Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học, sinh thái học của loài rệp sáp đốt trionymus sacchari (cockerell) hại mía và biện pháp phòng chống tại huyện cao phong, tỉnh hòa bình năm 2012 - Pdf 23

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… i

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

HOÀNG THỊ BÍCH HUỆ NGHIÊN CỨU ðẶC ðIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC
CỦA LOÀI RỆP SÁP ðỐT Trionymus sacchari (Cockerell) HẠI
MÍA VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG TẠI HUYỆN CAO
PHONG, TỈNH HÒA BÌNH NĂM 2012
Chuyên ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Mã số: 60.62.10.12 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ðẶNG THỊ DUNG Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… ii
LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- PGS.TS. ðặng Thị Dung ñã hướng dẫn tận tình, chỉ bảo tôi trong suốt
quá trình hoàn thành luận văn này.
- Tập thể các thầy giáo, cô giáo Khoa Nông học, ñặc biệt các thầy cô
trong bộ môn côn trùng trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã trực tiếp
ñóng góp ý kiến quý báu về chuyên môn giúp tôi hoàn thành luận văn này.
- Ban lãnh ñạo Chi cục Bảo vệ thực vật Hòa Bình ñã tạo ñiều kiện tốt
nhất cho tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn.
- Cảm ơn các ñồng nghiệp, bạn bè và người thân ñã ñộng viên, giúp ñỡ
tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.

Tác giả
Hoàng Thị Bích Huệ

1.2.5. Tác hại của rệp sáp 23
1.2.6. Phân bố và ký chủ 23
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… iv

1.2.7. Thiên ñịch của rệp sáp 24
1.2.8. Biện pháp phòng trừ 24
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
27
2.1. ðịa ñiểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu 27
2.2. ðối tượng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 27
2.2.1. ðối tượng nghiên cứu 27
2.2.2. Vật liệu nghiên cứu 27
2.2.3. Dụng cụ và hóa chất nghiên cứu 27
2.3. Nội dung nghiên cứu 27
2.3.1. ðánh giá thực trạng sản xuất mía tại tỉnh Hoà Bình 27
2.3.2. ðiều tra diễn biến mật ñộ của rệp sáp ñốt hại mía năm 2012 27
2.3.3. Nghiên cứu ñặc ñiểm hình thái rệp sáp ñốt trên mía 27
2.3.4. Nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh học, sinh thái của rệp sáp ñốt 27
2.3.5. Khảo nghiệm biện pháp hóa học phòng chống rệp sáp ñốt hại mía
tại ñịa bàn huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình 27
2.4. Phương pháp nghiên cứu 27
2.4.1. ðiều tra thực trạng sản xuất mía ở tỉnh Hòa Bình 27
2.4.2. ðiều tra, xác ñịnh thành phần rệp hại mía tại Cao Phong, Hòa
Bình năm 2012 28
2.4.3. ðiều tra diễn biến tỷ lệ cây bị hại năm 2012 28
2.4.4. Nghiên cứu ñặc ñiểm hình thái rệp sáp ñốt Trionymous

vùng trồng mía nguyên liệu của Hoà Bình năm 2012
42
3.5. Biện pháp phòng chống rệp sáp ñốt Trionymus sacchari 44
3.5.1. Hiệu quả phòng trừ của biện pháp bóc bẹ lá mía 44
3.5.2. Hiệu quả phòng trừ rệp sáp ñốt của một số loại thuốc hoá học trong
phòng thí nghiệm 47
3.5.3 Hiệu quả phòng trừ rệp sáp ñốt của một số loại thuốc hoá học ngoài ñồng 48
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
KẾT LUẬN 50
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… vi

KIẾN NGHỊ 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52 DANH MỤC BẢNG

STT TÊN BẢNG TRANG
Bảng 3.1. Diện tích, sản lượng, năng suất mía trên ñịa bàn tỉnh Hoà Bình
giai ñoạn 2008 – 2012
34
Bảng 3.2. Thành phần sâu hại mía tại huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình
năm 2012 31
Bảng 3.3. Kích thước các pha phát triển của rệp sáp ñốt T. sacchari 34


STT TÊN HÌNH TRANG
Hình 3.1. Rệp rễ hại mía 33
Hình 3.2. Rệp sáp ñốt 34
Hình 3.3. Rệp xơ bông trắng
34
Hình 3.4. Nhện trắng 34
Hình 3.5. Bọ hung hại gốc mía 34
Hình 3.6. Rệp mẹ ñẻ bọc trứng 35
Hình 3.7. Trứng rệp sáp ñốt (Trionymus Sacchari) 36
Hình 3.8. Tuổi 1 rệp sáp ñốt
(Trionymus Sacchari) 36
Hình 3.9. Tuổi 2 rệp sáp ñốt (Trionymus Sacchari) … 36
Hình 3.10. Tuổi 3 rệp sáp ñốt(Trionymus Sacchari)
37
Hình 3.11. Trưởng thành rệp sáp ñốt (Trionymus Sacchari) 37
Hình 3.14. Trứng rệp sáp ñốt nở rệp con 41
Hình 4.13. Ruộng mía không bóc bẹ lá 39
Hình 4.14. Ruộng mía bóc bẹ lá
45
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 1
MỞ ðẦU

1. Tính cấp thiết của ñề tài
Mía (Saccharum officiarum. L.) là một trong những cây công nghiệp
quan trọng của nhiều nước vùng Nhiệt ñới và Á nhiệt ñới, là cây có ý nghĩa
kinh tế nhiều mặt, giá trị tổng hợp cao, cung cấp nguyên liệu chủ yếu cho

huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình năm 2012”.
2. Mục ñích, yêu cầu và ý nghĩa của ñề tài
2.1. Mục ñích của ñề tài
Trên cơ sở số liệu nghiên cứu những ñặc ñiểm sinh học, sinh thái của
loài rệp sáp ñốt và sự gây hại của chúng trên mía, sẽ ñề xuất biện pháp phòng
chống chúng một cách hợp lý tại vùng Cao Phong, tỉnh Hòa Bình.
2.2. Yêu cầu của ñề tài
- Nắm ñược thực trạng sản xuất mía tại tỉnh Hòa Bình giai ñoạn 2008-2012
- ðiều tra diễn biến tỷ lệ hại do rệp sáp ñốt trên một số giống mía trồng
phổ biến năm 2012 tại Cao Phong, Hòa Bình
- Nghiên cứu ñặc ñiểm hình thái của rệp sáp ñốt Trionymus sacchari
hại mía (mô tả hình thái, màu sắc, ño kích thước)
- Nghiên cứu ñặc ñiểm sinh học, sinh thái của rệp sáp ñốt Trionymus
sacchari
- Nghiên cứu ñề xuất biện pháp phòng chống rệp sáp ñốt Trionymus
sacchari hiệu quả, hợp lý.
2.3. Ý nghĩa của ñề tài
- Ý nghĩa khoa học: Cung cấp cho khoa học những dẫn liệu về tình
hình diễn biến gây hại của rệp sáp ñốt Trionymus sacchari hại trên mía, ñặc
ñiểm sinh học, sinh thái của rệp sáp ñốt, làm cơ sở ñể xây dựng biện pháp
quản lý rệp sáp ñốt hại mía có hiệu quả, bảo vệ năng suất, sản lượng mía.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 3
- Ý nghĩa xã hội: Việc ñánh giá thực trạng tình hình sản xuất mía tại
Hoà Bình sẽ là cơ sở giúp các nhà quản lý, chính quyền ñịa phương có giải
pháp phù hợp ñể hỗ trợ, thúc ñẩy phát triển sản xuất mía.
- Ý nghĩa kinh tế: Việc nghiên cứu, áp dụng biện pháp phòng trừ sâu
hại mía phù hợp sẽ góp phần giảm thiểu chi phí sản xuất, ñảm bảo năng suất

1.1. Những nghiên cứu ngoài nước
1.1.1. Nghiên cứu về thành phần sâu hại mía
Việc phòng chống sâu bệnh hại cây mía luôn là vấn ñề cấp thiết và ñặc
biệt quan tâm cuả nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới. Hiện nay vấn ñề này
vẫn ñang ñược chú trọng nghiên cứu ở những nước có nghành công nghiệp
mía ñường phát triển. Theo Kalaiyarasan (2005) ñã tổng kết có 97 loài sâu hại
mía. Còn theo Gupta (1995) thì ghi nhận rằng trên thế giới có 18 loài sâu hại
mía chủ yếu, 21 loài thứ yếu.
Theo Waterhouse (2001) thì cho rằng trên thế giới có 20 loài sâu hại
mía chủ yếu. Các tác giả thống nhất phân các loài sâu hại mía thành 4 nhóm
chính như: Nhóm sâu ñục thân, nhóm sâu hại ñất, nhóm sâu hại lá.
Trong các nhóm sâu hại mía trên, nhóm sâu ñục thân và nhóm sâu hại lá là 2
nhóm gây hại nguy hiểm ñối với cây mía.
Cây mía bị tấn công bởi một số loài rệp hại tại Ấn ðộ. Theo
Raychaudhuri (1984) ñã phát hiện ñược 17 loài rệp gây hại trên mía, trong ñó
có 7 loài thuộc họ phụ Aphidinae, 5 loài thuộc họ phụ Pemphiginae, 2 loài
thuộc họ phụ Drepanosiphinae và 3 loài thuộc họ phụ Hormaphidinae.
Theo Blackman (1984) thì thành phần rệp muội hại mía gồm 10 loài:
Ceratovacuna lanigera Zehntner, Geioca lucifuga Zehntner, Forda orientalis
George, Tetraneura javensis Van der Goot, T. hirsuta Baker, Sipha flava
Forbes, Rhopalosiphum maidis Fitch, Melanaphis sacchari Zehntner, Sitobion
miscanthi Takahashi, Hysteroneura setariae Thomas
Theo Zhou Zhihong, et al., (1998) trên cây mía có 4 loài rêp gây hại ñó
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 5
là C. lanigera Zehntner, M. sacchari Zehntner, T.hirsuta Baker (gây hại ở rễ
mía), Trionymus sacchari Cockerell (gây hại ở phần ñốt mía) trong 4 loài này thì
loài rệp T.sacchari là loài gây hại chủ yếu tại các vùng mía của Trung Quốc.

sáp Pseudococcidae có khoảng 400 loài. Các tác giả cũng ñã ghi nhận ñược 6
loài rệp sáp giả gây hại trên mía ñó là A.graminis, Birendracoccus saccharifollii,
Brevennia rehi, Dysmicoccus brevipes, Kiritshenkella sacchari và T.sacchari.
Youdeowei, Anthony (1983) cho rằng loài Pseudococcus citri Risso có
hai chủng khác nhau. Chủng gây hại trên mặt ñất có khả năng gây hại các bộ
phận dưới mặt ñất, nhưng ngược lại chủng gây hại dưới mặt ñất thì không có
khả năng gây hại các bộ phận trên mặt ñất.
Theo một số nghiên cứu của Rezende, et al., (1979) rệp sáp mềm trông
giống như một con rận gỗ nhỏ, cơ thể phủ một lớp bột. Cũng giống như
những loài rệp sáp khác, chúng nằm trong tổng họ Coccoidae, mặc dù có khác
nhau về hình thái. ðối với rệp sáp, có một lớp bao phủ bằng các sợi tơ nhỏ và
rất lỏng lẻo tạo nên ổ của chúng (tùy từng loài), có trên 250 loài xuất hiện ở lục
ñịa nước Mỹ, gần như chúng chỉ gây hại cây ký chủ phù hợp. Hầu hết rệp mềm
như rệp cam (Planococcus Citri) có chân phát triển, cho nên chúng có khả năng
di chuyển, thậm trí giai ñoạn trưởng thành không giống như những loài rệp sáp
khác. ðiều này cho thấy rệp sáp mềm dễ dàng lây lan sang các cây bên cạnh,
chúng là loài ăn tạp và chúng truyền ñộc tố vào biểu bì, làm phát tán nguồn bệnh
và virus.
Theo Deka, et al., (1999) cho biết có 5 loài rệp sáp hại cà phê là Ferrisia
virgata, Pineapple mealybug, Pseudococcus kenya, Pseudococcus adonium,
Pseudococcus citri. Pseudococcus citri Risso có hai chủng khác nhau. Một
chủng phá hại phần ở dưới mặt ñất, một chủng phá hại trên mặt ñất.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 7
Trên mía, nhóm rệp sáp có thành phần loài phong phú, có 40 loài rệp
khác nhau thuộc họ Coccidae tấn công cây mía ở các vùng khác nhau trên thế
giới, trong ñó rệp sáp T. sacchari ñược tìm thấy ở nhiều vùng trồng mía trên
thế giới Agarwal, R.A. 1960.

ñầu mất 2-3 ñốt so với tuổi 1) một vài ống tiết phát triển ở cả 2 mặt, ở cuối
mặt lưng có những lỗ nhỏ. Tuổi 3 giống tuổi 2 nhưng có nhiều lỗ thở hơn ở
trên da và ống tiết, những lỗ miệng ở phần ñầu trên lưng phát triển và có thêm
1 ñốt râu nhưng vẫn ít hơn con cái trưởng thành một ñốt. Tuổi 2 con cái giống
tuổi 2 con ñực, nhưng tuổi 2 con cái có thêm ống tiết và ñốt râu. Tuổi 3 con
ñực (còn gọi là tiền nhộng) có chân và râu ñầu giảm ñi, có rất ít lông cứng
ngắn, có mầm cánh ngắn. Tuổi 4 con ñực ( hay còn gọi là nhộng) với phần
phụ kéo dài và phát, cánh dài ra hình ñệm, ñốt thứ 10 phát triển kéo dài ra và
hóa cứng, phần hóa cứng ở ñầu và ngực ñã phần nào ñược hình thành. Các
nhà khoa học Carver, et al., (1987) cho rằng họ Pseudococcidae có một lớp
sáp ñược tiết ra bao phủ khắp người chúng. Trưởng thành cái không có cánh,
với hình ô van phân ñốt, chân phát triển tốt, dài từ 1-5mm. Họ rệp sáp có ñặc
tính là có vòng hậu môn với 4 và nhiều lông cứng hơn, râu có 9 ñốt, lưng có
những lỗ nhỏ, bụng có ngấn dạng vòng. Trưởng thành cái hình trứng, chậm
chạp. Trưởng thành ñực trông giống như con muỗi nhỏ, có một ñôi cánh cỏ
thể bay tới con cái, phần miệng của chúng teo lại và không ăn. Con cái rệp
sáp giả có kiểu miệng hút dài thích hợp với việc hút nhựa cây.
Robert (1991) khi nghiên cứu về rệp sáp ñốt T.sacchari cho biết,
trưởng thành cái có hình ô van dài hoặc tròn, dài khoảng 7 mm. Các thùy hậu
môn phát triển vừa phải, mỗi thùy có một lông cứng ở ñỉnh ngọn dài khoảng
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 9
350mm trên bề mặt bụng thùy hậu môn. Râu có 7 ñốt dài từ 310 – 380mm,
chân phát triển bình thường và mảnh.
Theo William (2001) cũng có những nhận xét tương tự, rệp sáp ñốt hại
mía có cơ thể hình ô van, dài khoảng 7mm, nhìn nghiêng có hình dạng lồi,
màu hồng, phủ lớp sáp tạo lên màu trên toàn bộ cơ thể không ñể hở vị trí nào
trên lưng. Rệp thường xuất hiện ở bẹ lá. ðặc ñiểm nhận dạng của rệp sáp ñốt

trước khi ñịnh vị, thường thấy ở trên lá một số loài Phenacoccus aceris tại
ñây chúng ăn và lột xác, ấu trùng tuổi 2 trở lại những kẽ nứt của thân cây và
qua ñông ở ñó dưới lớp kén nhỏ. Nhộng và con cái trưởng thành gây hại vào
mùa xuân trên cành cây. Một con cái trưởng thành ñẻ tới 1800 trứng vào cuối
tháng 5 ñầu tháng 6, trứng nở tháng 6 và ấu trùng di chuyển lên lá lặp lại vòng
ñời. Những loài có nguồn gốc châu Âu có 1-3 lứa trong năm. Có những loài
khác hoàn thành sự phát triển trong vòng hơn một năm, một số loài sinh sản
vô tính, nhiều loài không thấy xuất hiện con ñực nhưng dễ xác ñịnh do chúng
nhỏ và sống chỉ ñược vài ngày. (Kosztarab,1988).
Theo Entwistle, 1972 một số loài rệp sáp ñẻ trứng thành bọc và một số
loài ñẻ không có túi. Có những loài rệp có tới 6 thế hệ trong năm.
Rệp sáp có khả năng sinh sản rất lớn, một ñời của rệp cái có thể ñẻ
ñược 500 trứng, thời gian ñẻ từ 20 – 29 ngày (Jurgen Kramez và Schmuttere
,1978). Rệp lột xác 3-4 lần, thời gian phát triển của rệp rất khác nhau, có thể
từ 26-47 ngày và thời gian sống từ 36-57 ngày.
Robert (1991) cho rằng rệp sáp ñốt T. sacchari Cockerell mất khoảng
30 ngày ñể hoàn thành vòng ñời. Loài rệp này thường trú ngụ bên trong lá bẹ,
nhưng ñôi khi tìm thấy ở phần thân dưới ñất, trên búi rễ hoặc mắt mía, hoặc
mặt dưới lá. Trứng ñược ñẻ dưới bẹ lá, mỗi con cái ñẻ có thể lên tới 1000 quả.
Thời gian nở khoảng 10 – 14 giờ, những trứng ñược giữ lại trong bộ máy sinh
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 11
dục của con cái vẫn phát triển tốt. Tuổi 1 của rệp hoạt ñộng khá linh hoạt,
thông thường nó chỉ di chuyển từ phần già lên phần non của cây. Tuổi lớn rệp
ít hoạt ñộng, phương phức sinh sản là ñơn tính. Trưởng thành cái xuất hiện cả
2 loại hình có cánh và không cánh, nhưng ít bắt gặp rệp ñực.
Trong các nghiên cứu của Ramaial cho thấy rệp ñực rất hiếm gặp và
rệp cái có thể ñẻ ra trứng , có tỷ lệ nở cao mà không cần giao phối. Trứng nở

1.1.4. Tập quán sinh sống và quy luật phát sinh gây hại
Hai loài rệp sáp giả T.sacchari và D. boninsis ñều xuất hiện trên mía,
nhưng loài T. sacchari có mức ñộ phổ biến hơn, chúng có thể tìm thấy trên
bất kỳ cánh ñồng mía nào và gây hại nghiêm trọng hơn ở những ruộng mía
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 12
kém phát triển, sự gây hại của chúng làm cây mía thấp lùn. Qua theo dõi trên
các cánh ñồng mía, các nhà khoa học Columbia cho rằng Paratrechina fulva
là loài côn trùng ñã trở nên quan trọng trong sản xuất nông nghiệp do nó hình
thành lên mối quan hệ cộng sinh ñối với côn trùng chích hút. Trên mía loài
này cộng sinh với loài rệp sáp ñốt gây nên những thiệt hại lớn ñến hàm lượng
ñường và năng suất mía. (Gión et al., 2005).
Theo Kosztarab et al., cho rằng, họ rệp sáp giả Pseudococidae gây hại
nhiều loài cây, cả cây gỗ và cây bụi, nhưng hầu hết sống trên cây thân thảo
ñặc biệt là cây cỏ, một số loài ña thực, nhất là những loài phân bố rộng,
những loài khác sống trên một loài thực vật nhất ñịnh. Quần tụ rệp thường có
sự hiện diện của kiến và chúng ăn chất tiết ra của rệp.
Rệp sáp mía thay ñổi theo mùa, vùng sinh thái và các giai ñoạn phát
triển của cây mía Graham, Michae . Rệp có mặt ở hầu hết các vùng trồng mía
trên thế giới, chúng xâm nhiễm vào các bộ phận bảo quản trên mặt ñất.
Những ñiều tra trên ñồng ruộng cho thấy số lượng ñốt mía bị nhiễm rệp ñược
tiến hành qua 5 vụ mía ở 3 vùng sản xuất mía phía Bắc nước Úc trên mía
trồng mới và mía lưu gốc. Mức ñộ nhiễm rệp tương ñương nhau ở giữa các
mùa khác nhau. Ở 3 vùng, tỷ lệ ñốt bị nhiễm rệp tương tự nhau nhưng ñạt
ñỉnh cao muộn hơn một tháng ở vùng Marian so với 2 vùng còn lại là
Kalamia và Macknade. Vùng Kalamia số lượng ñốt nhiễm rệp giảm nhanh,
mức ñộ giảm thấp nhất vào tháng 3. Ở Macknade rệp duy trì ở mức ñộ cao
hơn 2 vùng còn lại.

Trionymus sacchari xuất hiện ñầu tiên trên các mắt mía giữa bẹ lá mía và thân
cây mía. Mật tiết ra do rệp sáp có tính axit cung cấp cho hệ vi sinh vật của mô
biểu sinh mà chủ yếu là loài vi khuẩn axeto, là các loài men của thực vật sống
ở vùng ñất chua. Tuy nhiên các loài Erwinia và Leuconostoc xuất hiện nhiều
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 14
ngay từ lúc ñầu trong vùng hốc bẹ lá rệp sáp chết. Rệp sáp ñốt Trionymus
sacchari là vectơ chính ñể tạo ra vi khuẩn sản sinh axit axetic. Nhân tố chính
ñể hạn chế sự ña dạng của vi khuẩn trong môi trường hoạt ñộng của rệp sáp
ñược xem như là các men hoạt ñộng trong suốt quá trình hoạt ñộng của vi
khuẩn tạo ra axit axetic, axit Ketogluconic và ganma pyrones, làm giảm ñộ
pH của chúng. Sản phẩm của vi khuẩn giúp cho quá trình ngăn chặn nấm
Aspergillus parasiticus ký sinh trên rệp sáp nhưng có thể hoạt ñộng như một
chất hấp dẫn cho loài bắt mồi ăn thịt Cacixenus perpicax.
1.1.6. Phân bố và ký chủ
Rệp sáp phân bố rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới thuộc các vùng
nhiệt ñới, á nhiệt ñới như Liên Xô cũ, Trung Quốc, Nhật Bản, (Anthony,1983)
rệp sáp gây hại cà phê ở hầu hết các nước: ðịa Trung Hải, Nam Phi, Nam Mỹ và
các nước Châu Âu. Lavabre (1970) cho biết loài rệp sáp phổ biến ở các vùng
nhiệt ñới của thế giới, rệp sáp tấn công bộ phận trên mặt ñất của cây cà phê ở các
nước như Java, Việt Nam. Theo Jurgen Kranz Schmutteres (1987) cũng có nhận
xét tương tự, rệp sáp có mặt ở hầu hết các vùng trên thế giới, từ vùng nhiệt ñới
ñến vùng cận nhiệt ñới.
Loài rệp Dismicoccus brevipes (Cockerell) chủ yếu hại trên dứa. Tuy
nhiên nó cũng hại trên các cây khác họ như na, chuối, cam, cà phê, bông, dâm
bụt, dâu. Loài này phân bố ở khắp các vùng nhiệt ñới, cũng có một số ghi
nhận ở vùng cận nhiệt ñới. Chúng ñược tìm thấy ở tất cả những nơi có mặt
của cây dưa như Châu phi, Châu Úc, Trung và Nam Mỹ, Ấn ðộ và vùng Thái

C.
Việc sử dụng bọ rùa châu Úc Rodolia cardinalis ñể trừ rệp sáp bông
Icerya purchasi ở California vào năm 1888-1889 ñã có những thành công
ñáng kể trong nghiên cứu. Bọ rùa Úc R.cardinalis ñược nhập nội tại 29 nước
trên thế giới ñể trừ rệp sáp bông Icerya purchasi. Trong ñó 25 nước có kết
quả ñạt mỹ mãn. Những nơi nhập bọ rùa châu Úc R.cardinalis, rệp sáp bông
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 16
loài Icerya purchasi trên cây ăn quả có múi ñược tiêu diệt từ 74-91%
(Quezada, De Bach,1973 – dẫn theo Phạm Văn Lầm, 1995).
Theo Zimmerman (dẫn theo ðường Hồng Dật và ctv) (1978) cho biết
rệp phát hiện ñầu tiên ở ñảo Hawai vào năm 1898, chúng ñã gây hại kéo dài ở
ñảo này và ñược dập tắt khi dùng bọ rùa C. montrouzieri và loài Ollav nirgum
cùng một số loài khác ñể phòng trừ. Loài bọ rùa C. montrouzieri thuộc họ
Coccinellidae, chúng ăn thịt các loài rệp sáp Pseudococcus gahani,
Pseudococcus maritime. Loài bọ rùa này ăn rệp sáp ở tất cả các giai ñoạn, từ giai
ñoạn trứng ñến giai ñoạn trưởng thành. Chúng thường ñẻ trứng vào các ñám rệp,
ít khi bọ rùa ñẻ nhiều trứng vào một chỗ, khả năng ñẻ trứng của chúng rất lớn,
thường một bọ rùa cái có thể ñẻ 200-300 quả. Bọ rùa ăn thịt này có thời gian
sống khá lâu thường từ 3-7 tháng, sâu non ít hoạt ñộng nhưng cũng có khả năng
tìm rệp ñể ăn thịt. Sâu non tuổi lớn mỗi ngày có thể ăn từ 12-25 túi trứng hoặc
200 – 300 rệp con hay 60 rệp trưởng thành.
Tác giả Carver et al., (1978) loài ký sinh A.saccharicola ñược ñưa vào
Úc từ Hawai trong những năm 1953 ñể phòng trừ rệp sáp hại ñốt mía nhưng
nó ñã không thiết lập ñược quần thể. Tuy nhiên một nghiên cứu ñã chỉ ra rằng
các vùng trồng mía chính ở Queenslan và New South Wales. Những kẻ thù tự
nhiên khác của Trionymus sacchari như nấm A. parasiticus và thiên ñịch
Cacoxenus perspicax… loài rệp sáp này còn kéo theo sự có mặt của kiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status