ĐẠI HỌC HUẾ
Trường Đại học Kinh tế
Học phần: Kinh tế lâm nghiệp (N01)
Chuyên đề:
Đa dạng sinh học ở Việt Nam
Nhóm thực hiện: Gi ảng viên
1. Nguyễn Văn Pháp Trần Đoàn Thanh
Thanh
2. Nguyễn Thị Diệu Hương
3. Lê Hữu Đại
4. Lò Thị Chuyên
5. Ngô Lệ Hồng Ngân
6. Nguyễn Thanh Quỳnh
7. Phạm Văn Nam
8. Doãn Thị Hồng
9. Nguyễn Thảo Thanh
10.Phan Hành
Huế, 05/2011
Mục lục
MỤC LỤC
MỤC LỤC....................................................................................................................2
I. PHẦN MỞ ĐẦU......................................................................................................5
1.1 Khái niệm về đa dạng sinh học....................................................................5
1.2 Các giá trị của đa dạng sinh học.................................................................5
1.3 Cơ sở hình thành đa dạng sinh học ở Việt Nam.........................................6
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU...................................................................................8
1. SỰ ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM.............................................................8
1.1. Đa dạng Gen di truyền...............................................................................8
1.1.1 Định nghĩa...........................................................................................8
1.1.2 Tính đa dạng gen ở mức độ của các nhóm sinh vật.............................9
1.1.3 Đa dạng nguồn gen ở Việt Nam.......................................................10
3.2.9. Mâu thuẫn trong các chính sách.......................................................34
4. BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM..............................................35
4.1 Tình hình bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam.......................................35
4.1.1. Bảo tồn gen động vật hoang dã ở Việt Nam......................................35
4.1.2. Bảo tồn loài ở Việt Nam....................................................................35
4.1.3. Các khu bảo tồn tại Việt Nam...........................................................36
4.2 Giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam.......................................38
Mục lục
4.2.1. Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên....................................38
4.2.2. Tăng cường quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh
học...............................................................................................................38
4.2.3. Đào tạo phát triển nguồn nhân lực, nâng cao kiến thức và kỹ năng về
bảo tồn.........................................................................................................39
4.2.4. Đẩy mạnh công tác Thông tin - Giáo dục - Truyền thông và thu hút
cộng đồng tham gia vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học:......................40
4.2.5. Tăng cường hợp tác quốc tế:.............................................................41
III. KẾT LUẬN..........................................................................................................42
Mục lục
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Khái niệm về đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học (tiếng Anh: biodiversity) được định nghĩa là sự khác nhau giữa
các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, sinh thái trong đại
dương và các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật
là một thành phần trong đó. Thuật ngữ đa dạng sinh học này bao hàm sự khác nhau
trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái khác nhau
Ða dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, về giống, loài sinh vật và hệ sinh
thái trong tự nhiên".
Ða dạng sinh học được xem xét theo 3 mức độ:
- Ða
dạng sinh học ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến
hơn 3260 km.
Địa hình Việt Nam khá đa dạng, trong đó 3/4 là diện tích đồi núi và cao nguyên.
Khối núi cao nhất là dãy Hoàng Liên Sơn, phân chia Bắc Bộ làm hai phần Tây Bắc và
Đông Bắc có điều kiện sinh thái khác biệt nhau, tiếp dến là dãy Trường Sơn kéo dài
chạy suốt từ Trung Bộ đến vùng cực nam nối tiếp với đồng bằng Nam Bộ. Vùng Bắc
Bộ, khu vực Đông Bắc hình vòng cung chạy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, độ cao
trung bình 1000m, chỉ ở đầu nguồn sông Lô, song Gâm mới có những đỉnh núi cao trên
2000m. Vùng núi Tây Bắc có những đỉnh núi cao nhất nước, độ cao trung bình 2000m,
cao nhất là đỉnh Phan Xi Păng, thuộc dãy Hoàng Liên Sơn cao 3143m, Hướng núi chủ
yếu là Tây Bắc – Đông Nam, giống như mái nhà khổng lồ dốc xuống phái đồng bằng
song Hồng. Vùng núi Bắc Bộ và Trung Bộ có nhiều dãy núi đá vôi với nhiều hang động.
Khoảng giữa dãy Trường Sơn là vùng núi trung bình,có độ cao trung bình từ 800 –
1000m. Vùng cao nguyên trung phân là vùng đồi đát xám Đông Nam Bộ. Một phần tư
diện tích con lại là vùng đồng bằng với hai đồng bàng châu thổ lớn là Đồng bằng Sông
Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, ở giữa là dãi đồng bằng nhỏ hẹp duyên hải miền
Trung.
Hệ thống sông ngòi Việt Nam dày đặc, chỉ tính những con song dài trên 10km đã
có trên 2500 sông. Trung bình cứ cách 20km lại có một con sông đổ ra biển, một vài con
sông ở phía bắc đổ về phía Trung Quốc và một số ở cao nguyên miền Trung đổ ra lưu
vực của sông Mê Kông. Phần lớn các con sông đều dốc mạnh, nước chảy xiết, nhiều
ghềnh thác.
Lượng mưa trung bình 1.700 -1.800 mm/năm. Ở miền núi có nơi trên 3000mm. có
vài nơi lượng mưa chỉ có 500mm. Độ ẩm không khí tương đối lớn, khoảng 80%. Số
ngày mưa nhiều, trung bình trên 100 ngày/năm, có nơi lên đến 150 ngày/năm. Do ảnh
hưởng của của chế độ gió mùa nên lượng mưa phân bố không đều, hình thành 2 mùa,
mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa kéo dài 6-7 tháng/năm, lượng mưa mùa này chiếm 80-
85% lượng mưa cả năm
Mục lục
Mặc dù nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, song vì vị trí địa lý kéo dài lại ảnh
hưởng của độ cao, địa hình nên khí hậu không đồng nhất trong cả nước. Nhiệt độ trung
quan trọng của biến dị gen là rất rõ ràng: nó tạo ra sự thay đổi tiến hoá tự nhiên cũng
như chọn lọc nhân tạo .
Chỉ một phần nhỏ (thường nhỏ hơn 1%) vật chất di truyền của các sinh vật bậc cao
là được biểu hiện ra ngoài thành các tính trạng kiểu hình hoặc chức năng của sinh vật;
vai trò của những ADN còn lại và tầm quan trọng của các biến dị gen của nó vẫn chưa
được làm rõ.
Ước tính cứ 109 gen khác nhau phân bố trên sinh giới thì có 1 gen không có đóng
góp đối với toàn bộ đa dạng di truyền. Đặc biệt, những gen kiểm soát quá trình sinh hóa
cơ bản, được duy trì bền vững ở các đơn vị phân loại khác nhau và thường ít có biến dị,
mặc dù những biến dị này nếu có sẽ ảnh hưởng nhiều đến tính đa dạng của sinh vật. Đối
với các gen duy trì sự tồn tại của các gen khác cũng tương tự như vậy. Hơn nữa, một số
lớn các biến dị phân tử trong hệ thống miễn dịch của động vật có vú được quy định bởi
một số lượng nhỏ các gen di truyền.
Mục lục
1.1.2 Tính đa dạng gen ở mức độ của các nhóm sinh vật
1.1.2.1 Sự đa dạng gen ở động vật
Đối với các dữ liệu allozyme tức là trị số trung bình của dị hợp tử (Hs tỉ lệ các
locus mang 2 alen) ở loài động vật không xương sống lớn hơn động vật có xương sống.
Lí do chính là nhiều nhóm cá thể phức tạp sống có xu hướng chia nhỏ quần thể hơn và
những quần thể lớn hơn là một tổ hợp. Những quần thể lớn sự biến đổi di truyền lớn
hơn quần thể nhỏ.
Nhìn chung, như chim, bò sát có mức độ biến đổi di truyền là tương tự, trái lại các
loài lưỡng cư có mức độ cao hơn và các loài cá mức độ thấp hơn (Ward et al, 1992).
Trong mỗi một nhóm cho dù mức độ đa dạng gen có khác nhau do các mô hình lịch sử
và đời sống đã tạo ra các dòng gen và độ lớn của quần thể khác nhau.
Tổng số dị hợp tử trong các loài bao gồm 2 thành phần: Sự khác nhau về gen giữa
các cá thể trong quần thể và sự khác nhau giữa các quần thể. Số đo thông thường đã sử
dụng về sự khác nhau trong quần thể là Fst, tỉ số của dị hợp tử khác nhau giữa các quần
thể. Giá trị trung bình của Fst là lớn nhất đối với một số động vật thân mềm, lưỡng cư,
bò sát và động vật có vú; hầu hết các loài trong các nhóm đó cho thấy con số đáng kể
cải tạo những đặc tính ở các loài thực vật bản xứ.
1.1.2.3. Sự đa dạng gen ở các cơ thể sống khác
Quy mô của đa dạng gen trong nhóm, những nghiên cứu về các loài thực vật và
động vật không thể ước tính chính xác trong cùng một lúc mặc dù đã biết chắc quy mô
đa dạng ở nấm và vi sinh vật nói riêng là đáng kể. Thí dụ sự khác nhau về mặt di truyền
đã chứng minh trong những loài vi sinh vật đơn lẻ như Chlamydomonas reinhardtii với
ít nhất 159 dòng biến đổi, Neurospora crassa trên 3000 và trên 3500 kiểu huyết thanh
của Salmonella (Board on Agriculture, 1994). Quy mô lan rộng trong tự nhiên là không
chắc chắn.
1.1.3 Đa dạng nguồn gen ở Việt Nam
Việt Nam cũng được coi là một trong 12 trung tâm nguồn gốc, giống cây trồng của
thế giới với 16 nhóm cây trồng và trên 800 loài khác nhau. Ngân hàng gen cây trồng
Quốc gia đang bảo tồn 12.207 giống của 115 loài cây trồng, trong đó có nhiều giống bản
địa với nhiều đặc tính quý mà duy nhất chỉ có ở Việt Nam.
Chương trình, mạng lưới quỹ gen được hình thành bảo tồn lưu giữ hơn 17.000 nguồn
gen của 200 loài cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây lâm nghiệp, cây nguyên
liệu, cây dược liệu và một số loài cây trồng khác.
Bằng các phương pháp bảo tồn khác nhau như: Tại chỗ, chuyển chỗ đã thu thập
3.273 kiểu di truyền cây cao su; 42 loài cây rừng và cây nguyên liệu giấy; bảo tồn tại
chỗ 905 nguồn gen và chuyển vị 175 loài cây dược liệu, trong đó có 26 loài quý hiếm có
nguy cơ tuyệt chủng. 70 giống vật nuôi và gia cầm đang ở trạng thái nguy hiểm; 38
dòng thuộc 26 loài cá nuôi kinh tế và 3 loài ong quý đang được bảo tồn và lưu giữ.
2.016 chủng nấm, vi khuẩn, vi sinh vật dùng trong các lĩnh vực công nghiệp-thực phẩm,
Mục lục
y dược, chăn nuôi, thú y, thủy sản và nông nghiệp được phân loại và lưu giữ.
Hiện tại, trên 30% các nguồn gen đang bảo tồn được đánh giá ban đầu về các chỉ
tiêu sinh học và khoảng 5-10% nguồn gen được đánh giá chi tiết và đánh giá di truyền.
Hàng năm chương trình cung cấp khoảng 1.000 lượt vật liệu di truyền và mẫu giống
phục vụ chương trình giống, các đề tài nghiên cứu khoa học và phục vụ đào tạo.
1.2 Đa dạng về loài
Trên phạm vi toàn thế giới còn cần rất nhiều nổ lực để có thể hoàn thiện được
danh mục đầy đủ các loài. Mỗi năm các nhà phân loại trên thế giới mô tả được khoảng
11.000 loài (chiếm từ 10 đến 30% các loài có trên thế giới), và như vậy, để có thể mô tả
hết các loài trên thế giới (ước tính 10 đến 30 triệu loài) dự kiến phải tốn từ 750 năm đến
2.570 năm, trong khi đó có nhiều loài đa bị tuyệt chủng trước khi chúng được mô tả và
đặt tên.
Xét về đa dạng loài một cách cụ thể, ta có thể xem xét đa dạng loài theo các nhóm
sinh vật. Như vậy, ta sẽ có: đa dạng vi sinh vật, tảo, thực vật không mạch, thực vật có
mạch, côn trùng, động vật không xương sống, động vật có xương sống (xem bảng 2.1).
Môi trường giàu có nhất về số lượng loài có lẽ ở các rừng nhiệt đới, rạn san hô,
các hồ lớn ở vùng nhiệt đới và ở các biển sâu. Trong các rạn san hô, và các biển sâu, sự
đa dạng sinh học thuộc nhiều ngành và lớp khác nhau. Sự đa dạng trong các biển sâu
nhờ vào diện tích lớn, tính ổn định của môi trường cũng như vào sự biệt hoá của các
loại nền đáy khác nhau.
Đa dạng loài lớn nhất là ở vùng rừng nhiệt đới. Mặc dù rừng nhiệt đới chỉ chiếm
7% diện tích trái đất, chúng chứa hơn 1/2 loài trên thế giới. Khoảng 40% loài thực vật
có hoa trên thế giới (100.000 loài) ở vùng nhiệt đới, trong khi 30% loài chim trên thế
giới phụ thuộc vào những khu rừng nhiệt đới.
Bảng 2.1. Thành phần các loài
Loài Số lượng
Côn trùng 751000
Sinh vật đơn bào 30000
Thực vật 248500
Mục lục
Tảo 26900
Nấm 69000
Vi khuẩn 4800
Virus 1000
Động vật khác 281000
[Nguồn: Nguyễn Nghĩa Thìn ]
Vi rút 1 Giun tròn 12.2
Vi khuẩn 1 Giun đốt 12
Thực vật đơn bào 4.76 Thân mềm 50
Nấm 70 Da gai 60
Tảo 26.9 Chân khớp 874.16
Địa y 18 Côn trùng 751
Rêu 22 Động vật có bao 1.25
Dương xỉ 12 Động vật đầu sống 23
Thông đất 1.275 Cá không hàm 63
Thực vật hạt trần 750 Cá sụn 843
Thực vật hạt kín 250 Cá xương 18.15
Động vật nguyên sinh 30 Lưỡng cư 4.2
Thân lổ 5 Bà sát 6.3
Ruột khoang & Sứa lược 9 Chim 9.6
Giun dẹp 12.2 Thú 4.17
Bảng 2.3: Đánh giá số loài đã được mô tả (Lecointre and Guyader, 2001)
Bậc phân loại Tên thường gọi Số loài mô tả
% số loài đã
được mô tả
Bacteria Vi khuẩn 9.021 0,50
Archaea Vi khuẩn cổ 259 0,01
Bryophyta Rêu 15 0,90
Lycopodiophyta Thông đất 1.275 0,07
Filicophyta Dương xỉ 9.5 0,50
Mục lục
Coniferophyta Ngành Thông 601 0,03
Magnoliophyta Thực vật hạt kín 233.885 13,40
Fungi Nấm 100.8 5,80
"Porifera" Bọt biển 10 0,60
Cnidaria Ruột khoang 9 0,50
- Biển 667 10000 6.70%
3.Thực vật bậc cao khoảng 11400 220000 5%
- Rêu 1030 22000 4.60%
- Nấm lớn 826 50000 1.60%
4.Động vật không xương
sống ở nước
- Nước ngọt 794 80000 1%
- Biển Khoảng 7000 220000 3.20%
5.Động vật không xương
sống ở đất Khoảng 1000 30000 3.30%
6.Giun sán ký sinh ở gia
súc 161 1600 10%
7.Côn trùng 7750 250000 3.10%
8.Cá
- Nước ngọt Trên 700
- Biển 2458
9.Bò sát 296 6300 4.70%
Bò sát biển 21
10.Lưỡng cư 162 4184 3.80%
11.Chim 840 9040 9.30%
12.Thú 310 4000 7.50%
Mục lục
Thú biển 25
(Nguồn: Cục bảo vệ môi trường, Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, Cục bảo
vệ và phát triển Nguồn lợi Thuỷ sản, Phạm Bình Quyền, 2005)
1.3 Đa dạng hệ sinh thái
Việt nam có rất nhiều hệ sinh thái, đa dạng cả về chủng loài lẫn phân bố, bao gồm
cả hệ sinh thái trên biển, dưới long đại dương, hệ sinh thái trên cạn…
Nhưng trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ tập trung vào tìm hiểu các hệ sinh
thái rừng ở Việt Nam.