Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học chủ yếu của loài ruồi đục quả phương đôngđông Bactrocera dorsalis Hendel hại cây ăn quả và biện pháp phòng chống theo hướng tổng hợp ở Mộc Châu, Sơn La (tóm tắt + toàn văn) - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
****** NGUYỄN THỊ THANH HIỀN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC
CHỦ YẾU CỦA LOÀI RUỒI ĐỤC QUẢ PHƯƠNG ĐÔNG
Bactrocera dorsalis Hendel HẠI CÂY ĂN QUẢ VÀ BIỆN PHÁP
PHÒNG CHỐNG THEO HƯỚNG TỔNG HỢP
Ở MỘC CHÂU, SƠN LA
Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số : 62.62.01.12 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện họp
tại Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu luận án tại thư Viện:
1. Thư Viện Quốc gia
2. Thư Viện Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
3. Thư Viện Bảo vệ thực vật

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ruồi đục quả Phương Đông Bactrocera dorsalis Hendel là một dịch hại nguy
hiểm đối với cây ăn quả vì sâu non sinh sống và gây hại trong quả. Ngoài tác hại trực
tiếp, ruồi đục quả Phương Đông còn là đối tượng kiểm dịch thực vật của nhiều nước
nhập khẩu sản phẩm quả tươi từ Việt Nam. Để phòng trừ ruồi đục quả nói chung và
ruồi đục quả Phương Đông nói riêng hiện nay chủ yếu dựa vào bẫy diệt trưởng thành
đực và thuốc hoá học, nhưng hiệu quả phòng trừ không cao. Các kết quả nghiên cứu
về ruồi đục quả Phương Đông đã có chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất cây ăn
quả. Việc quản lý ruồi đục quả Phương Đông đang là cấp bách cho sản xuất nông
nghiệp và là thách thức cho hoạt động xuất khẩu quả tươi của Việt Nam.
Xuất phát từ tình hình trên, luận án đã được thực hiện với tên đề tài là “Nghiên
cứu đặc điểm sinh học, sinh thái chủ yếu của loài ruồi đục quả Phương Đông
Bactrocera dorsalis Hendel hại cây ăn quả và biện pháp phòng chống theo hướng
tổng hợp ở Mộc Châu, Sơn La”
2. Mục đích nghiên cứu


- Dựa trên kết quả nghiên cứu của luận án bước đầu đề xuất giải pháp phòng
chống ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis theo hướng tổng hợp trên diện rộng ở
vùng Mộc Châu (Sơn La).
6. Cấu trúc luận án
Luận án có 120 trang, gồm phần mở đầu, phần nội dung (3 chương), kết luận và
đề nghị với 20 bảng số liệu, 30 hình. Đã tham khảo 93 tài liệu, trong đó có 34 tài liệu
tiếng Việt, 59 tài liệu tiếng Anh .
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Ruồi đục quả họ Tephritidae có thành phần loài khá phong phú và có phổ ký chủ rất đa
dạng thuộc các họ thực vật khác nhau (Ian và Marlene, 1992). Tuy nhiên, thành phần loài ruồi
đục quả thuộc họ Tephritidae ở các vùng sinh thái khác nhau rất không giống nhau, thay đổi
chủ yếu phụ thuộc vào thành phần loài thực vật là cây ký chủ của chúng.
Sâu non (giòi) của các loài ruồi đục quả thuộc họ Tephritidae đều sinh sống và
gây hại ở bên trong quả của các loại thực vật. Do đó, việc nghiên cứu diễn biến số
lượng của quần thể ruồi đục quả chỉ có thể thông qua theo dõi diến biến số lượng của
pha trưởng thành vào các loại bẫy khác nhau.
Với tập tính sống ở bên trong các loại quả nên các biện pháp (kể cả biện pháp hóa
học) phòng trừ sâu non của ruồi đục quả thường không cho hiệu quả cao. Các dẫn liệu
khoa học về diễn biến số lượng trưởng thành của ruồi đục quả là căn cứ quan trọng để đề
xuất thời điểm áp dụng các biện pháp tiêu diệt pha trưởng thành của ruồi đục quả.
Sự phát sinh của ruồi đục quả trong các điều kiện sinh thái cụ thể sẽ là cơ sở
khoa học để xây dựng biện pháp phòng chống loài côn trùng hại này một cách hiệu
quả và bền vững.
1.2. Những nghiên cứu ở ngoài nước về ruồi đục quả
1.2.1. Thành phần loài, sự phân bố và ý nghĩa kinh tế của ruồi đục quả
Ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis được ghi nhận có mặt ở Đài Loan từ
năm 1912. Từ đó đến nay loài này đã mở rộng phân bố tới nhiều vùng khác nhau
thuộc khu vực châu Á và Thái Bình Dương như Ấn Độ, Paskistan, Nepan, Việt Nam,

C chỉ bằng một nửa so với nuôi ở nhiệt độ 20
°
C (Liu et al.,
1985). Thời gian trước đẻ trứng của loài B. dorsalis là 30,4 ngày khi nuôi ở nhiệt độ
19°C, nhưng lại ngắn hơn gần một nửa (17,4 ngày) khi nuôi ở 36°C (Yang et al., 1994).
Ruồi đục quả Phương Đông có thời gian vòng đời là 102 ngày ở nhiệt độ 20
°
C, là 38
ngày ở 30
°
C và là 77 ngày khi nuôi ở nhiệt độ 25
°
C (Liu et al., 1985). Ở các mức nhiệt
độ 16
°
C, 18
°
C, 24
°
C, 29
°
C và 32
°
C thời gian vòng đời của loài B. dorsalis tương ứng là
133,2; 77,4; 45,1; 33,4 và 28,1 ngày. Sức đẻ trứng rất khác nhau khi nuôi ở các nhiệt độ
khác nhau. Một trưởng thành cái đẻ 40,8 trứng khi nuôi ở nhiệt độ 16
o
C, đẻ 690,6 trứng
ở nhiệt độ 18
°

1.2.4. Biện pháp phòng chống ruồi đục quả
Biện pháp kiểm dịch thực vật: dùng hoá chất fenthion và dimethoate, xông hơi
bằng thuốc Methyl bromide, Ethylen dibromide, chiếu xạ quả, xử lý nhiệt lạnh, xử lý
nhiệt nóng, biện pháp nước nóng, biện pháp hơi nước nóng, biện pháp khí nóng .

4

Biện pháp canh tác được áp dụng như thời vụ, vệ sinh đồng ruộng và thu hoạch
quả sớm (Allwood, 1996; Khandelwal và Nath, 1978; Susanto và Tati, 1971;
Vijayseganran,1996).
Biện pháp thủ công vật lý như bao gói quả, bẫy dẫn dụ, bẫy thức ăn (Drew và
Romig, 2010; Pinero et al., 2010; Vickers,1996).
Biện pháp triệt sản xử lý nhộng ruồi đục quả Phương Đông bằng Côban 60,
Ce-si-um 137 (Obra và Resilva, 2011; Orankanok et al., 2011).
Biện pháp sinh học như sử dụng ong ký sinh và được thực hiện thành công ở
Hawaii và Fiji (Perter, 1996; Waterhouse, 1993; Clause et al., 1965).
Biện pháp hóa học: phun thuốc hoá học phủ toàn bộ tán cây, ruồi đục quả bị
trúng thuốc sẽ chết (Drew, 2010).
Phòng chống tổng hợp trên diện rộng: Biện pháp này hạn chế được quần thể
ruồi đục quả Phương Đông xâm nhập gây hại các vùng sản xuất thương mại từ các
cây ký chủ trồng xen, các vườn bỏ hoang không được phòng trừ hoặc các vườn gia
đình. Hiệu quả của biện pháp khá ổn định.
1.2. Nghiên cứu ở trong nước
1.2.1. Nghiên cứu thành phần loài, phân bố và ý nghĩa kinh tế của ruồi đục quả
Loài B. dorsalis xuất hiện ở tất cả các vùng điều tra. Nghiên cứu về vấn đề này có
Viện Bảo vệ thực vật (1967-1968, 1997-1998), Drew và nnk. (2001), Lê Đức Khánh và
nnk. (2008), Lê Đức Khánh và nnk. (2010), Đặng Xuân Kỳ và nnk. (2008), Lê Thị Điểu
và Nguyễn Văn Huỳnh (2009), Nguyễn Thị Thanh Hiền và nnk. (2011, 2012).
Nghiên cứu thành phần loài ruồi chi tiết được thực hiện tại tỉnh Long An (Lê
Thị Điểu và Nguyễn Văn Huỳnh, 2009), tỉnh Tiền Giang (Viện Nghiên cứu cây ăn

sinh vật học, sinh thái học của ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis.
CHƯƠNG 2. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
2.2. Thời gian nghiên cứu
Các nội dung nghiên cứu được thực hiện từ 2009-2013
2.2.Vật liệu nghiên cứu và dụng cụ thí nghiệm
Ruồi đục quả Phương Đông, các cây ăn quả phổ biến và các dụng cụ thu bắt và
nuôi côn trùng,
2.3. Nội dung nghiên cứu
- Xác định thành phần loài và tác hại của ruồi đục quả ở một số tỉnh miền Bắc.
- Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của ruồi đục quả Phương Đông.
- Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của ruồi đục quả Phương Đông.
- Nghiên cứu biện pháp quản lý ruồi đục quả Phương Đông theo hướng tổng hợp
trên diện rộng tại Mộc Châu (Sơn La).
2. 4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu thành phần loài và tác hại của ruồi đục quả ở một số tỉnh
miền Bắc, Việt Nam theo Drew và nnk. (2001). Phân loại mẫu ruồi đục quả theo các
tài liệu White và Harris (1992); Lawson et al.(2003).
Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của ruồi đục quả Phương Đông theo phương pháp
của Walker et al.(1996), Vargas et al., (1997) và Nguyễn Văn Đĩnh 1994).
Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học diễn biến số lượng và các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng
ruồi đục quả Phương Đông theo phương pháp của Drew và nnk. (2001), Walker et al. (1996),
Vargas et al., (1997) và Nguyễn Văn Đĩnh (1994).
Các thí nghiệm đồng ruộng về biện pháp phòng chống ruồi đục quả Phương Đông
được bố trí theo ô lớn không nhắc lại. Các thí nghiệm trong phòng nghiên cứu được
bố trí hoàn toàn ngẫn nhiên, nhắc lại 3-4 lần.
Thí nghiệm phòng chống ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis hại quả đảo mèo
theo hướng tổng hợp trên diện rộng có đối chứng là vườn của nông dân.
2.5. Phương pháp tính toán số liệu

ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis có số lượng loại quả (với 20 loại) là thức ăn
nhiều nhất.
3.1.4. Tác hại của ruồi đục quả
Thời gian ruồi đục quả gây hại cho các loại quả kéo dài từ tháng 3 đến tận tháng
11. Giai đoạn quả bị các loài ruồi đục quả tấn công có khác nhau giữa các loại quả. Quả
của các cây ăn quả thường bị ruồi đục quả tấn công vào giai đoạn chín sinh lý. Quả của
các loại rau ăn quả bị hại sớm hơn, từ khi quả mới đậu và kéo dài trong suốt quá trình
quả phát triển. Nhìn chung, các loài ruồi đục quả gây hại cho quả của các cây ăn quả
nặng hơn. Thí dụ, quả đào Mèo bị hại tới 63,2%, quả gioi bị hại 44,1%, quả hồng bị hại
36,8%,… Trong khi đó, quả của các cây rau ăn quả bị hại nhẹ hơn: quả mướp đắng bị
hại nặng nhất cũng chỉ tới 42%. Loài ruồi đục quả Phương Đông gây hại quả của các cây
ăn quả họ hoa hồng (Rosasae), họ sim (Myrtaceae), họ thị (Ebenaceae), họ bầu Bí
(Cucurbitaceae) và họ đào lộn hột (Anacardiaceae). Trong những quả của cây họ hoa
hồng thì quả đào Mèo bị hại nặng nhất
3.2. Đặc điểm sinh vật học của ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis
3.2.1. Tập tính sinh sống của loài B. dorsalis
Ruồi trưởng thành đẻ trứng vào sâu trong phần thịt dưới vỏ quả. Trứng nở thành
sâu non và sâu non sống trong quả, ăn và phá hoại phần thịt quả, làm quả bị thối, ủng và
rụng. Khi sâu non đẫy sức di chuyển khỏi quả và rơi xuống đất để chuyển sang giai đoạn
nhộng. Nhộng ở trong lớp đất mặt với độ sâu 2-3 cm.
3.2.2. Thời gian phát dục các pha và vòng đời
Trong điều kiện nhiệt độ 28
°
C và ẩm độ 75%, thức ăn là quả đào Mèo ruồi đục
quả Phương Đông có thời gian phát dục pha trứng kéo dài 1,98 ± 0,04 ngày, sâu non là
6,48 ± 0,04 ngày, nhộng 9,28 ± 0,09 ngày, thời gian trước đẻ trứng là 14,79 ± 0,04 ngày.
Vòng đời kéo dài 32,53 ± 0,06 ngày. Tuổi thọ của trưởng thành đực là 120 ± 3,8 ngày,
của trưởng thành cái là 140 ± 10,6 ngày (bảng 3.4).

7

20
40
60
80
100
120
Số trứng (quả)
9-12 giờ 13-16 giờ 16-19 giờ
Thời gian thu trứng trong ngày

Hình 3.6. Số lượng trứng thu được tại các thời điểm thu trong ngày (Viện Bảo vệ thực vật, 2012)
Ghi chú: Nhiệt độ = 26-28
°
C; ẩm độ = 60-80%; n = 50
3.2.3.5. Sức đẻ trứng và nhịp điệu đẻ trứng
Thí nghiệm thực hiện từ tháng 7 năm 2012 đến tháng 1 năm 2013. Các trưởng
thành được tách ra và ghép cặp ngay sau khi vừa vũ hoá. Kết quả cho thấy một
trưởng thành cái có thể đẻ trung bình 6,68 trứng mỗi ngày. Số lượng trứng do một
trưởng thành cái đẻ được biến động rất lớn, nhiều nhất được tới 1.298 trứng, đẻ ít
nhất là 574 trứng. Trung bình mỗi trưởng thành cái đẻ được 949,73 trứng. (bảng 3.7)
Bảng 3.7. Thời gian đẻ trứng và sức đẻ trứng của trưởng thành ruồi đục quả Phương
Đông B. dorsalis (Viện Bảo vệ thực vật, 2012-2013)
Chỉ tiêu theo dõi Phạm vi biến động Trung bình
Thời gian đẻ trứng của con cái (ngày) 57 - 96 81,32 ± 2,8
Số trứng đẻ/con cái/ngày 1- 46 6,68 ± 0,14
Tổng số trứng/cái 574-1298 949,7 ± 38,84
Ghi chú : Nhiệt độ 26± 28
°
C ; Ẩm độ 60-80% ; Thức ăn nuôi sâu non là đào mèo


Ghi chú : Nhiệt độ 26± 28
°
C ; Ẩm độ 60-80% ; Thức ăn nuôi sâu non là quả đào Mèo
3.2.4. Nhiệt độ khởi điểm phát dục, số lứa trong năm
Đã nuôi ruồi đục quả Phương Đông ở hai mức nhiệt độ 23
°
C và 28
°
C, ẩm độ
75% với thức ăn cho sâu non có thành phần quả đào Mèo. Dựa trên kết quả thời gian
vòng đời ở hai điều kiện thí nghiệm này đã tính được ngưỡng nhiệt độ khởi điểm phát
dục của ruồi đục quả Phương Đông là 10,2
°
C. Tổng tích ôn hữu hiệu để loài ruồi đục quả
Phương Đông hoàn thành một thế hệ là 589,67 độ/ngày. Số lứa lý thuyết của ruồi đục
quả Phương Đông B. dorsalis ở điều kiện tự nhiên tại Mộc Châu các năm 2010, 2011 và
2012 tương ứng là 6,0; 4,7 và 4,6 lứa.
Nuôi trong điều kiện phòng thí nghiệm ở nhiệt độ 26 ± 2
°
C, ẩm độ 60 - 80% với
thức ăn cho sâu non là quả đào Mèo. Kết quả cho thấy ruồi đục quả Phương Đông có
tỷ lệ sống cao, thời gian sống dài và sức sinh sản khá cao (hình 3.8).
0
0.2
0.4
0.6
0.8
1
1.2
1 11 21 31 41 51 61 71 81 91 101 111 121 131 141

1,135, nghĩa là cứ sau 1 ngày đêm trôi qua số lượng cá thể trong quần thể tăng lên
1,135 lần (bảng 3.10).
Bảng 3 10. Một số chỉ tiêu sinh học cơ bản của ruồi đục quả Phương Đông
(Viện Bảo vệ thực vật, 2012-2013)
Chỉ tiêu theo dõi
Gía trị
Hệ số nhân của một thế hệ R
o
(♀/thế hệ) 325,65
Thời gian một thế hệ tính theo đời con T(ngày) 45,65
Thời gian một thế hệ tính theo đời mẹ T
c
(ngày) 73,59
Thời gian tăng đôi số lượng cá thể trong quần thể DT (ngày) 5,63
Tỷ lệ tăng tự nhiên r (/ngày) 0,123
Giới hạn tăng tự nhiên λ (/ngày)
1,131
Ghi chú: Nhiệt độ 26 ± 2
°
C; ẩm độ 60 - 80%, chiếu sáng 10 giờ/ngày; thức ăn sâu non là
quả đào Mèo
3.2.6. Ký chủ của loài ruồi đục quả B. dorsalis
Trong ba năm nghiên cứu (2010-2012) đã thu được 1.682 mẫu quả có triệu chứng
hại do ruồi đục quả gây ra. Các quả này của các loại cây ăn quả, cây rau ăn quả, cây dại. Kết
quả đã ghi nhận được 20 loại quả là thức ăn của sâu non ruồi đục quả Phương Đông. Đó là
các quả vải, nhãn, bưởi, khế, sung, xoài, đu đủ, đào mèo, đào nhập nội, mơ, mận, hồng
xiêm, na, ổi, gioi, hồng, táo,… Đây là những ghi nhận đầu tiên về thành phần cây ký chủ
của loài B. dorsalis tại Mộc Châu.
3.3. Đặc điểm sinh thái học của ruồi đục quả Phương Đông
3.3.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến các pha phát triển trong phòng thí nghiệm

10.00
20.00
30.00
40.00
50.00
60.00
70.00
Thời gian phát
triển (ngày)
23°C 28°C
Điều kiện nhiệt độ
Trước đẻ trứng
Vòng đời

Hình 3.10. Thời gian phát dục pha sâu non và
nhộng của ruồi đục quả Phương Đông B.
dorsalis ở nhiệt độ khác nhau (Viện Bảo vệ
thực vật, 2013)

Hình 3.11. Thời gian trước đẻ trứng và
vòng đời của ruồi đục quả Phương Đông B.
dorsalis ở nhiệt độ nuôi khác nhau (Viện
Bảo vệ thực vật, 2013)3.3.2. Ảnh hưởng của thức ăn nuôi sâu non
3.3.2.1. Thức ăn của pha sâu non và thời gian phát dục các pha, vòng đời
Tiến hành thí nghiệm nuôi sâu non bằng các thức ăn khác nhau: quả đào Mèo
(Prunus persica L.), quả xoài (Mangifera indica L.), quả ổi (Psidium guajava L.), quả
đu đủ (Carica papaya L.) và củ cà rốt (Daucus carota subsp. sativus). Công thức nuôi

nhất chỉ với 11,84 ngày. Chỉ tiêu này khi nuôi bằng quả đu đủ, quả xoài, quả đào, quả ổi
tương ứng kéo dài 12,23 ngày; 12,33 ngày; 13,67 ngày và 15,30 ngày (bảng 3.12). Kết
quả nuôi bằng củ cà rốt ở đây tương tự với 11,5 ngày trong kết quả của Dương Minh Tú
và nnk. (2001), nhưng lại kéo dài ngày hơn so với 7 - 8 ngày trong kết quả của Nguyễn
Hữu Đạt và Bùi Công Hiển (2004), Manoto và Tuazon (1992).
Bảng 3.12. Thời gian phát triển các pha phát dục của ruồi đục quả Phương Đông nuôi
bằng thức ăn khác nhau (Viện Bảo vệ thực vật, 2012-2013 )
Loại
thức ăn
Thời gian phát dục các pha (ngày)
Vòng đời
(ngày)
Trứng Sâu non Nhộng
Trước đẻ
trứng
Quả đào 3,76 c 11,26 d 13,67 b 17,46 d

46,15 d
Quả đu đủ 2,38 a 9,62 b 12,23 a 15,19 b 39,43 b
Củ cà rốt 1,84 a 9,04 a 11,84 a 14,00 a 36,73 a
Quả xoài 2,49 a 9,83 b

12,33 a 13,85 a 38,51 b
Quả ổi 2,59 b 10,66 c 15,30 c 16,2 c 44,75 c
LSD
0,05
0,71 0,37 0,68 0,47 1,24
CV (%) 1,5 2 2,9 1,7 1,7
Ghi chú: Trong cùng một cột, các giá trị có cùng chữ cái không khác nhau với mức ý nghĩa 5%;
Nhiệt độ =23

Tỷ lệ (%) trưởng thành đẻ trứng
Cao nhất Thấp nhất Trung bình
Đào 88,33 80,00 83,89 ± 2.42 a
Đu đủ 90,00 76,67 83,33 ± 3.85 a
Cà rốt 88,33 80,00 84,44 ± 2.42 a
Xoài 86,67 75,00 78,33± 4.19 a
Ổi 85,00 80,00 83,33± 1.67 a
LSD
0,05
= 0,13 CV (%) = 6,1
Ghi chú: Trong cùng một cột, các giá trị có cùng chữ cái không khác nhau có ý nghĩa ở mức α
= 0,05; Các giá trị phần trăm được chuyển đổi bằng hàm arsin để xử lý thống kê; Điều kiện thí
nghiệm: Nhiệt độ = 23
°
C; Ẩm độ = 75%; n = 60
Trưởng thành cái từ sâu non được nuôi bằng củ cà rốt và quả ổi có sức đẻ trứng cao
hơn hẳn (tương ứng là 67,2 và 64,38 trứng/cái). Sức đẻ trứng của trưởng thành cái từ sâu
non nuôi bằng quả xoài và quả đu đủ đạt thấp hơn (tương ứng 52,3 và 52,04 trứng/cái).
Trưởng thành cái từ sâu non nuôi bằng quả đào mèo có sức đẻ trứng thấp nhất, trung bình
chỉ là 48,08 trứng/cái (bảng 3.14)
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của thức ăn nuôi sâu non đến sức đẻ trứng của trưởng thành cái ruồi
đục quả Phương Đông(Viện Bảo vệ thực vật, 2012- 2013)
Loại thức ăn
nuôi sâu non
Sức đẻ trứng của trưởng thành cái (trứng/ ♀) (*)
Phạm vi biến động Trung bình
Đào 46,2 - 50,4 48,08 ± 1,25 a
Đu đủ 49,6 - 55,3 52,04 ± 1,68 a
Cà rốt 63,1 - 70,1 67,20 ± 2,19 b
Xoài 49,6 - 56,0 52,30 ± 1,92 a

13
3.3.2.3. Thức ăn nuôi sâu non và khối lượng nhộng
Nhộng ruồi đục quả Phương Đông thu từ công thức nuôi sâu non bằng củ cà rốt,
quả ổi, quả đu đủ, quả xoài tương ứng đạt 18,3; 16,1; 14,8 và 15,9 mg. Chỉ tiêu này đạt
thấp nhất ở công thức nuôi bằng quả đào mèo, chỉ nặng 13,4 mg. Sự sai khác giữa các
công thức thí nghiệm ở mức có ý nghĩa thống kê (P <0,05) (bảng 3.15)
Bảng 3.15. Khối lượng nhộng ruồi đục quả Phương Đông khi nuôi sâu non bằng các
loại thức ăn khác nhau (Viện Bảo vệ thực vật, 2012- 2013)
Loại thức ăn
nuôi sâu non
Khối lượng nhộng
Khối lượng 100 nhộng (gram) Khối lượng 1 nhộng (mg)
Đào 1,34 ± 0,0007 d 13,4
Đu đủ 1,48 ± 0,0004 c 14,8
Cà rốt 1,83 ± 0,0123 a 18,3
Xoài 1,59 ± 0,0002 bc 15,9
Ổi 1,61 ± 1,11 b 16,1
LSD
0,05
= 0,11; CV (%) = 4,0
Ghi chú: Trong cùng một cột, các giá trị với cùng chữ cái không khác nhau có ý
nghĩa ở mức α= 0,05; Điều kiện thí nghiệm: nhiệt độ 23
°
C và 75% ẩm độ;
3.3.2.4. Thức ăn nuôi sâu non và khả năng hoàn thành phát triển các pha
Tỷ lệ nở trứng nở cao nhất khi nuôi sâu non bằng củ cà rốt (88,9%), tiếp đến là
nuôi bằng quả đào mèo (81,11% ), quả đu đủ và quả ổi (72,22%) và thấp nhất là nuôi
bằng quả xoài (68,89%). Tỷ lệ sâu non vào nhộng cao nhất khi nuôi bằng củ cà rốt
(87,78%). Chỉ tiêu này là 82,22% khi nuôi sâu non bằng quả đu đủ, là 80% khi nuôi
sâu non bằng quả đào Mèo, chỉ đạt 66- 70% khi nuôi bằng quả xoài và quả ổi. Tỷ lệ

5%; Các giá trị phần trăm được chuyển đổi bằng hàm arsin để xử lý thống kê; Điều kiện thí
nghiệm: 23
°
C và 75% ẩm độ; n = 30
3.3.2. Sự phát sinh và những yếu tố ảnh hưởng tới sự phát sinh phát triển của
ruồi đục quả Phương Đông ở vùng Mộc Châu (Sơn La)

14
3.3.2.1. Thời gian phát sinh và diễn biến số lượng trưởng thành ruồi đục quả Phương
Đông vào bẫy dẫn dụ
Ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis ở Mộc Châu (Sơn La) không bắt gặp
vào bẫy dẫn dụ từ tháng 1 đến hết tháng 3 hàng năm. Trưởng thành loài này thường
bắt đầu xuất hiện rải rác từ hạ tuần tháng 4 đến đầu tháng 5. Từ giữa tháng 5 số lượng
trưởng thành ruồi vào bẫy dẫn dụ gia tăng nhanh và đạt đỉnh cao số lượng vào cuối
tháng 6 đến tuần đầu tháng 7. Từ tuần thứ hai tháng 7 đến tháng 8 trở đi, số lượng
trưởng thành ruồi vào bẫy dẫn dụ giảm, đến tháng 11-12 hầu như không thấy trưởng
thành ruồi vào bẫy.
0
10
20
30
40
50
60
T
1
T

3
T

1
T

1
T

3
T

5
T

7
T

9
T

1
1
Tháng
Số ruồi
(con/bẫy)

Hình 3.15. Biến động số lượng trưởng thành ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis
vào bẫy dẫn dụ tại Mộc Châu, (Sơn La)năm 2010, 2011, 2012)
Quy luật phát sinh phát triển này hoàn toàn phù hợp với những kết quả nghiên
cứu sinh vật học của ruồi đục quả Phương Đông. Như vậy, tại Mộc Châu (Sơn La),
lứa đầu tiên trong năm của ruồi đục quả Phương Đông xuất hiện vào hạ tuần tháng 4.
Do trưởng thành ruồi đục quả Phương Đông có tuổi thọ và thời gian đẻ trứng kéo dài

vào bẫy lần
đầu tiên
I II III
Nhiệt
độ (°C)
Ẩm độ
(%)
Nhiệt độ
(°C)
Ẩm độ
(%)
Nhiệt độ
(°C)
Ẩm độ
(%)
2010 16,7 81,6
19,2
83,3 20,1 94,0 26-4-2010
2011 11,4 89,0
16,2
86,0 20,5 94,0 29-4-2011
2012 11,4 89,8
19,1
86,0 26,9 52,0 25-4-2012
Ghi chú: I = Ba tháng không có ruồi trưởng thành vào bẫy (tháng 12, 1 và 2) ; II = Thời gian
46 ngày trước khi ruồi trưởng thành vào bẫy lần đầu tiên (dựa theo kết quả của bảng 3.11); III
= Thời gian khi trưởng thành vào bẫy lần đầu tiên.

Năm 2010 và năm 2012, nhiệt độ trung bình ở thời gian khi ruồi trưởng thành vào
bẫy lần đầu tiên chênh lệch khá lớn (6,8°C). Nhưng thời điểm trưởng thành ruồi đục quả

C.
Khoảng nhiệt độ này rất phù hợp cho hoạt động sống của ruồi đục quả Phương Đông.
Tuy vậy, số lượng cá thể trưởng thành của loài ruồi này vào bẫy dẫn dụ vẫn biến động
thất thường. Điều này khẳng định rằng nhiệt độ có tác động rõ ràng đến thời điểm xuất
hiện trưởng thành ruồi đục quả Phương Đông, nhưng không phải là yếu tố quyết định
số lượng của quần thể loài ruồi đục quả này ở các vườn quả tại Mộc Châu (Sơn La).
* Yếu tố cây thức ăn của pha sâu non
Tại Mộc Châu (Sơn La), quả các loài thực vật là thức ăn của pha sâu non ruồi đục
quả Phương Đông chín tập trung từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm. Trưởng thành ruồi đục

16
quả Phương Đông B. dorsalis cũng thường xuất hiện và tăng nhanh số lượng cá thể trong
cùng thời gian này. Trong một năm, trưởng thành ruồi đục quả Phương Đông vào bẫy dẫn
dụ thành hai đợt có số lượng cao. Đợt một có số lượng trưởng thành ruồi vào bẫy cao nhất
trong năm, thường quan sát được vào hạ tuần tháng 6, trùng với thời gian chín của quả
mận Tam Hoa, đào Mèo, vải và xoài. Đỉnh cao thứ hai trong năm về số lượng trưởng
thành ruồi đục quả Phương Đông vào bẫy là trung tuần tháng 9. Thời gian này tại vùng
Mộc Châu (Sơn La) là mùa chín của quả hồng (hình 3.16).

Đào
Mèo ĐCS Mơ

Mận Xoài Vải


quả bị hại đứng thứ hai (với 36,8%), tiếp đến là quả hồng không hạt có tỷ lệ quả bị
hại là 35,5%, quả xoài là 25% và quả mận Hậu là 17,6%. Diện tích trồng cây xoài và
cây mận lại nhiều hơn so với cây hồng và cây đào. Số lượng trưởng thành ruồi vũ hoá
từ quả đào Mèo bị hại trung bình 6,6 ruồi/quả. Số lượng này nhiều gấp 2,6 lần so với
số lượng trưởng thành ruồi vũ hoá từ quả xoài (với 2,47 ruồi/quả), gấp 3,1 lần so với
từ quả hồng Nhân Hậu (với 2,09 ruồi/quả) và gấp 3 - 6 lần so với từ quả hồng không
hạt, hay quả mận (chỉ với 1- 2 ruồi/quả).
6.58
2.09
1.91
2.47
1.76
42%
36.8%
35.5%
25%
17.6%
Đào Mèo
Hồng nhân hậu
Hồng không hạt
Xoài
Mận
TT/quả TLH%

Hình 3.17. Số lượng trưởng thành ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis vũ hoá từ
một quả của các loại quả khác nhau (Mộc Châu, Sơn La, 2012)
Như vậy, tỷ lệ quả bị hại và số lượng trưởng thành ruồi hoàn thành phát triển từ
một quả bị hại của ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis liên quan đến sự lựa chọn
loại thức ăn ưa thích. Clarke et al., (2005) cũng có nhận định tương tự khi nghiên cứu
ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis hại quả đu đủ và chôm chôm tại Hawaii. Theo

ruồi vào bẫy. Số lượng trưởng thành ruồi vào bẫy dẫn dụ trong các tháng 6 và tháng 7 ở xã
Lóng Luông nhiều hơn so với ở tiểu khu Cờ Đỏ (hình 3.18).
0
10
20
30
40
50
60
70
T
1
T

3
T

5
T

7
T

9
T

1
1
T



9
T

1
1
Tháng
Số ruồi (con/bẫy)
Luóng luông Cờ đỏ

Hình 3.18. Diễn biến số lượng trưởng thành ruồi đục quả thu được trong bẫy dẫn dụ
tại xã Lóng Luông và tiểu khu Cờ Đỏ (Mộc Châu, 2010 - 2012)
Tại tiểu khu Cờ Đỏ, hàng năm số lượng trưởng thành ruồi vào bẫy cũng thường bắt
đầu từ hạ tuần tháng 4, song số lượng trưởng thành ruồi thu được trong bẫy ở tháng 4
trung bình là 4,7 con/bẫy luôn cao hơn 1,8 con/bẫy ở Lóng Luông. Trong cả ba năm
nghiên cứu, thời gian tháng 4 - tháng 5, tháng 8 - tháng 10 ở tiểu khu Cờ Đỏ luôn có nhiều
trưởng thành ruồi đục quả Phương Đông vào bẫy dẫn dụ. Trong các tháng 6, tháng 7, số
lượng trưởng thành ruồi vào bẫy ở tiểu khu Cờ Đỏ lại thấp hơn so với số lượng trưởng
thành ruồi vào bẫy dẫn dụ ở xã Lóng Luông (hình 3.18).
Sự khác nhau về biến động số lượng trưởng thành ruồi vào bẫy hàng tháng
trong các năm nghiên cứu có thể do khác nhau về thành phần loại quả thực vật làm
thức ăn cho sâu non và sự hiện diện của loại quả ưa thích. Tại xã Lóng Luông, diện
tích trồng cây đào nhiều nhất toàn huyện. Khi quả đào chưa chín, quả của các cây
thực vật khác làm thức ăn cũng không phong phú. Vì vậy, số lượng trưởng thành ruồi
vào bẫy ít hơn so với ở tiểu khu Cờ Đỏ. Khi quả đào chín sinh lý (thường vào tháng
5) là lúc số lượng trưởng thành ruồi ở trong vườn ít do đó mật độ ruồi đục quả trong

18
quần thể chưa cao. Ruồi đục quả Phương Đông cần 32,53 ngày để hoàn thành vòng
đời. Do đó, sang tháng 6, ruồi đục quả Phương Đông mới tích luỹ được quần thể và 0
10
20
30
40
50
60
70
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Thời gian
trong năm
Số lượng ruồi
(con/bẫy)
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Hình 3.19. Diễn biến số lượng trung bình trong ba năm của trưởng thành ruồi đục quả
Phương Đông B. dorsalis vào bẫy dẫn dụ tại xã Lóng Luông (Mộc Châu, 2010 - 2012)
Ghi chú: ĐM: đào mèo; M: mận; ĐCS: đào chín sớm
Tại tiểu khu Cờ Đỏ, diện tích trồng cây đào Mèo ít hơn và trồng rải rác không
thành khu vực lớn như tại xã Lóng Luông. Khối lượng thức ăn là quả đào Mèo không
nhiều, nên dù ở chính vụ chín của quả đào Mèo nhưng đỉnh cao số lượng trung bình
trưởng thành ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis trong các năm nghiên cứu tại đây
đều thấp hơn so với ở xã Lóng Luông (hình 3.20)

Hồng


Số lượng ruồi
(con/bẫy)
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Hình 3.20. Diễn biến số lượng trung bình của trưởng thành ruồi đục quả Phương Đông B.
dorsalis vào bẫy tại tiểu khu Cờ Đỏ (Mộc Châu, 2010 - 2012)
Ghi chú: ĐCS: Đào chín sớm
19
Theo dẫn liệu trong ba năm nghiên cứu (2010-2012), các tháng 4, tháng 5,
tháng 8, tháng 9 và tháng 10 có số lượng trưởng thành ruồi đục quả Phương Đông
vào bẫy dẫn dụ ở trong vườn tại tiểu khu Cờ Đỏ luôn cao hơn so với ở xã Lóng
Luông (hình 3.21). Nguyên nhân do những tháng này là mùa chín của các loại quả
khác (như đào chín sớm, mận, vải, hồng ) mà sâu non ruồi đục quả Phương Đông
sử dụng làm thức ăn. Điều này càng minh chứng thêm tác động đến diễn biến số
lượng ruồi đục quả Phương Đông của sự đa dạng thành phần loại quả thực vật làm
thức ăn cho sâu non. Như vậy, cơ cấu cây ăn quả ở vùng Mộc Châu (Sơn La) đã có
ảnh hưởng đến biến động số lượng trưởng thành ruồi đục quả Phương Đông B.
dorsalis vào bẫy dẫn dụ. Sự phát sinh ruồi đục quả Phương Đông ở khu vực trồng
thuần cây đào Mèo đơn giản hơn so với khu vực trồng tạp cây ăn quả. Tuy nhiên, ở
cả hai khu vực nghiên cứu đều thể hiện rõ vai trò của mùa chín quả đào Mèo đến
biến động số lượng ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis trong năm tại Mộc Châu
(Sơn La). Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu trên các cây ăn quả khác của Lê
Thị Điểu và Nguyễn Văn Huỳnh (2009) và Nguyễn Thị Thanh Hiền và nnk. (2012),
Roger Vargas et al.(1990), Amice và Sales (1996), Hui Ye và Jian (2005).
0
10
20

quản lý ruồi đục quả Phương Đông ở khu vực này cần thiết ngăn chặn ngay từ khi nó
mới phát sinh và cần thực hiện trên diện tích cả vùng sản xuất. Có như vậy mới hạn
chế được sự di cư cũng như khả năng tích luỹ quần thể ruồi đục quả Phương Đông
trong những tháng tiếp theo của năm. Nghiên cứu biện pháp phòng chống ruồi đục
quả Phương Đông hại quả đào Mèo được thực hiện tại xã Lóng Luông huyện Mộc
Châu (Sơn La) vì đây là địa điểm có diện tích trồng cây đào tập trung và bằng một
nửa diện tích trồng cây của toàn huyện Mộc Châu.
3.4.1. Xác định thời điểm phòng trừ
Khảo sát các vườn đào Mèo qua nhiều năm cho thấy quả đào xanh có tỷ lệ quả
bị ruồi gây hại là 0%. Tỷ lệ quả bị ruồi gây hại sẽ tăng theo giai đoạn phát triển của
quả. Thời điểm quả đào mèo bị hại đợt đầu là giai đoạn vỏ quả bắt đầu chuyển màu từ
xanh sang vàng, khi vỏ quả có màu hồng hoặc đỏ thì tỷ lệ quả đào mèo bị nhiễm ruồi
đục quả Phương Đông cao hơn và xu hướng tăng dần theo mức độ chín của quả. Tỷ
lệ quả đào mèo bị ruồi đục quả Phương Đông gây hại ở các công thức thu mẫu theo
mức độ chín của quả đào các năm 2007, 2008, 2009 và 2011 khác nhau rất rõ ở mức
có ý nghĩa (P<0,05%). Tỷ lệ quả bị ruồi gây hại ở giai đoạn vỏ vàng xanh chỉ là 1,7 -
5,3% đã tăng lên 22,7 - 48,3% khi vỏ quả chuyển sang màu vàng, tăng lên 34,0 -
72,7% khi vỏ quả có màu vỏ phớt hồng, đạt từ 57,3 đến 79% ở khi quả có vỏ màu
hồng và tỷ lệ quả bị hại cao nhất là khi vỏ quả có màu đỏ hồng (từ 69 đến 86,7%)
(bảng 3.19)
Bảng 3.19. Tỷ lệ quả đào mèo bị ruồi đục quả gây hại theo cấp độ chín với màu vỏ
khác nhau (Mộc Châu, Sơn La, 2007- 2011)
Năm
Công thức thí nghiệm

Ghi chú
1
2
3
4

2,7 d

48,3 c72,7 ab

73,3 ab

84,7 a

LSD
0,05
= 16,1;
CV% = 19,3
2011 0 e

1,7 d

22,7 c 34,0 c 57,3 a 69,0 a

LSD
0,05
= 11,5;
CV% = 20,9
Ghi chú: CT: công thức; số mẫu quả thu = 100 quả
Công thức 1: Quả vỏ màu xanh Công thức 4: Quả vỏ màu vàng phớt hồng
Công thức 2: Qủa có vỏ màu xanh vàng Công thức 5: Quả vỏ màu hồng
Công thức 3: Quả vỏ màu vàng


vỏ xanh vỏ xanh vỏ xanh vỏ xanh vỏ xanh vỏ xanh
vàng
vỏ xanh
vàng
vỏ hồng vỏ hồng vỏ đỏ
hồng
vỏ đỏ
hồng
Màu vỏ quả
Con/bẫy
0
10
20
30
40
50
60
70
80
TLH (%)
Ruồi/bẫy năm 2010 Ruồi/bẫy năm 2011
Ruồi/ bẫy năm 2012
TLH % 2010 TLH % 2011 TLH % 2012

Hình 3.22. Diễn biến số lượng ruồi trưởng thành vào bẫy dẫn dụ và tỷ lệ quả đào mèo
bị hại (Mộc Châu, 2010 - 2012)

Ghi chú: TLH= Tỷ lệ hại

3.4.2. Biện pháp quản lý ruồi đục quả Phương Đông B. dorsalis theo hướng tổng

Công thức 2
Công thức 3

0
2
4
6
8
10
12
1
6
/
4
2
3
/
4
3
0
/
4
7
/
5
1
4
/
5
2

Số ruồi/bẫy/ngày
Công thức 1
Công thức 2
Công thức 3
0
2
4
6
8
10
12
1
2
/
4
2
8
/
4
1
5
/
5
2
8
/
5
1
4
/

ngày 14/7/2011. Tại công thức 2, số lượng trưởng thành vào bẫy dẫn dụ đạt 0,3- 2
con/bẫy/ngày và cao nhất chỉ là 2 ruồi/bẫy/ngày vào ngày 14/7/2011 (hình 3.24).
Trong thí nghiệm năm 2012, công thức đối chứng ở đầu vụ quả đào có số
lượng ruồi trưởng thành vào bẫy dẫn dụ đạt dưới 4 ruồi/bẫy/ngày. Chỉ tiêu này tăng
dần và đạt đỉnh cao với 11,3 con/bẫy/ngày vào ngày 12/7. Khi hết vụ quả đào, số
lượng ruồi trưởng thành vào bẫy nhanh chóng giảm xuống còn 2,2 con/bẫy/ngày.
Công thức 1 và công thức 2 có số lượng ruồi trưởng thành vào bẫy dẫn dụ đạt ít hơn
nhiều so với công thức đối chứng và gần như nhau. Số lượng ruồi trưởng thành vào
bẫy dẫn dụ đạt cao nhất ở công thức 1 là 3,4 con/bẫy/ngày (ngày 12/7) và công thức 2
là 3,6 con/bẫy/ngày (ngày 5/7). Chỉ tiêu này ở công thức 1 và công thức 2 tương ứng
biến động trong phạm vi 0,1- 3,4 con/bẫy/ngày và 01- 3,6 con/bẫy/ngày (hình 3.25).
Tỷ lệ quả đào Mèo bị ruồi đục quả gây hại tăng dần từ đầu vụ tới cuối vụ và
đạt cao nhất là 11% ở công thức đối chứng. Công thức 1 và công thức 2 có quả bị hại
với tỷ lệ thấp hơn so với công thức đối chứng. Tỷ lệ quả bị hại cao nhất ở công thức 1
và công thức 2 tương ứng là 4 và 5 % (hình 3.26).
0
2
4
6
8
10
12
26/4 3/5 10/5 17/5
Ngày điều tra
Tỷ lệ hại (%)
Công thức 1
Công thức 2
Công thức 3
0
10
20
30
40
50
60
70
7/5 14/5 21/5 28/5 5/6 12/6 20/6 28/6 5/7
Ngày điều tra
Tỷ lệ hại (%)
Công thức 1
Công thức 2
Công thức 3

0
20
40
60
80
100
15/5 23/5 28/5 6/6 14/6 21/6 28/6 5/7 12/7
Ngày điều tra
Tỷ lệ hại (%)
Công thức 1
Công thức 2
Công thức 3

Hình 3.27. Tỷ lệ quả đào mèo bị hại tại các
công thức thí nghiệm năm 2011


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status