Nghiên cứu sự tham gia của người dân trong các hoạt động của dự án nước sạch và vệ sinh môi trường tại huyện Cao Phong - tỉnh Hòa Bình - Pdf 26

Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Duy Hưng – PTNT52
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu trong bài báo cáo này hoàn toàn trung
thực và kết quả nghiên cứu chưa từng được sử dụng.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho quá trình thực hiện báo cáo đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong báo cáo này được ghi rõ nguồn
gốc.
Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2009
Sinh viên
Nguyễn Duy Hưng
Khoa Kinh tế & PTNT Trường ĐHNN Hà Nội
i
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Duy Hưng – PTNT52
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành Khóa luận này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp
đỡ nhiệt tình về nhiều mặt của các tổ chức và cá nhân.
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu trường
Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, khoa Kinh tế và PTNT, bộ môn KTNN & Chính
sách và các thầy cô giỏo đó tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn
thành Khóa luận.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy KS. Nguyễn Thị Thiêm,
người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thành Khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Cao Phong, phòng Thống kê,
phòng Lao động thương binh và Xã hội, phòng Nông nghiệp huyện Cao Phong,
UBND xã Bắc Phong, UBND xó Tõy Phong, UBND xã Xuân Phong đã giúp đỡ và
tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu tại cơ sở, bà con trong ba xã Bắc
Phong, Tây Phong, Xuân Phong đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin để
nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đã chia sẻ, giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn khóa luận tốt nghiệp của mình.

- Lý luọ̃n về dự án, dự án phát triển nông thôn
+ Khái niệm về dự án, dự án phát triển nông thôn
+ Chu trình dự án phát triển nông thôn
- Lý luọ̃n về sự tham gia của người dân trong dự án phát triển nông thôn
+ Khái niệm về sự tham gia của người dân trong dự án
• Sự tham gia
• Người dân
Khoa Kinh tế & PTNT Trường ĐHNN Hà Nội
iii
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Duy Hưng – PTNT52
• Sự tham gia của người dân trong dự án
+ Sự tham gia của người dân trong dự án phát triển nông thôn hiện nay
+ Sự tham gia của người dân trong thực hiện hoạt động dự án PTNT
Với cơ sở thực tiễn chúng tôi đưa ra những kinh nghiệm thực tế để thấy được
sự tham gia thực tế hiện nay ở Việt Nam và ở một số nước bạn từ đó có liện hệ với đề
tài:
- Sự quan tâm của chính phủ Việt Nam đối với vấn đề nước sạch và VSMT
nông thôn
- Hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong đầu tư, triển khai các chương trình, dự
án nước sạch và VSMT tại Việt Nam
- Kinh nghiệm thu hút sự tham gia của người dân trong các dự án Phát triển
nông thôn
+ Kinh nghiệm thu hỳt/tăng cường sự tham gia của người dân trong các dự
án nước sạch và VSMT của các tổ chức và quốc gia trên thế giới
+ Kinh nghiệm thu hút sự tham gia của người dân trong thực hiện các dự án
phát triển nông thôn ở Việt Nam
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trờn, tụi tiến hành nghiên
cứu các công trình nghiên cứu có liên quan. Đó là đề tài tốt nghiệp, trường Đại học
Nông nghiệp Hà Nội của tác giả Lê Văn Hùng (2008)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý dự án “X

Khoa Kinh tế & PTNT Trường ĐHNN Hà Nội
v
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Duy Hưng – PTNT52
MỤC LỤC
Nguyễn Duy Hưng i
LỜI CẢM ƠN ii
Tổ chức ChildFund đã phối hợp UBND huyện Cao Phong thực hiện rất nhiều dự án phát
triển nông thôn nhằm cải thiện đời sống cho người dân địa phương, trong đó có dự án nước
sạch và VSMT nông thôn. Từ khi triển khai dự án đến nay có 6 xã được hưởng lợi, trong
đó có 3 xã là Thu Phong, Tân Phong, Nam Phong được triển khai từ năm 2003 và 3 xã bắt
đầu được hưởng dự án từ năm 2008 đó là Xuân Phong, Bắc Phong, Tây Phong 13
Bảng 3.1: Tình hình đất đai của huyện Cao Phong qua 3 năm 2008-2010 24
Như vậy, tổng dân số của huyện hiện nay là 41.418 người trong đó có 24.281 lao động,
chiếm 58,62% trong tổng số dân. Tỷ lệ lao động trong nông nghiệp là rất cao. Năm 2008,
tỷ lệ lao động trong nông nghiệp trong tổng số lao động là 93,25% tỷ lệ này năm 2009
giảm xuống còn 91,20% và đến 2010 là 90,82%. Lao động của huyện chủ yếu là lao động
nông nghiệp với thu nhập bình quân đầu người mới chỉ đạt 8.200.000đ/người/năm, tỷ lệ hộ
nghốo cũn vào khoảng 14%. Địa phương cần có sự quan tâm chỉ đạo tích cực để phát triển
nông nghiệp và có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong những năm tới, nâng cao đời sống
người dân 26
3.1.2.3 Cơ sở hạ tầng 26
3.1.2.4 Kết quả sản xuất kinh doanh 27
3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 33
* Xử lý thông tin thứ cấp 33
3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 33
Danh mục sơ đồ
Nguyễn Duy Hưng i
Khoa Kinh tế & PTNT Trường ĐHNN Hà Nội
vi
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Duy Hưng – PTNT52

DT Diện tích
HT Hội thi
HTG Hố thu gom
KHHĐ Kế hoạch hoạt động
KTXD Kỹ thuật xây dựng
LĐ Lao động
NN Nông nghiệp
NVS Nhà vệ sinh
PTNT Phát triển nông thôn
SL Số lượng
TG Tham gia
TH Tập huấn
TT Truyền thông
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
TTV Tuyên truyền viên
UBND Ủy ban nhân dân
VSMT Vệ sinh môi trường
XD Xây dựng
Khoa Kinh tế & PTNT Trường ĐHNN Hà Nội
viii
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Duy Hưng – PTNT52
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam là một nước có tới hơn 70% dân số hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp truyền thống và sống ở vùng nông thôn. Nhưng cùng với xu thế phát triển
trên thế giới thì dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ giảm đi, thay vào
đó là dân số hoạt động trong các ngành CN – TM – DV sẽ ngày càng tăng lên. Sự
thay đổi đó là một tất yếu của xã hội.
Khi trở thành một đất nước có tỷ trọng các ngành CN – TM – DV cao, thì tỷ
trọng ngành nông nghiệp sẽ bị giảm sút. Thuận lợi về kinh tế, chính trị, xã hội, giáo

khó khăn. Tổ chức ChildFund đã hỗ trợ đầu tư dự án nước sạch và vệ sinh môi
trường tại địa bàn huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình. Qua 3 năm thực hiện bước đầu
dự án cũng đã mang lại nhưng hiệu quả rất tốt. Dự án tiếp cận theo hướng 2 chiều
như nêu trên. Đối với huyện Cao Phong, dự án sẽ tiếp tục thực hiện trong năm
2011. Do đó, những câu hỏi đặt ra là: Dự án có thu hút được sự tham gia của người
dân hay không? Nếu có, sự tham gia của người dân đã thực sự mang lại hiệu quả
chưa? Sự tham gia đó mang lại những lợi ích gì cho người dân hưởng lợi? Dự án đã
làm gì để thu hút sự tham gia của người dân vào thực hiện các hoạt động? Những
nhân tố nào ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân? Kết quả của sự tham gia đó
là gỡ? Cõ̀n làm thế nào để huy động tốt hơn sự tham gia của người dõn? Để trả lời
được các câu hỏi nêu trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiờn cứu sự
tham gia của người dân trong các hoạt động của dự án nước sạch và vệ sinh môi
trường tại huyện Cao Phong - tỉnh Hũa Bỡnh”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá sự tham gia của người dân trong các hoạt động của dự án nước
sạch và VSMT tại huyện Cao Phong qua đó đề xuất một số giải pháp tăng cường sự
tham gia của người dân vào dự án trong giai đoạn tiếp theo.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tham gia của người
dân trong các hoạt động của dự án phát triển nông thôn, dự án nước sạch và VSMT
nông thôn.
Khoa Kinh tế & PTNT Trường ĐHNN Hà Nội
2
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Duy Hưng – PTNT52
- Đánh giá sự tham gia của người dân trong các hoạt động của dự án nước
sạch và VSMT tại huyện Cao Phong.
- Đề xuất giải pháp tăng cường sự tham gia của người dân trong các hoạt
động của dự án nước sạch và VSMT tại huyện.
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

được thực hiện trong môi trường (tự nhiên, xã hội, kinh tế và chính trị), các đầu ra
(sản phẩm dịch vụ) để thỏa mãn nhu cầu mong muốn. Tùy theo mục đích, dự án có
thể chia làm 3 loại: Dự án đầu tư, dự án nghiên cứu, dự án phát triển.
Dự án phát triển là cụ thể hóa các chương trình phát triển, nhằm bố trí sử
dụng các nguồn lực khan hiếm để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh
tế, xã hội và môi trường, cả mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài.
Dự án phát triển nông thôn là cụ thể hóa chương trình phát triển nông thôn,
nhằm bố trí sử dụng các nguồn lực khan hiếm để thực hiện thành công các mục tiêu
phát triển kinh tế, xã hội nông thôn, thỏa mãn tốt các nhu cầu của cư dân nông thôn.
Dự án phát triển nông thôn liên quan đến nhiều nội dung như hoạt động kinh tế
(nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ), sức khỏe cộng đồng, tổ chức xã hội, cộng
đồng môi trường, công nghệ, cơ sở hạ tầng, văn hóa giáo dục.
2.1.1.2 Chu trình dự án phát triển nông thôn
Một dự án PTNT thường trải qua bốn giai đoạn sau:
- Giai đoạn xây dựng dự án bao gồm việc xác định nhu cầu hay vấn đề khó
khăn cần giải quyết, tìm nguyên nhân, xây dựng các giải pháp, tính toán các nguồn
lực, đánh giá ảnh hưởng và tác động của dự án có thể xảy ra nếu thực hiện nó. Kết
quả của giai đoạn này là hình thành được bản đề án. Vì thế, vấn đề quan trọng ở giai
đoạn này là làm thế nào để xây dựng được một bản đề án thật tốt.
- Giai đoạn thẩm định dự án là giai đoạn được tiến hành sau khi có bản đề
án. Giai đoạn này còn gọi là giai đoạn nghiên cứu khả thi dự án. Trong giai đoạn
này, dự án phát triển nông thôn được thẩm định thông qua việc đánh giá một cách
Khoa Kinh tế & PTNT Trường ĐHNN Hà Nội
4
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Duy Hưng – PTNT52
khoa học, toàn diện, có hệ thống trờn cỏc phương diện về nhu cầu và những vấn đề
khó khăn mà dự án định giải quyết, mục tiêu của dự án, tính khả thi về kinh tế, xã
hội, môi trường và chính trị, cũng như các tác động mà dự án có thể tạo ra cho từng
cá nhân cộng động và cả xã hội. Kết quả giai đoạn này nhằm trả lời câu hỏi: Cú nờn
tiến hành dự án không? Nếu tiến hành, làm thế nào để thực hiện tốt dự án? Việc

Xây dựng
dự án
Kết thúc
dự án
5
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Duy Hưng – PTNT52
Sơ đồ 2.1 Chu trình một dự án
2.1.2 Lý luận về sự tham gia của người dân trong dự án phát triển nông thôn
2.1.2.1 Khái niệm về sự tham gia của người dân trong dự án
* Sự tham gia
Những năm gần đây, thuật ngữ: “Sự tham gia” hay “Sự tham gia của người
dõn” đó được sử dụng rộng rãi bởi cộng đồng các nhà nghiên cứu phát triển ở trong
nước cũng như quốc tế. Mục tiêu của sự tham gia của người dân trong các dự án
nhằm nâng cao chất lượng, tính khả thi và khả năng áp dụng vào thực tiễn.
Theo tổ chức Ngân hàng thế giới (Worldbank), tham gia là một quá trình
tương tác và hợp tác trong phân tích, hoạch định và ra quyết định trong đó có sự
tham gia của tất cả cỏc nhúm có liên quan. Nó là quá trình cho phép những người
tham gia trình bày những điều quan tâm và chú ý của họ, để dẫn đến những quyết
định hài hòa với lợi ích của cỏc nhúm khác nhau. Hoặc có thể định nghĩa là “một
quá trình trong đó cỏc nhúm liên quan tác động và chia sẽ giám sát đối với hoạt
động phát triển, các quyết định và các nguồn gây ảnh hưởng đến họ”.
Khoa Kinh tế & PTNT Trường ĐHNN Hà Nội
6
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Duy Hưng – PTNT52
Trong một dự án có sự tham gia, đóng góp của người bản địa đến việc đưa ra
quyết định trong quá trình xây dựng ý tưởng, hoạch định và thực thi dự án phải
được tôn trọng.
* Người dân
Người dân trong dự án là tất cả những người được hưởng lợi từ dự án, ở đây
có thể bao gồm tất cả cỏc nhúm xã hội, các cộng đồng cư dân, các tổ chức xã hội

sự tham gia của họ chỉ mang tính hình thức mà thôi (Hollnsteiner 1976 trích dẫn từ
Okamura 1986). Do đó, khi người dân tham gia vào dự án, cần phải đảm bảo rằng
họ có quyền quyết định ngang với cán bộ dự án. Ngân hàng thế giới (1994) đã thừa
nhận trong khái niệm về tham gia của mình rằng: tham gia là việc cỏc bờn liên quan
của dự án cùng nhau thoả hiệp về việc quản lý và bảo vệ các nguồn lợi. Xa hơn,
người dân địa phương cần phải được xem là người làm chủ dự án hơn là người
hưởng lợi của dự án (Clayton, Oakley, và Pratt 1997). Quan điểm này được sự
đồng thuận của Okamura (1986). Ông cho rằng sự tham gia của người dân vào các
dự án cần phải được hiểu là một phương tiện trong việc trao quyền cho cộng đồng
quản lý và điều hành các hoạt động phát triển (Okamura 1986).
Tóm lại, sự tham gia của người dân là một quá trình bàn bạc cởi mở, bình
đẳng giữa cán bộ, các nhà hoạch định chính sách với người dân địa phương. Trong
đó kiến thức, ý kiến của người dân được khám phá và tôn trọng. Họ cần được xem
là chủ thể của sự bàn bạc này. Kết luận cuối cùng của dự án hoặc kế hoạch phát
triển phải được họ đồng ý. [ThS. Lê Hiền, 2009]
2.1.2.2 Sự tham gia của người dân trong dự án phát triển nông thôn hiện nay
Một thực tế cho thấy sự tham gia của người dân vào các hoạt động phát triển
nông thôn đang cho thấy hiệu quả của các chương trình, dự án này được nâng cao
rõ rệt so với các cơ chế tiếp cận chương trình, dự án theo kiểu từ trên xuống trước
đây. Hầu hết các dự án Phát triển nông thôn hiện nay đều sử dụng phương pháp tiếp
cận có sự tham gia, hoặc phương pháp khuyến nông có sự tham gia (Parcitipatory
Agricultural Extension Method - PAEM). Theo đó, nội dung phương pháp này nhấn
mạnh các điểm sau đây:
(1) Người dân là trung tâm trong mọi hoạt động, người dân tự xác định nhu cầu,
tự bàn kế hoạch thực hiện, tự đóng góp xây dựng, tự giám sát, kiểm tra. Cán bộ dự án
luôn đồng hành cùng họ, định hướng và đóng góp chuyên môn, kỹ thuật. Nhà nước/cỏc
tổ chức tài trợ cấp kinh phí và thực hiện điều phối các hoạt động theo quy định.
Khoa Kinh tế & PTNT Trường ĐHNN Hà Nội
8
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Duy Hưng – PTNT52

9
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Duy Hưng – PTNT52
Trước kia ở Việt Nam, Nhà nước ta luôn quan niệm về sự tham gia của
người dân bao gồm các tiêu chí đó là: “dõn biết, dân bàn, dân làm, dân hưởng lợi”.
Nhưng qua quá trình tham gia của người dân trong thực tiễn thì chúng ta đó cú
những suy nghĩ và thay đổi tích cực hơn trong quá trình tham gia, cùng với đó là
nhận thức được tầm quan trọng khi có sự tham gia của người dân mà từ đó Đảng,
Nhà nước đó cú những bổ sung thờm cỏc tiêu chí về sự tham gia để có thể tiếp cận
người dân được một cách dễ dàng đú là:“dõn bàn, dân biết, dân làm, dân đóng góp,
dân kiểm tra, dân tham gia, dân hưởng lợi”. Tiêu chí thể hiện sự tham gia của người
dân trong các hoạt động của một dự án hiện nay thường sử dụng được thể hiện qua
sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.2 Mức độ tham gia qua các tiêu chí
Nhưng đôi khi thực tế không phải khi nào chúng ta cũng áp đặt phải có đủ cả
8 tiêu chí trờn thỡ mới là có sự tham gia. Tùy từng loại dự án, tùy từng cách tiếp
cận và hoạt động của dự án mà có thể thiếu một hoặc một vài tiêu chí, nhưng bản
chất vẫn có sự tham gia của người dân trong đó. Và người dân chính là mục tiêu của
dự án phát triển nông thôn cần hướng đến.
Triển khai các hoạt động của dự án là một hoạt động quyết định đến sự thành
bại của dự án. Từ hoạt động này chúng ta sẽ đánh giá được hiệu quả, khó khăn,
Khoa Kinh tế & PTNT Trường ĐHNN Hà Nội
Người dân
Quản lý
Đóng góp
Kiểm tra
Cần
Làm
Hưởng lợi
Bàn
Biết

có sự tham gia của người dân. FAO (Food and Agriculture Organization- Tổ chức
nông lương thế giới) và GTZ (Deutsche Gesellschaft fỹr Technische
Khoa Kinh tế & PTNT Trường ĐHNN Hà Nội
11
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Duy Hưng – PTNT52
Zusammenarbeit (GTZ) GmbH) là hai tổ chức đó cú những đóng góp to lớn cho
công tác này thông qua kinh nghiệm thực hiện dự án ở các nước đang phát triển như
Philippines, Thailand, Cambodia, và một số nước khác. Ở Việt Nam, phương pháp
luận này được chính thức thâm nhập vào nước ta từ những năm 1995 thông qua dự
án hợp tác giữa Việt Nam và Đức, cụ thể là, dự án phát triển Lâm Nghiệp Xã Hội
Sông Đà bắt đầu năm 1995. Sau dự án này thì đến nay chúng ta đã có rất nhiều các
tổ chức quốc tế hỗ trợ và giúp đỡ. Những tổ chức này cũng đã sử dụng phương pháp
luận có sự tham gia vào các dự án phát triển nông thôn. Do những tổ chức rất nhiều
dự án trên khắp nơi trên thế giới nên kinh nghiệm huy động, thu hút sự tham gia của
người dân vào dự án khá tốt, cũng chính vì lẽ đó mà những dự án của các tổ chức
quốc tế đầu tư vào Việt Nam rất được hưởng ứng và thường mang lại tính bền vững
khá cao. Những năm gần đây các dự án liên quan đến vấn đề nước sạch và VSMT
được nhiều tổ chức quan tâm, và Việt Nam cũng là điểm đến của các dự án. Trong
những tổ chức đã và đang hoạt động có liên quan trong lĩnh vực nước sạch và
VSMT chúng tôi xin giới thiệu một số tổ chức sau:
* Hỗ trợ của UNICEF
Kể từ năm 1982, Unicef đó đúng một vai trò quan trọng trong lĩnh vực cấp
nước và vệ sinh nông thôn. Điều này tạo nên mối quan hệ gắn bó giữa UNICEF với
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. UNICEF cũng là một đối tác chính phủ
Việt Nam. Từ năm 1982 - 1999, đó cú hơn 193.000 công trình cấp nước được xây
dựng, cung cấp nước cho khoảng 33% dân số nông thôn. UNICEF cũng đã hỗ trợ
xây dựng các công trình vệ sinh cho hơn 3400 trường tiểu học và 800 trường mẫu
giáo. Đồng thời, UNICEF cũng hỗ trợ công tác giáo dục sức khoẻ và vệ sinh trong
trường học.
Trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và

Phong, Nam Phong được triển khai từ năm 2003 và 3 xã bắt đầu được hưởng
dự án từ năm 2008 đó là Xuân Phong, Bắc Phong, Tây Phong.
2.2.3 Kinh nghiệm thu hút sự tham gia của người dân trong các dự án Phát triển
nông thôn
2.2.3.1 Kinh nghiệm thu hỳt/tăng cường sự tham gia của người dân trong các dự án
nước sạch và VSMT của các tổ chức và quốc gia trên thế giới
* Kinh nghiệm thu hút sự tham gia của người dân, các tổ chức cộng đồng vào quản
lý dự án nước sạch và VSMT ở Trung Quốc
Khoa Kinh tế & PTNT Trường ĐHNN Hà Nội
13
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Duy Hưng – PTNT52
Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, sau khi lập kế hoạch việc đảm bảo
nguồn tài chính là rất quan trọng. Chiến lược huy động vốn từ 3 nguồn: Từ nguồn
vốn của chính phủ TƯ và địa phương, huy động quyên góp vốn từ các tổ chức, giới
kinh doanh, đóng góp của người hưởng lợi từ chương trình.
Ví dụ trong dự án vay vốn WB cho nước sạch và VSMT 50% vốn từ WB,
25% từ Chính phủ TQ và 25% còn lại là đóng góp của hộ gia đình (đối tượng được
hưởng lợi).
Quản lý chất lượng nước: Kinh nghiệm thực tế nếu chỉ ban hành các tiêu
chuẩn hay hướng dẫn thì chưa đủ mà cần có các cơ quan quản lý, giám sát và các
giải pháp phù hợp, xây dựng tổ chuyên trách và đề ra chế tài xử lý sẽ góp phần đảm
bảo chất lượng nước.
Vệ sinh môi trường nông thôn: Trung Quốc đã xây dựng các tiờu chuẩn về nhà tiêu
hợp vệ sinh và và tiờu chuẩn xử lý rác thải (lò đốt rác). Ban hành thiết kế chuẩn cho
nhà tiêu nông thôn gồm các loại sau: Biogas, Tự hoại 3 bể, tự hoại 2 bể, nhà tiêu
khô sinh thái, nhà tiêu tự hoại nối với hệ thống nước thải chung, nhà tiêu GIO. Các
loại hình nhà tiêu này rất quan trọng với cả Trung Quốc và Việt Nam do chúng ta
đều cú thúi quen sử dụng chất thải hữu cơ (phân người và gia súc) làm phân bón
cây trồng và nếu không đảm bảo vệ sinh sẽ nguy hiểm cho sức khoẻ.
Điều phối và phối hợp liên ngành trong lĩnh vực cấp nước và VSMT nông

2.2.3.2 Kinh nghiệm thu hút sự tham gia của người dân trong thực hiện các dự án
phát triển nông thôn ở Việt Nam
* Kinh nghiệm thu hút sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý, bảo vệ,
sử dụng và duy tu dự án nước sạch và VSMT ở xã Chiến Thắng, huyện Bắc Sơn,
tỉnh Lạng Sơn.
Theo báo Lạng Sơn đưa tin, “Cú dịp đến thăm xã Chiến Thắng, huyện Bắc
Sơn sẽ không ít người ấn tượng trước hiệu quả của việc quản lý, khai thác công
trình nước sạch ở đây. Từ những bể thu nước đầu nguồn, bể chứa nước cho đến hệ
thống đường ống dẫn về thôn, bản đều được giữ gìn, tu sửa thường xuyên để mang
lại lợi ích lâu dài cho người dõn”.
Cũng theo báo thì các cán bộ xã Chiến Thắng đã chia sẻ những kinh nghiệm
trong công tác thu hút sự tham gia của người dân: “Ngay sau khi được bàn giao
công trình nước sạch, chúng tôi đã tuyên truyền, vận động người dân cùng có ý thức
Khoa Kinh tế & PTNT Trường ĐHNN Hà Nội
15
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Duy Hưng – PTNT52
sử dụng, giữ gìn bể nước cũng như đường ống để công trình đem lại lợi ích lâu dài.
Ở đây, hàng năm, bà con đều đóng góp kinh phí duy tu, bảo dưỡng công trình. Việc
kiểm tra nguồn nước, các bể nước và đường ống, tổng vệ sinh, phát quang cây cối
xung quanh công trình cũng thường xuyên được tổ chức để kịp thời phát hiện hỏng
hóc và tiến hành sửa chữa, đồng thời đảm bảo vệ sinh nguồn nước”.
Cách quản lý khoa học, phát huy tinh thần đoàn kết, cộng đồng trách nhiệm
trong việc bảo vệ công trình nước sạch ở Chiến Thắng có thể coi là kinh nghiệm
hay để các địa phương tham khảo nhằm quản lý và phát huy có hiệu quả các công
trình công cộng.
* Một số kinh nghiệm của trung tâm PTNT miền Trung, Đại học Nông Lâm Huế
trong xây dựng và nhân rộng các mô hình trình diễn có sự tham gia của nông dân
-Cần chọn đúng đối tượng, là những hộ hoàn toàn tự nguyện, có nhu cầu để
áp dụng các kỹ thuật mới vào sản xuất, có ý chí quyết tâm vươn lên để làm giàu.
- Tôn trọng, lắng nghe ý kiến của người dân, đáp ứng nhu cầu đích thực của

sát, đánh giá và tổ chức nhân rộng mô hình.
- Nhóm sở thích phải hoạt động trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện và rất
dân chủ. Số lượng thành viên không nên quá đông để dễ quản lý và tổ chức các
hoạt động. Ban lãnh đạo cần có cơ cấu gọn nhẹ (không quá 3 người) và phải là
những người nhiệt tình, tâm huyết với tập thể, có ý chí và quyết tâm vươn lên để
làm giàu.
- Tranh thủ tối đa sự ủng hộ và giúp đỡ của Đảng, đoàn thể và chính quyền ở
thụn/xó trong tất cả các hoạt động của mô hình, nhất là trong quá trình nhân rộng.
* Bài học kinh nghiệm từ hoạt động xây dựng nhà Gươl có sự tham gia của người
dân ở xã Thượng Long, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
Giai đoạn thiết kế: Bảo tồn văn hoá được coi trọng hơn kinh tế. Quan điểm của
Trung tâm PTNT miền Trung (CRD) là trao quyền cho người dân quyết định những
vấn đề cần ưu tiên giải quyết. Do đó, CRD đã tổ chức những cuộc họp thôn, họp nhóm
và phỏng vấn cá nhân các loại hộ trong xã về việc xác định các vấn đề của thôn bản và
ưu tiên giải quyết các vấn đề này. Kết quả thu được thật bất ngờ. Mặc dù Thượng Long
là một xã rất nghèo vào thời điểm đó nhưng ưu tiên số 1 của người dân là khôi phục lại
nhà Gươl vốn được xem là biểu tượng văn hoá đặc trưng nhất của dân tộc Cơ Tu.
Được trao quyền thiết kế, người dân đã làm hết sức mình để bản vẽ nhà Gươl
đúng với bản gốc. Điều cơ bản nhất trong việc thiết kế loại hình nhà truyền thống vốn
Khoa Kinh tế & PTNT Trường ĐHNN Hà Nội
17

Trích đoạn Phương pháp phân tích thông tin
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status