BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ THANH HIỀN NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CHỦ YẾU
CỦA LOÀI RUỒI ĐỤC QUẢ PHƯƠNG ĐÔNG Bactrocera dorsalis
Hendel HẠI CÂY ĂN QUẢ VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG
THEO HƯỚNG TỔNG HỢP Ở MỘC CHÂU, SƠN LA Chuyên ngành : Bảo vệ thực vật
Mã số : 62.62.01.12 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. Lê Đức Khánh
2. GS. TS. Phạm Văn Lầm
HÀ NỘI, NĂM 2014
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận án này, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ về mọi
mặt của các cấp Lãnh đạo, các tập thể và cá nhân.
Trước hết tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng
tới TS. Lê Đức Khánh và GS.TS. Phạm Văn Lầm, những người thầy đã tận
tình chỉ bảo, hướng dẫn về chuyên môn cũng như phương pháp luận trong
suốt quá trình thực hiện đề tài và luôn chia sẻ, động viên để tôi hoàn thành
luận án này.
Luận án được thực hiện tại Bộ môn Côn trùng, Viện Bảo vệ thực vật và
một số tỉnh ở miền Bắc, Việt Nam. Tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Ban
Lãnh đạo Viện Bảo vệ thực vật; Tập thể cán bộ Bộ môn Côn trùng. Tôi xin
chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quí báu đã dành cho tôi.
Tôi xin gửi lời cảm ơn TS. Cardoso Pereira Rui Manuel đã tạo điều
kiện để tôi tham gia học tập về ruồi đục quả tại Trường Đại học Griffith,
(Australia) và Thái lan. Trong quá trình học tập tôi cũng nhận được sự giúp
đỡ về chuyên môn của các chuyên gia nghiên cứu Ruồi đục quả từ Cơ quan
năng lượng nguyên tử quốc tế.
Chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp trong nhóm Nghiên cứu Ruồi
1.2.2. Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của ruồi đục quả 9
1.2.3. Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của ruồi đục quả 12
1.2.4. Biện pháp phòng chống ruồi đục quả 18
1.3. Tình hình nghiên cứu ở trong nước 28
1.3.1. Thành phần loài, phân bố và ý nghĩa kinh tế của ruồi đục quả 28
1.3.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của ruồi đục quả 29
1.3.3. Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của ruồi đục quả 32
1.3.4. Biện pháp phòng chống ruồi đục quả 34
1.4. Những vấn đề quan tâm 35
Chương 2. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1. Địa điểm nghiên cứu 36
2.1.1. Các địa điểm nghiên cứu 36
2.1.2. Vài nét về địa điểm nghiên cứu đồng ruộng 36
2.2. Thời gian nghiên cứu 37
2.3. Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 37
3.1.3. Ruồi đục quả và cây ký chủ của chúng ở Mộc Châu, Sơn La 59
3.1.4. Tác hại của ruồi đục quả 61
3.2. Đặc điểm sinh vật học của ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis 65
3.2.1. Tập tính sinh sống của ruồi đục quả Phương Đông 65
3.2.2. Thời gian phát triển các pha phát dục và vòng đời 66
3.2.3. Sinh sản của ruồi đục quả Phương Đông 68
3.2.4. Nhiệt độ khởi điểm phát dục, số lứa của ruồi đục quả Phương Đông 73
3.2.5. Bảng sống của ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis 74
3.2.6. Ký chủ của loài ruồi đục quả B. dorsalis 79
3.3. Đặc điểm sinh thái học của ruồi đục quả Phương Đông 81
3.3.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến các pha phát dục 81
3.3.2. Ảnh hưởng của thức ăn nuôi sâu non 83
3.3.3. Sự phát sinh và yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của ruồi đục quả
Phương Đông B. dorsalis ở vùng Mộc Châu (Sơn La) 94
3.4. Biện pháp quản lý ruồi đục quả B. dorsalis theo hướng tổng hợp tại
Mộc Châu, Sơn La 108
RH Ẩm độ tương đối của không khí (%)
R
o
Hệ số nhân của một thế hệ
Số TT Số thứ tự
T Thời gian một thế hệ tính theo đời con
T
c
Thời gian một thế hệ tính theo mẹ
t
c
Nhiệt độ khởi điểm phát dục
t
o
C Nhiệt độ không khí (độ C)
Y Số lứa lý thuyết trong năm của ruồi B.dorsalis
λ Giới hạn tăng tự nhiên
<
Nhỏ hơn
> Lớn hơn
♀ Con cái
♂
Con đực
CAQ Cây ăn quả
UBND Ủy ban nhân dân
Ø
Đường kính
ISPM 8 Hiệp ước số 8 về Tiêu chuẩn quốc tế xác định vùng
dịch hại
ISPM 35
3.7. Thời gian đẻ trứng và sức đẻ trứng của trưởng thành ruồi
đục quả Phương Đông B. dorsalis (Viện Bảo vệ thực vật,
2012-2013)
72
3.8. Tổng tích ôn hữu hiệu và số lứa lý thuyết ruồi đục quả Phương
Đông B. dorsalis tại Mộc Châu (Sơn La, 2010-2012)
74
3.9. Bảng sống của ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis
(Viện Bảo vệ thực vật, 2012-2013)
75
3.10.
Một số chỉ tiêu sinh học liên quan tới bảng sống của ruồi
đục quả Phương Đông B. dorsalis (Viện Bảo vệ thực vật,
2012-2013)
78
3.11.
Phổ cây ký chủ của ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis
tại Mộc Châu, Sơn La (2010 -2012)
79
vii
3.12.
Thời gian phát dục các pha và vòng đời của ruồi đục quả
Phương Đông nuôi bằng thức ăn khác nhau (Viện Bảo vệ
thực vật, 2012-2013)
84
3.13.
với màu vỏ khác nhau (Mộc Châu, Sơn La, 2007- 2011) 109
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
hình
Tên hình Số trang
3.1. Vết châm đẻ trứng quan sát ngoài vỏ quả và bên trong
ruột một số loại quả (Viện Bảo vệ thực vật, 2009-2013) 62
3.2. Tỷ lệ ruồi có trứng thành thục du nhập vườn quả đào
trong 3 năm tại xã Lóng Luông, Mộc Châu, Sơn La 66
3.3.
Ống đẻ trứng của con cái loài ruồi B. dorsalis
68
3.4. Buồng trứng con cái loài B. Dorsalis 69
3.5. Tinh hoàn con đực ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis 69
3.6. Số lượng trứng thu được tại các thời điểm thu trong ng
ày
(Viện Bảo vệ thực vật, 2012) 71
3.7. Nhịp điệu đẻ trứng của trưởng thành cái ruồi đục quả Phương
Đông B. dorsalis (Viện Bảo vệ thực vật, 2012-2013) 73
3.8. Tỷ lệ sống (lx) và sức sinh sản (mx) của ruồi đục quả
B. dorsalis (Viện Bảo vệ thực vật, 2012-2013) 77
3.9. Thời gian phát dục pha trứng của ruồi đục quả Phương
Đông B. dorsalis ở nhiệt độ khác nhau (Viện Bảo vệ thực
vật, 2013) 82
3.16.
Mùa chín của các loại quả là thức ăn của pha sâu non và
diễn biến số lượng trưởng thành ruồi đục quả Phương
Đông B. dorsalis vào bẫy dẫn dụ tại Mộc Châu (Sơn La) 100
3.17.
Số lượng trưởng thành ruồi đục quả Phương Đông B.
dorsalis vũ hoá từ một quả của các loại quả khác nhau
(Mộc Châu, Sơn La, 2012) 101
3.18.
Diễn biến số lượng trưởng thành ruồi đục quả thu được
trong bẫy dẫn dụ tại xã Lóng Luông và tiểu khu Cờ Đỏ
(Mộc Châu, 2010 - 2012) 103
3.19.
Diễn biến số lượng trung bình trong ba năm của trưởng
thành ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis vào bẫy dẫn
dụ tại xã Lóng Luông (Mộc Châu, 2010 - 2012) 104
3.20.
Diễn biến số lượng trung bình của trưởng thành ruồi đục
quả Phương Đông B. dorsalis vào bẫy tại tiểu khu Cờ Đỏ
(Mộc Châu, 2010 - 2012) 105
3.21.
Số lượng trung bình trưởng thành ruồi đục quả Phương
Đông B. dorsalis vào dẫn dụ tại các địa điểm nghiên cứu
(Mộc Châu, 2010 - 2012) 106
Tỷ lệ quả đào mèo bị hại tại các công thức thí nghiệm năm
2012 (Mộc Châu, Sơn La, 2012) 115
3.29.
Tỷ lệ số lượng ruồi trưởng thành đã vào bẫy dẫn dụ ở các
công thức thí nghiệm trong ba năm (Mộc Châu, Sơn La,
2010-2012) 116 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây ăn quả chiếm vị trí quan trọng trong đa dạng hoá sản phẩm nông
nghiệp. Với điều kiện khí hậu đa dạng, nước ta có điều kiện phát triển nhiều
chủng loại cây ăn quả. Nhiều loại quả trở thành thương hiệu cho các vùng
miền như vải thiều Lục Ngạn, cam sành Hà Giang, ổi Thanh Hà, đào Mộc
Châu, mận Tam hoa Sơn La, Đến nay đã có những sản phẩm quả tươi của
nước ta vươn được ra thị trường quốc tế như thanh long Bình thuận, Bưởi
Năm roi. Hàng năm việc xuất khẩu những loại quả này mang về nguồn ngoại
tệ không nhỏ cho đất nước. Tuy nhiên, để có sản phẩm quả tươi đủ sức cạnh
tranh trên thị trường thế giới, bên cạnh việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật thâm
canh để nâng cao năng suất và sản lượng, người sản xuất phải đối mặt với
những yêu cầu cao về chất lượng và sự an toàn của sản phẩm quả tươi. Để đạt
được những yêu cầu này đòi hỏi người sản xuất phải thực hiện tốt các giải
pháp quản lý dịch hại theo hướng tổng hợp.
Cây trồng nói chung và cây ăn quả nói riêng ở Việt Nam bị rất nhiều
bẫy bắt ruồi trưởng thành đực, phun thuốc BVTV, phun bả protein, thả ruồi
triệt sản, vệ sinh đồng ruộng, loại bỏ cây ký chủ, v.v…).
Ở nước ta, ruồi đục quả thuộc họ Tephritidae gây hại trên hầu hết
các loại cây ăn quả, gây tổn thất lớn cho người sản xuất. Một số loại quả
có lợi thế trong xuất khẩu của Việt Nam như bưởi, vú sữa, xoài, thanh
long cũng đều bị ruồi đục quả gây hại (Lê Đức Khánh và nnk., 2004;
Phạm Văn Lầm, 2013) [18] [23].
Huyện Mộc Châu (tỉnh Sơn La) thuộc khu vực miền núi phía Bắc của
Việt Nam, nơi đây có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ không khí có trị
số trung bình năm đạt khoảng 18,5
°
C; lượng mưa trung bình/năm là 1560
mm và độ ẩm không khí trung bình 85%. Mộc Châu có mùa đông lạnh khô
với nhiệt độ có thể xuống 2- 4
°
C. Khu vực này thích hợp cho phát triển
trồng những cây ăn quả ôn đới đặc sản như mận, hồng, đào. Đây là một lợi
3
thế so sánh mà nhiều tỉnh khác trong cả nước không có được. Cây đào mèo
tại Mộc Châu là một trong những cây đặc sản, là cây bản sắc văn hóa của
người dân tộc ít người H’Mông. Đào mèo là cây trồng xoá đói giảm nghèo,
đã góp phần giảm thiểu nguy cơ tái trồng cây thuốc phiện ở vùng Mộc
Châu. Tuy nhiên, khi phát triển cây đào mèo thành cây trồng hàng hóa thì
quả đào Mèo bị ruồi đục quả gây hại ngày càng gia tăng. Hàng năm, tỷ lệ
quả đào mèo bị ruồi đục quả gây hại khá cao, nếu không áp dụng biện pháp
phòng trừ thì tỷ lệ này có thể đạt 70 - 100% vào thời kỳ thu hoạch rộ (Lê
Đức Khánh và nnk., 2004) [18].
Thực tế, ruồi đục quả gây ra thiệt hại kinh tế rất lớn cho tất cả các loại
- Xác định được các đặc điểm cơ bản về hình thái và sinh vật học của
ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis (Hendel);
- Xác định được tình hình phát sinh và các yếu tố ảnh hưởng đến biến
động số lượng của quần thể ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis tại huyện
Mộc Châu, Sơn La;
- Đề xuất và áp dụng một số biện pháp phòng chống ruồi đục quả
Phương Đông B. dorsalis ở vùng trồng cây ăn quả ôn đới theo hướng tổng
hợp và thân thiện với môi trường.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài luận án đã cung cấp các dẫn liệu khoa học về thành phần loài
ruồi đục quả, cây ký chủ của chúng ở vùng nghiên cứu, các đặc điểm sinh vật
học, ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng phát triển, tác động của một số yếu
tố đến sự phát sinh, phát triển của loài ruồi đục quả Phương Đông Bactrocera
dorsalis và hiệu quả của biện pháp phòng chống giai đoạn trước thu hoạch đối
với loài côn trùng hại này ở điều kiện huyện Mộc Châu (Sơn La).
5
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề tài luận án đã đề xuất được các biện
pháp phòng chống ruồi đục quả Phương Đông theo hướng quản lý tổng hợp
đạt hiệu quả cao, thân thiện với môi trường ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn
La. Kết quả của đề tài đồng thời góp tài liệu làm cơ sở hoàn thiện quy trình
quản lý ruồi đục quả B. dorsalis gây hại trên các cây trồng khác ở nước ta
nói chung.
4. Đối tượng, phạm vi
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Ruồi đục quả họ Tephritidae và ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis
(Hendel).
Những hiểu biết về đặc điểm riêng về sinh vật học và sinh thái học của
từng loài ruồi đục quả là cơ sở khoa học chắc chắn để đề xuất biện pháp
phòng chống chúng một cách hiệu quả.
Sâu non (giòi) của các loài ruồi đục quả thuộc họ Tephritidae đều sinh
sống và gây hại ở bên trong quả của các loại thực vật. Do đó, việc nghiên cứu
diễn biến số lượng của quần thể ruồi đục quả chỉ có thể thông qua theo dõi
diến biến số lượng của pha trưởng thành vào các loại bẫy khác nhau.
Với tập tính sống ở bên trong các loại quả nên các biện pháp (kể cả
biện pháp hóa học) phòng trừ sâu non của ruồi đục quả thường không cho
hiệu quả cao. Để phòng trừ ruồi đục quả họ Tephritidae, hiện nay chủ yếu tập
trung sử dụng các biện pháp tiêu diệt pha trưởng thành. Các dẫn liệu khoa học
về diễn biến số lượng trưởng thành của ruồi đục quả họ Tephritidae hay ruồi
đục quả Phương Đông là căn cứ quan trọng để đề xuất thời điểm áp dụng các
biện pháp tiêu diệt pha trưởng thành của ruồi đục quả.
Sự phát sinh của ruồi đục quả nói chung và của loài ruồi đục quả
Phương Đông nói riêng ở trong các vườn quả khá phức tạp, tuỳ thuộc vào thời
7
gian trong năm và các yếu tố ngoại cảnh (điều kiện khí hậu, sự hiện diện của
các loại quả là thức ăn của pha sâu non,…). Mật độ quần thể của trưởng thành
ruồi đục quả Phương Đông thường biến động rất lớn. Số lượng trưởng thành
của loài này vào bẫy dẫn dụ đạt rất thấp trong những tháng mùa đông hay
những tháng có nhiệt độ cao và lượng mưa lớn. Ngược lại, số lượng trưởng
thành của chúng lại tăng cao trong những tháng có nhiệt độ từ 24°C đến 29°C
và vào mùa quả của các cây ký chủ (dẫn theo Muhammad, 2002) [61]. Những
hiểu biết về tình hình phát sinh phát triển của ruồi đục quả Phương Đông
trong các điều kiện sinh thái cụ thể sẽ là cơ sở khoa học để xây dựng biện
pháp phòng chống loài côn trùng hại này một cách hiệu quả và bền vững.
Trên đây là những cơ sở khoa học để triển khai các nội dung nghiên
các loài trong giống này thuộc nhóm kiểm dịch thực vật của nhiều nước ở trên
thế giới (Roger Vargas
et al.
, 2012) [95].
Loài ruồi đục quả Phương Đông nằm trong giống Bactrocera, thuộc
nhóm loài B. dorsalis. Loài ruồi đục quả này xuất hiện ở California, Florida
vào năm 1987 và đã bị tiêu diệt, nhưng đến 1989 nó lại xuất hiện trở lại. Loài
ruồi đục quả này chưa ghi nhận có ở khu vực châu Âu. Tại châu Á, loài ruồi
đục quả Phương Đông đã ghi nhận có ở Đài Loan từ năm 1912. Từ đó đến
nay, loài ruồi đục quả Phương Đông đã mở rộng phân bố tới nhiều nước khác
nhau thuộc châu Á và Thái Bình Dương như Ấn Độ, Paskistan, Nepan, Việt
Nam, Lào, Thái Lan,…(dẫn theo Xuanwu Wan
et al.
, 2011) [84].
1.2.1.3. Ý nghĩa kinh tế của ruồi đục quả
Ở giai đoạn trước thu hoạch, tỉ lệ hại của loài ruồi đục quả Carpomya
vesuviana Costa trên quả táo đạt từ 10,4 % đến 47%. Loài ruồi đục quả Địa
Trung Hải gây ra tỉ lệ quả bị hại là 20-25% trên cây cam quýt, 91% trên cây đào,
55% trên cây mơ và 15% cho cây mận ở Jordan (Allwood và Leblanc, 1996)
[34]. Một số ít các loài ruồi đục quả gây hại ngay khi quả vừa mới hình thành.
9
Ruồi đục quả Phương Đông là một trong những loài gây hại nghiêm trọng cho
nhiều loại quả của nhiều nhóm cây trồng, nhưng ít gặp gây hại quả của các cây
họ bầu bí. Theo Waterhouse (1993) [97], loài ruồi đục quả này được xếp là một
trong năm loài ruồi đục quả quan trọng ở khu vực Đông Nam Á.
Giai đoạn sau thu hoạch, ruồi đục quả thuộc nhóm đối tượng kiểm dịch
thực vật của nhiều nước ở trên thế giới. Ruồi đục quả làm cản trở hoạt động
xuất nhập khẩu rau quả do luật kiểm dịch thực vật của nhiều nước cấm nhập
10 ngày và tuổi thọ trưởng thành kéo dài 1- 2 tháng (Christenson và Foote,
1960) [39]. Thời gian hoàn thành vòng đời có sự khác nhau giữa các loài và
trung bình là 19 - 33 ngày (Allwood và Ema, 2003) [36].
Loài ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis có thời gian phát triển
trứng là 1 - 20 ngày, thời gian sâu non kéo dài 9 - 35 ngày, thời gian nhộng là
10 - 30 ngày. Tuổi thọ của pha trưởng thành kéo dài 1 - 3 tháng (dẫn theo Ian
và Marlene, 1992) [52]. Khi nuôi bằng thức ăn với thành phần có củ cà rốt,
thời gian bắt đầu thu trứng đến bắt đầu trứng nở kéo dài 30 - 32 giờ, sâu non
tuổi 1 xuất hiện rộ vào giờ thứ 40 - 41, sâu non tuổi 2 xuất hiện rộ vào gìờ thứ
76 - 84, sâu non tuổi 3 xuất hiện rộ vào giờ thứ 104 - 120. Thời gian của pha
nhộng kéo dài trung bình 7,5 ngày (Manoto và Tuazon, 1992-1993) [60].
1.2.2.3. Khả năng sinh sản
Tuỳ loài ruồi đục quả, số lượng trứng do một trưởng thành cái đẻ được
rất khác nhau. Ví dụ, một trưởng thành cái loài Anastrepha fraterculus đẻ
được 200 - 400 trứng và một trưởng thành cái loài Bactrocera oleae chỉ đẻ
được 200 - 250 trứng (Christenson và Foote, 1960) [39]. Ở điều kiện phòng
thí nghiệm, một trưởng thành cái ruồi đục quả Phương Đông đẻ trung bình
được 10 trứng/ngày. Trong thời gian sống, một trưởng thành cái ruồi đục quả
Phương Đông có thể đẻ được khoảng 1236 trứng.
Theo tài liệu tổng hợp kết quả nghiên cứu đã công bố của các tác giả
Pablo Liedo và James (1996) [73], nuôi trong điều kiện phòng thí nghiệm,
11
ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis có tỷ lệ tăng thực tự nhiên là 0,14; hệ
số nhân của một thế hệ là 712; thời gian một thế hệ kéo dài 50 ngày và thời
gian tăng đôi quần thể là 4,3 ngày. Roger Vargas
et al.
(1997) [80] ghi nhận
loài ruồi đục quả Phương Đông có hệ số nhân là 560,2; tỷ lệ tăng thực tự
nhiên là 0,140; thời gian một thế hệ kéo dài 77,4 ngày và thời gian tăng đôi số
quả. Các tác giả nghiên cứu đầu tiên về chất dẫn dụ ruồi đục quả là Beroza và
Green (1963) [38], Steiner (1952), Jacobson
et al.
(1971) [65], Những tác
giả này đã chỉ ra sức hấp dẫn ruồi đục quả của các chất như Kairomone và
Allomone thực vật, Parapheromone, Pheromone, mùi vị thức ăn. Có 3 nhóm
parapheromone chuyên tính gồm Parapheromone trimedlure (viết tắt là TML)
dẫn dụ các loài ruồi đục quả Địa Trung Hải; nhóm parapheromone methyl
eugenol (viết tắt là ME) hấp dẫn các loài ruồi đục quả thuộc phân giống
Bactrocera; nhóm parapheromone cuelure eugenol (viết tắt là CuE) dẫn dụ
các loài ruồi đục quả thuộc phân giống Zeugodacus (Clarke
et al.
, 2005) [87].
Con đực của 70 loài ruồi đục quả trong nhóm loài B. dorsalis bị hấp dẫn bởi
bẫy bả chứa cue eugenol; 20 loài ruồi đục quả bị hấp dẫn bởi methyl eugenol
và chỉ có 13 loài ruồi đục quả không bị hấp dẫn bởi hai chất trên (Keng-Hong
Tan, 2003) [55]. Chất dẫn dụ thường sử dụng đối với loài ruồi đục quả
Phương Đông B. dorsalis là methyl eugenol (ME) (1-2-dimethoxy-4-
allylbenzene) dưới dạng dụng dịch hoặc dạng keo (gel).
1.2.3. Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của ruồi đục quả
1.2.3.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ
Nhiệt độ có ảnh hưởng đến tất cả các chỉ tiêu phát triển của ruồi đục
quả Phương Đông B. dorsalis. Thời gian phát triển các pha trứng, sâu non,
nhộng của loài ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis nuôi ở nhiệt độ 30
°
C
chỉ bằng một nửa so với khi nuôi ở nhiệt độ 20
°
C (Liu et al., 1985) [91].
Số lượng trứng do trưởng thành cái đẻ được cũng rất khác nhau khi
nuôi ở các mức nhiệt độ khác nhau. Trưởng thành cái loài ruồi B. dorsalis khi
được nuôi ở nhiệt độ 16
o
C đã đẻ được 40,8 trứng; 690,6 trứng ở nhiệt độ
18
°
C; 1512 trứng ở nhiệt độ 24
°
C; 602,8 trứng ở nhiệt độ 29
°
C và ở nhiệt độ
32
°
C đã đẻ được 77,9 trứng (Roger Vargas
et al.
, 1997) [80].
Tỷ lệ sống sót ở các giai đoạn phát triển của loài ruồi B. dorsalis khi
nuôi ở các mức nhiệt độ khác nhau cũng rất khác nhau. Thí dụ, ở các mức
nhiệt độ 16
°
C, 18
°
C, 24
°
C, 29
°
C và 32
°
C, trứng của ruồi đục quả Phương
19%). Trong khi đó, sâu non được nuôi trên dứa có thời gian phát triển ngắn
hơn và chỉ là 8,9 ngày với tỷ lệ chết cao hơn, đạt tới 70%.
Thức ăn nuôi sâu non khác nhau còn ảnh hưởng đến tỷ lệ giới tính của
trưởng thành. Kamala Jayanthi (2002) [54] đã nuôi sâu non ruồi đục quả
Phương Đông B. dorsalis bằng quả chuối giống Robuta, giống Elakki, quả ổi,
quả xoài và quả đu đủ ở nhiệt độ 28°C ± 1. Kết quả thí nghiệm này cho thấy
khi nuôi sâu non bằng quả xoài có tỷ lệ đực : cái ở pha trưởng thành đạt cao
nhất và là 1:1,7. Tỷ lệ này đạt cao thứ hai khi thức ăn là quả ổi (với tỷ lệ đực:
cái là 1,09: 1). Nuôi sâu non bằng quả đu đủ và quả chuối giống Robuta,
chuối giống Elakki tỷ lệ đực : cái đạt thấp nhất, tương ứng là 1:1; 1:0,92 và
1:1,09. Khi nuôi bằng thức ăn dạng dung dịch có thành phần chính protein,
bột đậu tương, đạm đậu tương đã ghi nhận tỷ lệ đực : cái ở mức tương đương
nhau (Mahfuza Khan
et al.
, 2011) [58].