tay là chính…Thời gian qua tỉnh Hà Tĩnh đã thực hiện nhiều giải
pháp giải quyết việc làm như: phát triển kinh tế xã hội, tạo nguồn và nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn, đào tạo nghề cho người, xuất khẩu lao động…Tuy nhiên giải
quyết việc làm ở nông thôn Hà Tĩnh còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế chưa đáp
ứng được nhu cầu của người dân.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
8. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp sau:
- Nghiên cứu tài liệu: Sinh viên tiến hành thu thập thông tin, tài liệu, số liệu liên
quan đến đề tài. Những số liệu được thu thập từ các nguồn khác nhau như: Cục
2.2. Thực trạng lao động, việc làm ở nông thôn Hà Tĩnh.
2.2.1. Hiện trạng lao động, việc làm nói chung
2.2.2. Tình hình thiếu việc làm hiện nay ở Hà Tĩnh
2.3. Những giải pháp chủ yếu giải quyết việc làm cho lao động nông
thôn ở Hà Tĩnh trong thời gian tới
2.3.1. Các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế
2.3.2. Giảm sức ép về nhu cầu giải quyết việc làm ở Hà Tĩnh
2.3.3. Nâng cao trình độ nguồn nhân lực
2.3.4. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động
2.3.5. Tăng cường sự quản lý nhà nước về lao động, củng cố và phát triển
hệ thống sự nghiệp giải quyết việc làm.
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC
LÀM
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan trực tiếp đến giải quyết việc làm
Việc làm và giải quyết việc làm luôn luôn là mối quan tâm của toàn xã hội,
đặc biệt là đối với người lao động nói chung và đối với người lao động nông thôn
nói riêng. Để có những chính sách, biện pháp phù hợp trong giải quyết việc làm
cho người lao động chúng ta cần làm rõ được một số khái niệm liên quan đến đề
tài:
1.1.1. Khái niệm liên quan đến lao động và người lao động
- Lao động:
Trong lời nói đầu của Luật lao động đã ghi rõ: “ Lao động là hoạt động quan
trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội.
Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát
triển của đất nước”. [5,1]
Với ý nghĩa này, chúng ta có thể hiểu hoạt động của con người ở đây như là
những công nhân đang làm việc ở nhà máy, công trường; những người nông dân
sau: lao động nông thôn là những người trong độ tuổi lao động do luật quy định
nhưng sống và làm việc trong khu vực nông thôn trong đó chủ yếu là những nông
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dân chuyên sản xuất nông nghiệp, những người làm nghề thủ công, buôn bán nhỏ,
các hoạt động dịch vụ ở nông thôn…
- Thị trường lao động
Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường định
hướng chủ nghĩa xã hội thì thuật ngữ “Thị trường lao động” đã được nhiều nhà
nghiên cứu đề cập đến với nhiều khái niệm khác nhau.
Giáo trình giảng dạy của khoa Kinh tế lao động trường Đại học kinh tế quốc
dân Hà Nội đưa ra khái niệm về thị trường lao động như sau:
- Là không gian trao đổi tiến tới thỏa thuận giữa người sở hữu sức lao động và
người cần có sức lao động để sử dụng.
- Là mối quan hệ xã hội giữa người lao động có thể tìm việc làm để có thu nhập và
người sử dụng lao động để có thể thuê được công nhân bằng cách trả công để tiến
hành sản xuất kinh doanh.
- Là toàn bộ quan hệ kinh tế hình thành trong lĩnh vực thuê mướn lao động.
Theo ILO: “thị trường lao động là thị trường trong đó các dịch vụ lao động
được mua và bán thông qua một quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao
động cũng như mức độ tiền công tiền lương”.[13,22]
Các nhà khoa học Mỹ cho rằng: “Thị trường mà đảm bảo việc làm cho người
lao động và kết hợp giải quyết trong lĩnh vực việc làm, thì được gọi là thị trường
lao động”. [13,22]
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu đều
thống nhất với nhau về những nội dung cơ bản để hình thành nên thị trường lao
động đó là không gian, người cần bán sức lao động, người cần mua sức lao động,
giá cả sức lao động và những ràng buộc giữa các bên về nội dung này.
Thị trường sức lao động ở nông thôn thực tế đã có từ lâu nhưng kém phát
triển. Hình thức trao đổi sức lao động diễn ra tự phát theo quan hệ truyền thống
luật ngăn cấm, có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thêm thu nhập cho người thân,
gia đình hoặc cộng đồng”. [12,11]
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Liên quan chặt chẽ với khái niệm việc làm, hai tác giả Nguyễn Hữu Dũng và
Trần Hữu Trung trong cuốn sách “ Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam”
đã đưa ra khái niệm về người có việc làm như sau: “Người có việc làm là người
đang làm việc trong những lĩnh vực ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị
pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình”. [8,9]
Tác giả TS Chu Tiến Quang và cộng sự trong cuốn “Việc làm ở nông thôn”
đã đưa ra khái niệm như sau: “ Việc làm có thể được hiểu ở hai trạng thái “tĩnh”
và “động”. Ở trạng thái “tĩnh” việc làm chỉ nhu cầu sử dụng sức lao động và các
yếu tố vật chất kỹ thuật khác nhằm mục đích tạo ra thu nhập hoặc kết quả có ích
cho cá nhân, cộng đồng… Ở nghĩa “động” thì việc làm là hoạt động của dân cư
nhằm tạo ra thu nhập có lợi cho cá nhân hoặc cộng đồng trong khuôn khổ pháp luật
cho phép”. [18,10]
Như vậy từ các khái niệm trên việc làm có thể được hiểu như sau: Việc làm
là hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, tạo thu nhập hoặc lợi ích cho
bản thân, gia đình người lao động hoặc cho một cộng đồng nào đó.
Với cách hiểu trên, nội dung của khái niệm việc làm được mở rộng và tạo ra
khả năng to lớn giải phóng sức lao động, giải quyết việc làm cho nhiều người lao
động được tự do hành nghề, tự do liên doanh, liên kết để tạo việc làm và tự do thuê
mướn lao động theo luật pháp của nhà nước để tạo việc làm cho mình và thu hút
thêm lao động xã hội theo quan hệ cung cầu về lao động trên thị trường.
- Việc làm tự tạo:
Đây là khái niệm mới được đưa ra từ TS Lê Xuân Bá và các cộng sự trong
đề tài “ Các yếu tố tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn
Việt Nam” (Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài khoa học do Viện nghiên cứu quản
lý kinh tế trung ương thực hiện 2006)
Theo nhóm tác giả này thì các hoạt động được xem là việc làm tự tạo “liên
càng cao.
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Như vậy, giải quyết việc làm phù hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với
người lao động ở chỗ tạo ra việc làm cho người lao động để họ có thể nuôi sống
bản thân, gia đình và góp phần xây dựng quê hương đất nước.
1.1.3. Khái niệm thất nghiệp và thiếu việc làm
Để giải quyết việc làm những khái niệm quan trọng cần phải làm rõ đó là
khái niệm thất nghiệp và thiếu việc làm.
a. Thất nghiệp
Theo định nghĩa của Aigred Sanvy: “Người thất nghiệp là người khỏe mạnh,
muốn lao động để kiếm sống nhưng không tìm được việc làm”.
Theo quan điểm khác: một người được coi là thất nghiệp, nếu người đó
không có việc làm và đang cố gắng đi tìm việc làm nhưng không tìm được trên thị
trường.
Cũng có quan điểm cho rằng: thất nghiệp là hiện tượng gồm người mất thu
nhập, do không có khả năng tìm được việc làm trong khi họ còn trong độ tuổi lao
động có khả năng lao động muốn làm việc và đã đăng ký ở cơ quan môi giới về lao
động nhưng chưa được giải quyết.
Như vậy những người thất nghiệp tất yếu họ phải thuộc lực lượng lao động
hay dân số hoạt động kinh tế.
Người được coi là thất nghiệp phái có 3 tiêu chuẩn:
+ Đang mong muốn và tìm việc làm
+ Có khả năng làm việc
+ Hiện đang chưa có việc làm
Với cách hiểu như thế, không phải bất kỳ ai có sức lao động nhưng chưa làm
việc đều được coi là thất nghiệp. Do đó một tiêu chuẩn quan trọng để xem xét một
người được coi là thất nghiệp thì phải biết được người đó có muốn đi làm việc hay
không. Bởi lẽ trên thực tế nhiều người có sức khỏe, có nghề nghiệp song không có
nhu cầu làm việc, họ sống chủ yếu nhờ sự trợ cấp của gia đình, hay các nguồn tài
động thời vụ”. Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp theo mùa vụ nên người lao
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
động có lúc rất bận rộn, họ phải lao động với cường độ lao động và thời gian lao
động cao. Vấn đề đáng quan tâm ở đây là mặc dù làm việc vất vả nhưng do nhiều
yếu tố khách quan và chủ quan nên năng suất lao động thấp, thu nhập không cao
không đảm bảo được đời sống của họ.
b. Thiếu việc làm
Theo ILO thì người thiếu việc làm là người trong tuần lễ tham khảo có số
giờ làm việc dưới mức quy định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu làm
thêm.
Theo ILO khái niệm thiếu việc làm được biểu hiện dưới dạng vô hình và
hữu hình.
Thiếu việc làm vô hình: là những người có đủ việc làm, làm đủ thời gian
thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thường nhưng thu nhập thấp.
Thiếu việc làm hữu hình: là khái niệm để chỉ hiện tượng người lao động làm
việc có thời gian ít hơn thường lệ, họ không đủ việc làm đang tìm kiếm việc làm và
sẵn sàng làm việc.
Ở Việt Nam theo hướng dẫn điều tra lao động của Bộ Lao động thương binh
và xã hội thì “người đủ việc làm bao gồm những người có số giờ làm việc trong
tuần lễ tính đến thời điểm điều tra lớn hơn hoặc bằng 40 giờ, hoặc những người có
số giờ làm việc nhỏ hơn 40 nhưng không có nhu cầu làm thêm hoặc những người có
số giờ làm việc nhỏ hơn 40 nhưng lớn hơn giờ quy định đối với người làm các công
việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành”.
Người thiếu việc làm bao gồm “những người trong tuần lễ tính đến thời điểm
điều tra có tổng số giờ làm việc nhỏ hơn 40 giờ, hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn
giờ quy định đối với những người làm các công việc nặng nhọc, độc hại theo quy
định của nhà nước, có nhu cầu làm thêm giờ, sẵn sàng làm việc nhưng không có
việc làm”.[2,17]
16
Ở nông thôn, người lao động chủ yếu sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp
tuy nhiên sản xuất nông nghiệp luôn chịu tác động và bị chi phối mạnh mẽ của các
quy luật sinh học và các điều kiện tự nhiên cụ thể của từng vùng như: đất đai, khí
hậu, thời tiết…Ngoài ra còn phụ thuộc vào các yếu tố cơ sở hạ tầng như: giao
thông, thủy lợi, và các hoạt động dịch vụ sản xuất như cung ứng giống, phân bón,
phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch chế biến và tiêu thụ sản phẩm…Quá trình sản xuất
mang tính thời vụ rất cao, thu hút lao động không đồng đều, trong ngành trồng trọt
việc làm chỉ tập trung chủ yếu vào thời điểm gieo trồng và thu hoạch, thời gian còn
lại là rỗi rãi, không có việc làm, đó là lao động nông nhàn ở nông thôn.
Trong thời kỳ nông nhàn, một bộ phận lao động nông thôn thường chuyển
sang làm các công việc phi nông nghiệp hoặc đi sang các địa phương khác hành
nghề để tăng thu nhập. Phần lớn là di chuyển lao động từ nông thôn lên thành thị
để làm các công việc chân tay. Điều đó xuất phát từ tình trạng thời gian nông nhàn
cùng với thu nhập thấp trong sản xuất nông nghiệp.
Ở nông thôn các hoạt động sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp (công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ) thường bắt nguồn từ lao động của kinh tế hộ
gia đình. Các thành viên trong gia đình có thể chuyển đổi, thay thế để thực hiện
công việc của nhau. Vì thế, việc chú trọng thúc đẩy phát triển các hoạt động khác
nhau của kinh tế hộ gia đình là một trong những biện pháp tạo việc làm có hiệu
quả.
Khả năng thu hút lao động trong các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi với các
cây trồng vật nuôi khác nhau là khác nhau, đồng thời thu nhập cũng rất khác nhau,
vì vậy việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng thu dụng được nhiều
lao động cũng là biện pháp tạo thêm việc làm ngay trong sản xuất nông nghiệp.
Hoạt động dịch vụ ở nông thôn bao gồm những hoạt động cung ứng đầu vào
cho sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp và các mặt hàng nhu yếu phẩm cho đời sống
dân cư nông thôn và tạo ra thu nhập cao cho người lao động.
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nhìn chung việc làm ở nông thôn thường là những công việc giản đơn, thủ
dạng, phong phú, có thể phân loại như sau:
Nhóm chính sách chung có quan hệ và tác động đến việc mở rộng và phát
triển việc làm cho lao động nông thôn như: chính sách tín dụng ưu đãi, chính sách
đất đai, chính sách thuế.
Nhóm chính sách khuyến khích phát triển những lĩnh vực, hình thức và vùng
có khả năng thu hút được nhiều lao động trong cơ chế thị trường (chính sách phát
triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách phát triển khu vực phi kết cấu, chính
sách di dân và phát triển vùng kinh tế mới, chính sách đưa lao động đi làm việc có
thời hạn ở nước ngoài, chính sách di chuyển lao động, chính sách khôi phục và
phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống.
Ngoài ra còn có các chính sách việc làm cho các đối tượng là người có công
và chính sách xã hội (thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người tàn tật…)
Chính sách việc làm thuộc hệ thống chính sách xã hội, song phương thức và
biện pháp giải quyết việc làm mang nội dung kinh tế, đồng thời liên quan đến
những vấn đề thuộc tổ chức sản xuất kinh doanh như: tạo môi trường pháp lý, vốn,
lựa chọn và chuyển giao công nghệ, cơ sở hạ tầng, thị trường tiêu thụ. Vì thế bất cứ
chính sách kinh tế - xã hội nào của Nhà nước cũng ảnh hưởng và tác động đến vấn
đề giải quyết việc làm cho lao động nông thôn.
Ở Việt Nam nhiệm vụ của chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm là
phải góp phần hoàn thiện một hệ thống chính sách, đưa ra được các biện pháp hữu
hiệu, tiến hành các hoạt động đồng bộ, kết hợp lồng ghép với các chương trình
khác, cùng với hoạt động của các ngành, các cấp trong quá trình thực hiện chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Chính sự tác động mạnh mẽ của một
chương trình quốc gia liên quan trực tiếp đến vấn đề giải quyết việc làm sẽ mang
lại hiệu quả kinh tế cao trong quá trình phát triển kinh tế xã hội.
1.3.2. Nhân tố liên quan đến giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ
+ Về giáo dục đào tạo
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tiềm năng kinh tế của một đất nước phụ thuộc vào trình độ khoa học, công
kinh doanh. Vì thế, bên cạnh công việc đào tạo nâng cao trình độ lành nghề cho
người lao động, vấn đề lựa chọn áp dụng mức độ công nghệ nào trong dây chuyền
sản xuất kinh doanh, phải tính toán rất kỹ, bởi lẽ khoa học công nghệ có tác động
mạnh mẽ đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động.
1.3.3. Nhân tố về dân số
Dân số, lao động, việc làm và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến sự
phát triển kinh tế xã hội của một đất nước. Tăng trưởng dân số với tốc độ và quy
mô hợp lý là nguồn cung cấp nhân lực vô giá. Tuy nhiên nhiều quốc gia đã gặp
phải nhiều tình huống ngược lại. Tăng trưởng dân số không phải là yếu tố tích cực
mà lại là gánh nặng cho nền kinh tế. Đó chính là giai đoạn mà phát triển dân số quá
nhanh, quy mô phát triển vượt quá khả năng đáp ứng và yêu cầu của xã hội.
Tỷ lệ sinh, tỷ lệ chết, cơ cấu giới, tuổi của dân số đều ảnh hưởng đến quy mô
của lực lượng lao động. Nếu tỷ lệ sinh cao dẫn đến gia tăng nhanh chóng số lượng
người trong độ tuổi lao động tương lai. Mục tiêu của hầu hết các quốc gia là giảm
tỷ lệ chết, gia tăng tuổi thọ. Điều này cũng làm cho số người trong độ tuổi lao động
tăng lên, sức khỏe được cải thiện nên số người có khả năng cung cấp sức lao động
tăng.
Ngoài ra vấn đề di dân và các dòng di dân, đặc biệt là di dân từ nông thôn ra
đô thị gây ra các áp lực kinh tế - xã hội và chính trị còn nguy hiểm hơn so với tỷ lệ
gia tăng dân số nhanh chóng. Quá trình đô thị hóa gây ra hậu quả trực tiếp đến vấn
đề việc làm, để có thể thu hút hết số lao động này cần nhanh chóng tạo ra một số
lượng lớn chỗ làm việc. Một vấn đề khác là chất lượng của số lao động này về học
vấn, đào tạo, trình độ nghề nghiệp không đáp ứng được với yêu cầu công việc
trong khu vực đô thị.
Trong nhiều kế hoạch phát triển, việc khống chế mức gia tăng dân số được
gắn với vấn đề giảm áp lực đối với Việt Nam. Ở Việt Nam dân số và việc làm đã
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
được Đảng và Nhà nước thể hiện trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 –
2010 như sau:
là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nước trên thế giới. Giải quyết
việc làm của cả nước nói chung và ở nông thôn nói riêng chịu ảnh hưởng của rất
nhiều nhân tố. Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến kết quả tạo
việc làm mới cho lực lượng lao động. Chính vì vậy để giải quyết việc làm ở nông
thôn được thực hiện tốt thì cần quan tâm nghiên cứu các yếu tố trên để tìm ra
những giải pháp tốt nhất.
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN HÀ TĨNH.
2.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Hà Tĩnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam, nằm trên tọa độ 17°54' đến
18°45' vĩ độ Bắc, 105°05' đến 106°30' kinh độ Đông. Diện tích tự nhiên 6.025 km²,
chiếm 1,8% diện tích cả nước, dân số hơn 1,2 triệu người.
Hà Tĩnh nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn. Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, có
ranh giới bởi dòng sông Lam và dãy núi Thiên Nhẫn. Phía Nam giáp tỉnh Quảng
Bình, có ranh giới bởi dãy núi Hoành Sơn. Phía Đông giáp biển đông, có chiều dài
bở biển 137 km. Phía Tây giáp tỉnh Bôlikhămxay và tỉnh KhămMuộn của nước
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào có chiều dài đường biên giới 145 km, ranh giới
bởi đỉnh của dãy núi Trường Sơn.
Hà Tĩnh có vị trí quan trọng trong tiến trình hội nhập quốc tế khu vực và thế
giới; có các trục giao thông: Bắc - Nam (quốc lộ 1, đường Hồ Chí Minh, đường
sắt), và Đông - Tây (quốc lộ 8A với cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, đường 12 qua cửa
khẩu Cha Lo - Quảng Bình), nối với liên hợp cụm cảng biển nước sâu Vũng Áng.
b. Địa hình
Hà Tĩnh nằm trên một dải đất hẹp và dốc nghiêng từ Tây sang Đông với
chiều dài 122 km, chiều rộng trung bình 60 km với đầy đủ các dạng địa hình: rừng
núi, gò đồng, đồng bằng, trung du và biển… Phía Tây là núi cao (độ cao trung bình